Nghiên cứu một số giải pháp quy hoạch cải tạo hệ thống thoát nước nhằm cải thiện điều kiện vệ sinh sông hồ ở các đô thị Việt Nam (Lấy sông Sét - Thành phố Hà Nội làm ví dụ)
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ Xây dựng
Trường Đại học kiến trúc hμ nội
Mai thị liên Hương
Nghiên cứu một số giải pháp quy hoạch cải tạo
hệ thống thoát nước nhằm cải thiện điều kiện
vệ sinh sông hồ ở các đô thị Việt nam
(lấy sông sét - thμnh phố hμ nội lμm ví dụ)
Chuyên ngμnh: Qui hoạch không gian vμ xây dựng đô thị
M∙ số: 2.17.05
tóm tắT luận án tiến sĩ kiến trúc
hμ nội - 2006
Trang 2Công trình được hoμn thμnh tại
Trường đại học kiến trúc hμ nội
1 PGS TS Hoàng Văn Huệ
2 PGS TS Trần Đức Hạ
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Lân
Phản biện 2: PGS.TS Trần Đình Khai
Phản biện 3: TS Trịnh Xuân Lai
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ
Kiến trúc cấp Nhà nước họp tại Trường Đại học Kiến trúc Hà
Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2006
Có thể tìm luận án tại:
Thư viện quốc gia Thư viện Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
công trình công bố liên quan tới luận án
1 Mai Thị Liên Hương(1999), Xử lý sinh hoá nước thải bằng giếng trục sâu
(Deepshaft) một công nghệ mới đạt hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, Tạp chí
Cấp thoát nước, tr.34-37
2 Mai Thị Liên Hương(2004), Hệ thống nước Hà Nội, một số nhận xét và đề
xuất, Báo Xây dựng (số 60), tr.5
3 Mai Thi Lien Huong, DHKT;Do Thanh Bai, MSc, CECS; Bui Ngoc Khoa, MSc, CECS; Mr Keiichi Takao, Toyo Denka Koggyo, Japan; Mr Yashiro Kobayashi, ICETT, Japan(2004), “First studies on application of new Japanesse Technologogy natural eirculation system for wastewater
treatment (NCSWT) in Viet Nam”, Viet Nam - Korea worshop on
envinronment technology in water pollution prevention Ha Noi,
pp.186-200
4 Mai Thị Liên Hương(2006), Một số giải pháp cải thiện chất lượng nước hồ
Hà Nội, Tạp Chí Xây dựng (số 6), tr.42 - 44
Trang 31
Phần A: Giới thiệu luận án
1 đặt vấn đề
Sông hồ là nét đặc sắc không thể thiếu trong kiến trúc đô thị, bởi nó
không chỉ tạo cảnh quan sinh thái mà còn có tiềm năng lớn trong các lĩnh vực
văn hoá, lịch sử, thể thao Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm các sông hồ ở Việt Nam
đang ngày càng gia tăng do phải nhận trực tiếp nước thải sinh hoạt, nước thải
sản xuất, nước thải bệnh viện vàmột phần chấtthải rắn không qua xử lý Nhiều
sông hồ có hàm lượng các chất ô nhiễm theo SS, BOD, COD đã vượt quá quy
định cho phép từ 5-10 lần, có nơi vượt trên 20 lần Các đô thị Việt Nam, vào
mùa mưa thường xuyên bị ngập úng, chỉ tiêu cống thoát nước tính trên đầu
người rất thấp so với các nước trên thế giới (< 2,0 m/người) [57] Nhìn chung,
cống thoát nước có kích thước bé, độ dốc nhỏ, cấu tạo chưa thật hợp lý, việc
quy hoạch, bố trí các tuyến cống còn nhiều bất cập
Theo Quyết định số 35/1999/QĐ-TTg ngày 5-31999 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt định hướng phát triển thoát nước đô thị Việt Nam
đến năm 2020, trong đó các đô thị sẽ từng bước xoá bỏ tình trạng ngập úng
thường xuyên trong mùa mưa, sẽ có HTTN với công nghệ xử lý phù hợp, đảm
bảo vệ sinh môi trường, phạm vi phục vụ mở rộng từ 50 - 60% lên 80 - 90% [8]
Riêng đối với thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các đô thị loại I, đô
thị nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp và khu chế xuất thì
phạm vi bao phủ của HTTN sẽ được tăng lên 90 -100% [8]
Để đạt được mục tiêu trên đồng thời giảm thiểu tình trạng ô nhiễm sông, hồ
trong các đô thị, cần thiết phải nghiên cứu một cách có hệ thống về các giải pháp quy
hoạch cải tạo thoát nước, từ đó đưa ra các đề xuất phù hợp với thực tế ở nước ta
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp quy hoạch cải tạo hệ
thống thoát nước nhằm cải thiện điều kiện vệ sinh sông hồ ở các đô thị Việt
Nam” là hướng nghiên cứu phù hợp với chiến lược phát triển thoát nước và vệ
sinh môi trường đô thị Việt Nam, góp phần giải quyết một trong những vấn đề bức
xúc về bảo vệ môi trường đô thị hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
1- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quy hoạch xây dựng và cải tạo
hệ thống thoát nước đô thị phù hợp với điều kiện Việt Nam
2- Lựa chọn các công nghệ xử lý nước thải và giải pháp kỹ thuật
thích hợp nhằm cải thiện điều kiên vệ sinh các sông hồ đô thị
3- áp dụng thí điểm kết quả nghiên cứu quy hoạch cải tạo hệ
thống nước thải lưu vực sông Sét thuộc địa bàn thành phố Hà Nội
2
3 Những đóng góp mới của luận án
- Xác định rõ mối quan hệ giữa thoát nước và điều kiện vệ sinh sông
hồ đô thị, làm sáng tỏ một số vấn đề trong quy hoạch cải tạo mạng lưới thoát nước phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của các đô thị Việt Nam
- Đề xuất một số tiêu chí quy hoạch, thiết kế cống bao gom nước thải, cấu tạo giếng tràn tách nước và một số công trình xử lý nước thải phù hợp với
điều kiện đô thị Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu dùng để tham khảo khi thiết kế cải tạo mạng lưới thoát nước cho các đô thị khác trong cả nước
4 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận và kiến nghị, luận án gồm 4 chương
- Chương I: Tổng quan 38 trang
- Chương II: Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và cơ sở lý luận 30 trang
- Chương III: Kết quả nghiên cứu và bàn luận 35 trang
- Chương IV: Nghiên cứu áp dụng các giải pháp quy hoạch cải tạo
hệ thống thoát nước lưu vực sông Sét thành phố Hà Nội 32 trang
Luận án gồm : 137 trang, 13 bảng, 6 biểu đồ, 37 hình vẽ, 30 trang phụ lục, 124 tài liệu
tham khảo ( trong đó 95 tài liệu tiếng Việt, 29 tài liệu tiếng Anh)
Phần B: Nội dung luận án
chương 1: tổng quan
1.1 Tình hình thoát nước và vệ sinh sông hồ của một số đô thị trên thế giới
Qua khảo sát tình hình thoát nước và vệ sinh sông hồ trong đô thị của một số nước trên thế giới ( Nhật, Liên Xô cũ, Đức, Thái Lan, Singapore ) có thể thấy rằng:
- Tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình, địa chất thuỷ văn, khả năng về tài chính mà
có nhiều mô hình thoát nước mưa, nước thải, thu gom và xử lý nước thải khác nhau
- Hầu hết các đô thị vẫn sử dụng tối đa địa hình tự nhiên để thoát nước mưa
và nước thải, kế thừa và sử dụng lại các hệ thống thoát nước hiện có để giảm giá thành đầu tư, từng bước hiện đại hoá hệ thống thoát nước và xử lý nước thải phù hợp với điều kiện kinh tế, mục đích cuối là giảm ô nhiễm môi trường, nâng cao điều kiện sống của nhân dân Có thể tóm lược quá trình phát triển kỹ thuật nước bằng một số nét chủ yếu sau:
Trang 43
1.2 Thực trạng thoát nước và vệ sinh sông hồ một số đô thị ở Việt Nam
Theo niên giám thống kê tháng 10 năm 2005 mạng lưới đô thị Việt
Nam gồm 718 đô thị, trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt, 3 đô thị loại 1, 13 đô thị
loại 2, 23 đô thị loại 3, 54 đô thị loại 4 và 622 đô thị loại 5, 93 thành phố và thị
xã, 622 thị trấn
Hiện nay, HTTN ở các đô thị Việt Nam là hệ thống thoát nước chung
Phần lớn những hệ thống này được xây dựng cách đây khoảng 100 năm, chủ
yếu giải quyết vấn đề thoát nước mưa, ít khi được sửa chữa, bảo dưỡng nên đã
xuống cấp Việc xây dựng bổ sung được thực hiện một cách chắp vá, không
theo quy hoạch lâu dài, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đô thị Công tác
xây dựng HTTN triển khai không đồng bộ đã gây ra tình trạng ngập úng, ô nhiễm
môi trường ở tất cả các đô thị trong cả nước
Hệ thống thoát nước các đô thị xây dựng dựa trên địa hình tự nhiên, do
cống và mương có độ dốc thuỷ lực thấp nên tốc độ dòng chảy nhỏ dẫn đến tình
trạng lắng cặn trong mương, cống, dẫn đến lắng cặn và tiết diện cống bị thu hẹp
làm cho dòng chảy thường bị tắc nghẽn
Nhìn chung, hệ thống mương, cống thoát nước của các đô thị Việt
Nam được xây dựng không đồng nhất các thành phố lớn như thành phố Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải Phòng, thành phố Đà Nẵng có mật
4
độ cống thoát nước 0,2 - 0,25m/người, các đô thị còn lại chỉ đạt 0,05 - 0,08m/người [11] Trong từng đô thị, mật độ cống thoát nước khác nhau, tại khu trung tâm (đặc biệt là các khu phố cũ), mật độ cống thoát nước thường cao hơn các khu vực mới xây dựng Tuy nhiên, nhiều đô thị gần như chưa có
HTTN, nhất là các thị xã tỉnh lỵ vừa được tách tỉnh
Theo kết quả quan trắc tại một số điểm của các hệ thống sông chính trên cả nước thấy hàm lượng BOD5 và NH4+ vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5-3 lần, hàm lượng coliform (MPN/100ml) từ 1,5 đến 6 lần Hệ thống hồ ao, kênh, rạch
và các sông là nơi tiếp nhận và vận chuyển nước của các khu công nghiệp, khu dân cư đang trong tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng (vượt quá mức tiêu chuẩn nguồn nước mặt loại B từ 5 đến 10 lần) Các hồ trong nội thành phần lớn ở trạng thái phú dưỡng, tái nhiễm bẩn hữu cơ Nếu không được quan tâm, nguy cơ ô nhiễm sẽ gia tăng
1.3 Tổ chức quản lý thoát nước các đô thị Việt Nam
Cho đến năm 2005, tổ chức quản lý, vận hành HTTN của các địa phương còn quá yếu kém Cả nước chỉ có 4 công ty thoát nước chịu trách nhiệm quản
lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng HTTN Đó là Công ty thoát nước Hà Nội, Công
ty thoát nước Hải Phòng, Công ty thoát nước thành phố Hồ Chí Minh và Công
ty thoát nước Bà Rịa - Vũng Tàu Đối với các đô thị còn lại, việc tổ chức các
đơn vị quản lý vận hành HTTN còn nhiều bất cập và do các công ty quản lý về
thoát nước, thu gom rác thải và các nhiệm vụ khác
1.4 Tình hình thực hiện công tác xây dựng và cải tạo hệ thống thoát nước
Trong quá trình xây dựng và cải tạo hệ thống thoát nước các đô thị Việt Nam có
đặc điểm sau:
- Về cấu trúc mạng + Trên cơ sở hệ thống thoát nước chung đã được xây dựng
+ Tiến hành phân chia lưu vực thoát nước phù hợp, cải tạo hệ thống mương, cống cũ, xây dựng và phát triển các tuyến cống thu gom mới, xây dựng các tuyến cống bao, giếng tách để thu nước thải về trạm xử lý
+ Tách nước thải thành mạng lưới thoát nước riêng: Xây dựng mới hệ thống cống thu gom nước thải riêng hoàn toàn với việc tách nước thải ngay từ các hố ga tại các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, dịch vụ
- Vấn đề thu gom nước thải
ở một số đô thị đã xây dựng hệ thống cống bao và giếng tách để thu gom nước thải sinh hoạt và các loại nước thải đô thị, như thành phố Hạ Long, thành phố Đà Nẵng, thành phố Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh Tại các đô thị này, trong quá trình nghiên cứu, thiết kế đã phân chia mạng lưới thoát nước thành nhiều lưu vực nhỏ, các tuyến cống thu gom được đặt dọc các nguồn tiếp nhận nước
Trang 55
- Xử lý nước thải
Hiện nay, một số đô thị đang xây dựng hoặc chuẩn bị xây dựng các
trạm XLNT Tuy nhiên, các trạm có công suất nhỏ, dây chuyền công nghệ tùy
thuộc vào địa hình đô thị, khả năng tài chính, vật tư, thiết bị của nhà tài trợ
1.5 Những vấn đề đặt ra khi nghiên cứu quy hoạch cải tạo hệ thống thoát nước
* Hệ thống thoát nước các đô thị Việt Nam là HTTN chung Hình thành từ
các cống thoát nước mưa, cùng với sự phát triển đô thị, các tuyến cống này thực
hiện cả nhiệm vụ thoát nước thải và nước mưa
Trong quá trình xây dựng và phát triển, do không có quy hoạch nên ở khu
đô thị cũ và khu đô thị mới không được xây dựng đồng bộ gây mất cân đối
trong các mạng cấp 1, cấp 2, cấp 3 Do đó, hiện nay HTTN toàn bộ các đô thị
không đủ khả năng tiêu thoát nước
* Quá trình đô thị hoá, mật độ dân cư tăng, rác và nước thải xả bừa bãi
đang làm cho diện tích mặt nước, độ sâu của các sông hồ giảm, tải lượng chất
bẩn gia tăng và nguồn nước bị ô nhiễm Điều đó đòi hỏi phải có các giải pháp
bảo vệ môi trường sông hồ đô thị một cách hữu hiệu
* Hệ thống thoát nước và XLNT ở Việt Nam chưa được xây dựng đồng
bộ các cơ sở kỹ thuật hạ tầng khác, quy hoạch xây dựng cải tạo HTTN cần
được tiến hành đồng thời và đầy đủ với quy hoạch chung xây dựng
* Việc quy hoạch, quản lý, xây dựng HTTN chưa hợp lý, sự phối hợp
giữa các ngành chưa chặt chẽ nên đã gây không ít khó khăn cho việc quản lý
HTTN và XLNT hiện nay
CHương 2: Đối tượng, phương pháp nghiên cứu vμ cơ sở lý luận
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là hệ thống thoát nước của các đô thị có sông, hồ
chảy qua ví dụ như: Thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải
Phòng
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các giải pháp quy hoạch xây dựng cải
tạo hệ thống thoát nước, xử lý nước thải để cải thiện vệ sinh sông hồ trong các
đô thị Việt Nam
Như vậy, luận án chỉ đề cập tới các đô thị đ∙ có hệ thống thoát nước và
có sông, suối, hồ, ao gắn kết với hệ thống thoát nước
2 2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về thoát nước và vệ sinh sông hồ đô thị
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quy hoạch xây dựng cải tạo hệ
thống thoát nước với bảo vệ vệ sinh sông hồ đô thị
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quy hoạch xây dựng cải tạo hệ thống thoát
nước nhằm cải thiện vệ sinh sông hồ đô thị phù hợp với điều kiện Việt Nam
6
- áp dụng thí điểm kết quả nghiên cứu quy hoạch cải tạo hệ thống thoát nước đó với lưu vực sông Sét thành phố Hà Nội
2.3 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra khảo sát
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp kế thừa, tổng hợp và phân tích các số liệu
- Phương pháp tổ chức hội thảo lấy ý kiến chuyên gia và các nhà quản lý
- Phương pháp kiểm chứng thực tế thông qua ví dụ thiết kế cải tạo tuyến thoát nước lưu vực sông Sét - thành phố Hà Nội
2.4 Định hướng thoát nước đô thị Việt Nam đến năm 2020
- Thiết lập một hệ thống hành chính tốt
- Cải tiến bộ máy quản lý của các doanh nghiệp nhà nước
- Tập trung các nguồn vốn nhằm phát triển hạ tầng cơ sở
- Phát triển đô thị đi đôi với xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật như giao thông liên lạc, cấp điện, cấp thoát nước, vệ sinh phân rác, bảo vệ môi trường
- Kết hợp cải tạo với xây dựng mới
2.5 Vai trò, chức năng của sông, hồ trong hệ thống thoát nước
Sông hồ trong đô thị đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thoát nước và bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên, yêu cầu sử dụng và vị trí, mỗi sông hồ có một chức năng riêng hoặc thực hiện tổng hợp tất cả các chức năng nêu dưới đây:
- điều hoà thoát nước mưa và thu gom nước thải [30]
- Xử lý sơ bộ nước thải và cải thiện vệ sinh môi trường đô thị [53]
- Tạo cảnh quan môi trường, điều hoà vi khí hậu
- Nuôi trồng thủy sản
- Giao thông đô thị
2.6 Khả năng tự làm sạch của nguồn nước và các yếu tố ảnh hưởng
Tự làm sạch nguồn nước là quá trình phục hồi lại trạng thái chất lượng nước ban đầu nhờ các quá trình thuỷ động học, vật lí, hoá học, sinh hoá diễn ra trong nguồn nước Đây là quá trình tổng hợp của các yếu tố tự nhiên Khả năng tự làm sạch của nguồn nước phụ thuộc vào một loạt điều kiện như thành phần, tính chất nước thải, đặc điểm hình thái và chế độ thuỷ động học của nguồn nước, đặc điểm khí hậu khu vực
Khi xả nước thải vào nguồn sự phân bố nồng độ chất bẩn theo chiều dài dòng chảy được biểu diễn theo sơ đồ.[ Hình 2.3]
Sự phân bố nồng độ chất bẩn trong khu vực bị ảnh hưởng của nước thải thay đổi theo 5 vùng [30]:
- Vùng I: Vùng xáo trộn nước thải với nước nguồn nhờ quá trình khuyếch tán
tạo tia (Cnt>C1max>C0)
- Vùng II: Vùng pha loãng nước thải nhờ sự khuếch tán chất bẩn trong dòng chảy theo 3
chiều (nếu độ sâu lớn) hoặc 2 chiều (nếu độ sâu bé) (Cmax>C)
Trang 67
- Vùng III: Vùng xáo trộn hoàn toàn nước thải nhờ sự khuyếch tán theo chiều Ox; nồng độ
chất bẩn tại mọi điểm của mặt cắt ngang dòng chảy như nhau (C3tb>C0)
- Vùng IV: Vùng phân huỷ hoặc chuyển hoá chất bẩn để phục hồi lại trạng thái
chất lượng nước ban đầu (C4tb – C0)
- Vùng V: Vùng chất lượng nước được phục hồi (C5<C0)[23]
Sự tự làm sạch nguồn nước được xem như là một sự tổng hợp của hai quá
trình: quá trình pha loãng nước thải với nước nguồn diễn ra tại các vùng I, vùng
II và quá trình phân huỷ, chuyển hoá chất bẩn chủ yếu diễn ra tại vùng III và
vùng IV của nguồn nước (Xem hình 2-3)
nước thải [23]
2.7 Các nguyên tắc qui hoạch xây dựng cải tạo hệ thống thoát nước
- Đảm bảo tính đồng bộ đối với đô thị, kiểm soát việc xây dựng lại hệ thống
đấu nối từ nhà dân ra HTTN bên ngoài
- Sử dụng HTTN chung đối với khu đô thị cổ và cũ, kiểm soát việc đấu nối
mới đối với các khu đô thị hoá đã ổn định thường có mạng lưới đường chật hẹp
- Sử dụng HTTN riêng cho khu đô thị mới hình thành
- Xây dựng bổ sung đối với các tuyến chính của các khu dân cư trù phú, phát
triển đô thị không theo qui hoạch nhưng đã ổn định
- Đảm bảo vệ sinh môi trường sông, hồ trong đô thị
8
- Tiết kiệm chi phí vận hành, hạn chế lắng đọng cặn trong cống
- Tận dụng được các cống cũ, thay cống hộp ở các đoạn mương trong nội thị tạo quỹ đất, tạo không gian thông thoáng và cảnh quan đô thị, quản lý dễ dàng
và xây dựng theo nhịp độ phát triển của đô thị
2.8 Một số kinh nghiệm quy hoạch cải tạo hệ thống thoát nước chung
2.8.1 Vai trò, vị trí cống bao gom nước thải
Cống bao gom nước thải có thể quy hoạch dọc theo các sông hồ để
đón nhận nước thải từ các cống trong các tiểu khu đổ ra và dẫn đi xử lý trước khi xả vào nguồn tiếp nhận
Tại những nơi gặp nhau của cống từ tiểu khu đổ ra và cống bao gom nước thải hoặc trước những cống bao
2.8.2.Tổ chức xử lý nước thải
Tồn tại 3 hình thức thoát nước và xử lý nước thải :
- Thoát nước và XLNT tập trung: Nước thải sản xuất và sinh hoạt
được thu gom và đưa đến một trạm xử lý tập trung qua HTTN thành phố
- Thoát nước và xử lý nước thải kiểu phân tán: Hệ thống thu gom, xử
lý, xả hay tái sử dụng nước thải từ một khu dân cư độc lập, khu công nghiệp, khu văn phòng Nước thải sau khi làm sạch được đưa ra mạng lưới thoát nước hay sông hồ, kênh mương
- Thoát nước và XLNT tại chỗ: Hệ thống các bể chứa như bể tự hoại hay bể lắng hai vỏ để xử lý ngay trong từng hộ gia đình Nước thải sau đó
được xả ra hệ thống kênh mương hoặc được đưa đi xử lý tiếp tại trạm xử
lý tập trung
2.8.3 Xác định vị trí và quy mô xử lý nước thải
Khi xác định vị trí và quy mô XLNT phải lưu ý tới quan điểm về tương quan giữa vị trí đô thị với nguồn tiếp nhận và các yếu tố môi trường khác, quan điểm về tập trung hay phân tán nước thải, quan điểm về phát triển đô thị
2.8.4 Nguyên tắc lựa chọn công nghệ xử lý nước thải
- Coi trọng phục vụ con người, nhấn mạnh vai trò của công trình trong
việc bảo đảm tính kinh tế và tính bền vững của hệ thống; người hưởng lợi vừa có quyền lợi, vừa có trách nhiệm
- Giải pháp công nghệ không chỉ đáp ứng cho nhu cầu hiện tại mà còn phải tạo điều kiện thuận lợi để đáp ứng được nhu cầu đa dạng của đời sống đô thị trong tương lai
- Khai thác, tận dụng và bảo vệ hợp lý môi trường tự nhiên
+ Ưu tiên lựa chọn công nghệ xử lý bằng sinh học tự nhiên chi phí thấp + Kết hợp sử dụng lại nước thải và bùn sau xử lý
+ Khai thác một cách hợp lý khả năng tự làm sạch(pha loãng, tự làm sạch) của các dòng sông và vùng biển
Trang 79 + Suất sử dụng năng lượng thấp
+ Quản lý vận hành dễ dàng và tin cậy phù hợp với trình độ kỹ thuật
của nước ta hiện tại và đáp ứng cho sự phát triển mai sau
chương 3: Kết quả nghiên cứu vμ bμn luận
3.1 Giải pháp quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước
3.1.1 Các đô thị khu vực miền núi
* Khu vực miền núi phía Bắc
Quy hoạch tổng thể cải tạo HTTN cho khu vực này kiến nghị
sẽ là hệ thống thoát nước riêng
* Khu vực Tây nguyên
Quy hoạch cải tạo HTTN của khu vực này kiến nghị là hệ
thống thoát nước riêng
3.1.2 Các đô thị khu vực đồng bằng
* Khu vực đồng bằng Bắc Bộ
Trên cơ sở hệ thống thoát nước hiện có, đề xuất qui hoạch tổng thể cải
tạo xây dựng thành hệ thống thoát nước chung Điển hình của khu vực đồng
bằng Bắc Bộ là thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng
* Khu vực đồng bằng Nam Bộ
Quy hoạch tổng thể cải tạo hệ thống thoát nước của khu vực
này kiến nghị là hệ thống thoát nước chung
Điển hình của khu vực đồng bằng Nam Bộ là thành phố Cần Thơ, thành
phố Long Xuyên
* Khu vực vùng duyên hải
Quy hoạch cải tạo hệ thống thoát nước cho các đô thị vùng duyên hải
kiến nghị là hệ thống thoát nước chung
3.2 Giải pháp về mạng lưới thu gom, vận chuyển nước thải
3.2.1 Khu vực miền núi
*K hu vực miền núi phía Bắc:
Các đô thị miền núi đó là: Lai Châu, Điện Biên, Cao Bằng, Sơn La, Bắc
Cạn, Hòa Bình, Thái Nguyên
Dựa trên cơ sở hệ thống hiện trạng sẽ cải tạo, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống
thu gom, xả nước mưa vào các kênh suối tự nhiên sẵn có, sau đó xả vào nguồn
tiếp nhận chung (sông, suối)
Phân chia lưu vực để thu gom nước thải, bố trí trạm bơm để đưa nước thải về
khu xử lý Mỗi đô thị nên xây dựng từ 2 - 3 trạm XLNT (các lưu vực nên có các
tuyến ống nối nhau để hỗ trợ nhau trong trường hợp một trạm có sự cố)
*K hu vực Tây Nguyên:
Các đô thị bao gồm Gia Nghĩa, Plâycu, Kon Tum, Đà Lạt, Buôn Ma Thuột
Hệ thống thoát nước cũ là hệ thống cống chung, sẽ cải tạo thành HTTN mưa
Những khu khác sẽ xây dựng mới thành HTTN riêng hoàn toàn
10
Đối với 2 đô thị Đà Lạt và Buôn Ma Thuột nên tiếp tục triển khai mạng lưới thoát nước riêng để tạo thành HTTN đồng bộ cho cả thành phố
3.2.2 Khu vực đồng bằng
* Khu vực đồng bằng Bắc Bộ
Đường phố của các đô thị khu vực này hẹp, không đáp ứng được mặt bằng
để xây dựng nhiều tuyến cống và các tuyến dài sâu
Các tuyến cống mới trên cơ sở phân chia lưu vực thoát nước hợp lý, xây dựng các tuyến cống bao, giếng tràn tách nước mưa, các trạm bơm dâng nước để thu gom, vận chuyển nước thải về khu xử lý Cần chú ý lựa chọn giếng tràn tách nước mưa có cấu tạo hợp lý nên lắp các van chặn một chiều để bảo vệ khi cốt lũ cao
* Khu vực đồng bằng Nam Bộ
Trên cơ sở cải tạo và mở rộng HTTN hiện có, cần nghiên cứu kỹ các tuyến thoát nước chính nhằm giảm chiều dài các tuyến cống thu gom, xây dựng giếng tách tuyến cống bao, thu gom nước thải và lựa chọn các trạm bơm hợp lý để bơm nước thải về trạm xử lý, cần lợi dụng tối đa các kênh mương hiện có
3.2.3 Khu vực duyên hải
Nơi tập trung một số các thành phố có quy mô lớn, dân số
đông, mật độ dân cư và mật độ xây dựng cao Các đô thị ở khu vực này có đặc điểm là địa hình thấp (cao độ nền từ 2 - 4m) chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuỷ triều biển Đông; có nhiều khu công nghiệp dịch vụ
đóng trong địa bàn, môi trường đang bị ô nhiễm nặng nề, đường phố trong
đô thị hẹp, có nhiều công trình ngầm khó cho công tác xây dựng và mở rộng các tuyến cống Tồn tại nhiều kênh mương hở thoát nước, trong đó
có một số kênh đóng vai trò giao thông đường thuỷ
- Xây dựng các tuyến cống bao để thu gom nước thải dọc theo các kênh , mương hở lớn, để đưa về khu xử lý
- Cống hoá các tuyến kênh mương có tiết diện nhỏ , đi qua khu dân cư đông đúc
Cần thiết phân chia lưu vực hợp lý để giảm số lượng nhà máy xử lý, yêu cầu lắp đặt các cống ngăn chiều
3.2.4 Giải pháp cống bao thu gom nước thải và giếng tràn tách nước mưa
3.2.4.1 Các chỉ tiêu thiết kế quy hoạch cống bao
- Do việc qui hoạch xây dựng và mở rộng cống bao thu gom nước thải hết sức phức tạp (thường đặt sâu và ở những nơi việc giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn) đặc biệt quan tâm đến phát triển đô thị trong tương lai, do vậy trong quá trình thiết kế qui hoạch xây dựng, các chỉ tiêu về nước thải sinh hoạt, mật độ dân số, chu kỳ tính toán thường được lựa chọn với chỉ số cao nhất
- Vận tốc dòng chảy trong các tuyến cống bao thường được chọn là vận tốc tối thiểu, tuy nhiên vận tốc đó phải đảm bảo khả năng đẩy cặn lắng trong cống và tránh lắng cặn Trong các tính toán thiết kế, đề xuất vận tốc phải đảm bảo vận tốc tự làm sạch và V ≥1m/s
Trang 811
- Với hệ số pha loãng nhỏ mặc dù kích thước cống nhỏ, nhưng độ dốc cống
lại lớn gây khó khăn cho công tác thi công Mặt khác, khi đó lượng chất bẩn từ
nước thải xả ra sông hồ sẽ lớn gây ảnh hưởng đến môi trường
Hệ số pha loãng K0: Tỉ lệ giữa lượng nước mưa tham gia pha loãng với nước
thải so với lượng nước thải
ở Liên Xô trước đây theo các tài liệu nghiên cứu và quy phạm thoát nước
đã được ban hành [106], [115] trên cơ sở khả năng tự làm sạch của nguồn tiếp nhận
(lưu lượng, vận tốc dòng chảy) đã có quy định lấy hệ số pha loãng trong tính toán
hệ thống thoát nước đô thị như sau:
K0 từ 1 ữ 2 với điều kiện trong đô thị có các nhánh sông nguồn tiếp nhận
với lưu lượng lớn hơn 10m3/s
K0 từ 3 ữ 5 khi xả nước thải vào nguồn nước có lưu lượng từ 5-10m3/s Vận
tốc dòng chảy lớn hơn 0,2m/s[106]
K0 từ 0,5 -1 áp dụng với nước thải thu vào ngăn tiếp nhận của TXL[106], [115]
Việc lựa chọn hệ số pha loãng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: lưu lượng
nước thải của đô thị, khả năng tài chính, khả năng xây dựng các trạm XLNT, nguồn
tiếp nhận
Nhìn chung chúng ta chưa có một công trình nào nghiên cứu về xác định
kích thước cống bao, hệ số pha loãng, cấu tạo giếng tách mà chỉ thực hiện ở một số
dự án như: Thành phố Hạ Long, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và 1
số tiến hành tiếp tại thành phố Hải Phòng, thành phố Vũng Tàu
Hệ số pha loãng mà các đô thị đang tiến hành tính toán để đưa nước về xử lý
như sau:
Thành phố Hồ Chí Minh: K0 = 0.5, thành phố Đà Nẵng: K0=0.5, thành phố Hạ
Long: K0=1, thành phố Hải Phòng: K0=1, thành phố Vũng Tàu: K0=1
Song trong thực tế khi xác định công suất trạm xử lý các dự án lại chỉ
tính với lưu lượng nước thải trước khi xử lý Đây là một bất cập trong thiết kế
cống bao cũng như trạm xử lý
Do vậy, việc thu gom nước thải đảm bảo xử lý toàn bộ trong mùa khô và
giai đoạn đầu trong mùa mưa tác giả đề xuất các đô thị lớn, nguồn tiếp nhận là
các con sông có dòng chảy lớn nên lấy hệ số pha loãng K0=0,5 Các đô thị nhỏ
do nguồn tiếp nhận hạn chế (dòng chảy nhỏ) gần các khu đô thị khác và là nguồn
nước cấp của hạ lưu nên lấy hệ số pha loãng K0=1
- Diện tích lưu vực thu gom
Tuyến cống bao được phân chia làm nhiều đoạn với chiều dài khác nhau
tuỳ thuộc vào diện tích và địa hình của lưu vực mà đoạn cống thu gom (lưu vực
thu gom)
Qua thực tế phân chia lưu vực thoát nước tại các đô thị đã và đang triển
khai xây dựng các lưu vực được phân chia theo địa hình , mật độ dân cư nhằm
12 xác định được cống bao có đường kính độ sâu chôn cống hợp lý để thuận lợi cho công tác xây dựng và vận hành sau này
Diện tích của lưu vực thu gom của đoạn cống tính toán, kiến nghị như sau: + Khu vực đồng bằng duyên hải, diện tích lưu vực khoảng 120 ha đến 150 ha + Đối với khu vực đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ, diện tích lưu vực khoảng150 ha đến 250 ha
+ Đối với khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, diện tích lưu vực khoảng 200ha đến 300ha
- Lưu lượng nước thải trong cống bao gồm nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất và dịch vụ thuộc lưu vực mà cống bao phục vụ Nước thấm từ bên ngoài vào hệ thống cống lấy bằng 10% nước thải sinh hoạt trung bình hàng ngày Hệ số này đã tham khảo tại nhiều nước châu á như Nhật Bản, Thái Lan, Inđônêxia và thực tế tại các đô thị Việt Nam trong thời gian qua khi tính toán cũng lấy lượng nước thấm vào cống bằng 0,1QTB
3.2.4.2 Giếng tách nước thải
* Giếng tách nước thải có thể được xây dựng ngay trên các tuyến cống bao hoặc bên cạnh cống bao, tại những vị trí cần thiết (đầu các đoạn cống góp chính, thoát nước trung bình và TXL ) tuỳ thuộc địa hình thực tế, và đường kính cống bao
Giếng tách nước thải có cấu tạo tuỳ thuộc vào địa hình, mặt bằng thực tế, có
thể sử dụng các loại sau:
* Loại kênh mương kiến nghị cống hoá:
- Các tuyến kênh mương đi qua các khu dân cư có mật độ cao
- Khu vực có mật độ đường giao thông thấp (khi cống hóa sẽ tạo đường giao thông trong khu vực)
- Các tuyến kênh mương có tiết diện không lớn (nhỏ hơn hoặc bằng 10m)
- Các kênh mương không phải là tuyến mương cấp I trong hệ thống thoát nước đô thị Tuy nhiên, việc đầu tư sẽ rất tốn kém, do vậy khi tiến hành cống hóa cần
có nghiên cứu, so sánh các tính năng kỹ thuật, kinh tế, khả năng quản lý của cơ
quan quản lý để lựa chọn phương án phù hợp
3.2.4.3 Đề xuất các tiêu chí phân vùng thu gom
Việc lựa chọn các vùng thu gom nước thải, xây dựng các tuyến thu gom cần phải đảm bảo các tiêu chí sau:
- Thu gom được toàn bộ lượng nước thải phát sinh trong khu vực và trong toàn phạm vi đô thị
- Không gây ô nhiễm cho các nguồn tiếp nhận
- Thuận tiện trong thi công và trong công tác quản lý vận hành
- Hệ thống thu gom phải làm việc ổn định, lâu dài và tính đến khả năng phát triển đô thị
- Vốn đầu tư thấp, thỏa mãn khả năng tài chính của đô thị
- Tạo cảnh quan sinh thái, chống ô nhiễm môi trường
Trang 913
3.3 Giải pháp tổ chức thoát nước và xử lý nước thải
3.3.1 Tổ chức thoát nước hợp lý cho các đô thị
Đối với các đô thị đồng bằng sông Hồng nên (hoặc thường) đào hồ điều hoà để
tiếp nhận nước mưa, tổ chức thoát nước mưa theo nguyên tắc lấy kênh hồ là tuyến thoát
nước chính
Trong quy hoạch tổng thể thoát nước một số đô thị như Hà Nội, Vinh, Biên
Hoà nguyên tắc này đã được đưa vào trong tổ chức HTTN
* Các đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long và một số vùng đồng bằng
duyên hải có địa hình thấp, mức nước sông, kênh, rạch chịu ảnh hưởng của thuỷ
triều nên vấn đề tiêu thoát nước mưa và nước thải phải được tính toán trên cơ sở dao
động mức triều Xây hồ điều tiết đầu mối và cống ngăn triều để điều tiết nước mưa,
giảm công suất trạm bơm là một trong những biện pháp hữu hiệu để giải quyết
thoát nước các đô thị khu vực này
* Các đô thị miền núi, trung du hoặc ven biển miền Trung có độ dốc địa hình
tương đối lớn HTTN mưa được cấu tạo từ các tuyến mương, xả vào các sông suối
hoặc trực tiếp ra biển Tuy nhiên lũ, xói lở là những yếu tố bất cập đối với các tuyến
cống thoát nước này Vì vậy, trong thành phần HTTN cần có một tỷ lệ cống hở hợp lý
để thu nước mưa dễ dàng
* Tại một số đô thị miền núi các suối và hồ là nơi tiếp nhận nước mưa và nước
thải đồng thời là khu sinh thái cảnh quan Mực nước trong các hồ được điều tiết
bằng các đập tràn phía sau hồ Ví dụ như ở thành phố Đà Lạt, hệ thống suối và hồ
thoát nước cũng được tổ chức theo nguyên tắc điều tiết ổn định này để thoát lũ về
mùa mưa và giữ nước về mùa khô
Đối với nước thải đô thị, dạng thoát nước có thể là tập trung hoặc phân tán Khi thoát
nước tập trung, nước thải từ các tuyến cống cấp 2 (tuyến cống lưu vực) đưa về tuyến cống
chính (tuyến cống cấp 1), sau đó bơm về TXLNT, và được xử lý đến mức độ yêu cầu trước
khi xả ra nguồn nước mặt
Do đặc điểm địa hình và sự hình thành các sông, hồ trong các đô thị nước
ta, HTTN thường được phân ra các lưu vực nhỏ và độc lập
Thoát nước phân tán sẽ là hình thức phù hợp đối với đa số đô thị nước ta.Việc
xây dựng các TXLNT công suất nhỏ và vừa cho các lưu vực sẽ tận dụng được các
điều kiện tự nhiên cũng như khả năng tự làm sạch của sông, hồ trong quá trình xử
lý Mặt khác, việc xây dựng này cũng phù hợp với khả năng đầu tư và sự phát
triển của đô thị Khi đó các sông, hồ đóng vai trò là công trình tiếp nhận và
XLNT bậc 3 cho trạm xử lý
Bất cập trong việc thoát nước phân tán đó là vấn đề ô nhiễm môi trường cục
bộ bên trong đô thị do việc xây dựng nhiều trạm XLNT có qui mô, mức độ và
công nghệ xử lý khác nhau, dẫn đến việc kiểm soát, quản lý chung rất phức tạp
Tìm kiếm đất đai cho việc xây dựng trạm XLNT trong nội thành là vấn đề khó
khăn Các kênh hồ nội thành cũng dễ bị phú dưỡng do tiếp nhận nước thải có
chứa nitơ và phốt pho chưa được xử lý triệt để Tuy nhiên, các vấn đề này có thể
14 giải quyết khi tìm được biện pháp XLNT hợp lý, kết hợp XLNT với làm giàu
trực tiếp ôxy cho sông hồ
3.3.2 Xử lý nước thải hợp lý cho các hồ trong đô thị
3.3.2.1 Tách nước thải và nước mưa đợt đầu khỏi hồ
Các loại nước thải này cần được tách hoặc phải được xử lý đáp ứng yêu cầu
vệ sinh mới được xả vào hồ
Vai trò chính trong việc tách nước thải không xả vào hồ là giếng tràn tách nước Về mùa khô cũng như khi mưa nhỏ, nước trong cống không thể vượt qua
đập tràn để chảy vào hồ Nước thải và nước mưa đợt đầu theo tuyến cống bao chảy ra mương thoát nước hoặc về trạm XLNT tập trung Khi mưa to có thể một lượng cát trên bề mặt chảy vào cống nước mưa Vì vậy, tại giếng sau đập tràn thường bố trí hố lắng cát và lưới chắn rác để tách cát ngăn rác trong nước mưa trước khi chảy vào hồ Phai chắn duy trì mực nước, đảm bảo cảnh quan khu vực hồ
3.3.2.2 Xử lý nước thải trước khi xả vào hồ
Trong những trường hợp đặc biệt, khi tổ chức thoát nước phân tán, nước thải
được xử lý đáp ứng các quy định về vệ sinh môi trường và phù hợp với khả năng tự làm sạch của nguồn tiếp nhận sẽ được xả vào hồ
Đối với các trạm XLNT lưu vực hồ, các yêu cầu xử lý là giảm hàm lượng cặn lơ lửng, BOD, các chất dinh dưỡng nitơ và phốt pho, các vi khuẩn gây bệnh
đặc trưng bằng tổng coliform đến mức giới hạn cho phép nhằm duy trì chế độ
ôxy cũng như hạn chế nguy cơ phú dưỡng và xuất hiện bệnh dịch trong hồ Mức độ XLNT cần thiết được xác định dựa vào tiêu chuẩn môi trường Việt Nam TCVN 6772:2000 nước thải sinh hoạt – tiêu chuẩn thải, TCVN 6983 -2001: Chất lượng nước – Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp thải vào vực nước
hồ dùng cho mục đích thể thao và vui chơi giải trí dưới nước hoặc TCVN 6985 -2001: Chất lượng nước – Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp thải vào vực nước hồ dùng cho mục đích bảo vệ đời sống thuỷ sinh
Các phương pháp XLNT lưu vực hồ có thể là xử lý sinh học trong điều kiện nhân tạo hoặc xử lý hoá học Sơ đồ công nghệ, cấu tạo và chế độ vận hành các công trình trạm XLNT phụ thuộc vào loại nguồn tiếp nhận
+ Đối với nước nguồn loại B, có thể sử dụng công nghệ truyền thống để
xử lý: Song chắn rác, lắng, xử lý sinh học, khử trùng trước khi xả ra nguồn Việc lựa chọn loại công trình cụ thể phụ thuộc vào công suất cũng như đặc
điểm khu vực
+ Đối với nước nguồn loại A, nước thải trước khi thải vào hồ cần phải xử
lý 3 bậc Để giảm giá thành và tận dụng đặc điểm qui hoạch khu vực xung quanh hồ, nước thải sau khi xử lý bậc 2 bằng phương pháp nhân tạo có thể kết hợp với xử lý tự nhiên trong đất ướt (wetland) bằng các bồn hoa, cây cảnh xung quanh hồ
Trang 1015 Tuy nhiên yêu cầu diện tích đất xây dựng cho trạm XLNT bằng phương
pháp sinh học rất lớn Điều này rất khó khăn đối với các hồ nội thành một số đô
thị đặc biệt và loại 1
Việc lựa chọn công nghệ XLNT phải phù hợp với các nguyên tắc đã nêu
* Trong giai đoạn từ 2010 - 2020 cần phát triển các công nghệ XLNT hiệu
quả cao và thân thiện với môi trường Vì vậy, công nghệ XLNT phải phù hợp
với đặc điểm của từng vùng, loại đô thị và khả năng đầu tư trong từng giai
đoạn Vì vậy khi lựa chọn công nghệ XLNT, cần phải tính đến các yếu tố như:
điều kiện tự nhiên khu vực, lưu lượng và thành phần tính chất nước thải, đặc
điểm nguồn tiếp nhận nước thải, điều kiện xây dựng trạm xử lý (diện tích đất,
vật liệu, thiết bị ), khả năng sử dụng nước thải để nuôi cá, tưới ruộng
* Đối với đô thị mới do có khả năng xây dựng hệ thống thoát nước riêng
nên việc xây dựng trạm XLNT tập trung là cần thiết nhằm đảm bảo cảnh quan
và vệ sinh môi trường đô thị mới
* Đối với các cụm nhà độc lập đã có sẵn các bể tự hoại để xử lý sơ bộ nước
thải nên cải tạo thành hệ thống XLNT phân tán tại từng hộ gia đình kết hợp với
công trình xử lý trong hoặc ngoài nhà
* Phần lớn đô thị Việt nam đang trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá có thể
áp dụng công nghệ đơn giản, tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên để tiêu thoát
nước mưa và XLNT như khả năng thẩm thấu của đất, khả năng điều tiết nước
mưa, pha loãng và làm sạch nước thải bằng vi sinh vật của hồ ao, sông ngòi,
kênh rạch, thuỷ triều… và sử dụng hệ thống cống chung cho cả thoát nước mưa
và nước thải
* Các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng, có cốt nền thấp hơn cốt nước sông
trong mùa mưa lũ nên giải pháp phổ biến là đào hồ điều hoà để điều tiết nước
mưa đồng thời lấy đất đắp nền Lợi dụng hồ, ao tự nhiên làm chức năng hồ sinh
học XLNT theo nguyên tắc kết hợp với nuôi cá
* Đối với các đô thị đồng bằng sông Cửu Long có địa hình thấp, mức nước
sông ngòi kênh rạch chịu ảnh hưởng của thuỷ triều, nguồn nước ngọt khan
hiếm, nguồn nước mặt bị ô nhiễm, cần phát triển hố xí tự hoại cho từng gia
đình kết hợp với giải toả nhà trên kênh rạch để giữ vệ sinh nguồn nước Lợi
dụng sự dao động của thuỷ triều làm hồ điều tiết, xây cống ngăn triều để thoát
nước mưa giảm bớt công suất bơm
* Đối với các đô thị miền núi, trung du và ven biển miền Trung độ dốc địa
hình tự nhiên thuận lợi để nước mưa tự thoát nhưng đường phố và khu ở thường
bị xói lở trong mùa mưa, có đô thị còn bị lũ phá hoại nên cần có tỷ lệ cống hở
hợp lý để thu nước mưa dễ dàng, không nhất thiết phải đầu tư tất cả làm cống
ngầm tốn kém
16
3.4 Các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện chất lượng nước sông
hồ đô thị
3.4.1 Kè bờ và nạo vét kênh mương
Kè bờ và nạo vét kênh mương cho những trường hợp sau: Các tuyến kênh mương có tiết diện lớn hơn 10m; Các kênh mương là tuyến mương cấp I trong HTTN đô thị; Các tuyến kênh mương đi qua các khu dân cư có mật độ thấp
3.4.2 Giải pháp bổ sung nước cho sông hồ
Tăng cường pha loãng nước nguồn với nước thải bằng biện pháp bổ cập nước sạch Trong mùa khô không xả trực tiếp nước thải vào sông, hồ giữ mực nước hồ ổn định, đảm bảo vệ sinh và cảnh quan môi trường
3.4.3 Các giải pháp cải tạo môi trường sinh thái sông hồ
Công tác bảo vệ cải tạo môi trường sinh thái hồ đô thị là vấn đề hết sức quan trọng Các giải pháp cơ bản cải tạo sinh thái hồ đô thị là: Thu hồi toàn bộ nước sinh hoạt, dịch vụ, công nghiệp bằng cách xây dựng các tuyến cống bao ở quanh hồ để thu gom nước thải; Cải tạo hồ, đảm bảo vệ sinh lòng hồ; Xây dựng
đường bao, trồng cây xanh, nghiên cứu các biện pháp kè hồ hợp lý; Tạo lưu thông dòng chảy, tránh trường hợp lưu cữu nước trong hồ; Cần có biện pháp bổ sung nước
hồ trong mùa khô; Nghiên cứu các biện pháp giảm nhiễm bẩn nước trong hồ như các loại thực vật khả năng phân hủy và hấp thụ các cặn bẩn trong nước và bùn cặn; Nuôi trồng thuỷ sản đối với những hồ dùng với chức năng XLNT
- Tăng cường pha loãng nước hồ với nước thải đã qua xử lý
- Làm giàu ôxy cho hồ
- Tăng cường quá trình chuyển hóa các chất ô nhiễm trong hồ bằng các thủy sinh vật và sinh vật
3.5 Tổ chức quản lý các hồ đô thị
- Quản lý chặt chẽ đất đai xây dựng xung quanh hồ
- Điều chỉnh và duy trì mực nước hợp lý trong hồ để đảm bảo thực hiện các chức năng của hồ
- Soạn thảo các quy định cụ thể về quản lý và khai thác vực nước
- Xây dựng các dự án quy hoạch cải tạo tình trạng ô nhiễm các hồ trong đô thị hiện nay
- Xây dựng hệ thống kiểm soát môi trường hệ thống hồ
- Xây dựng quy chế xử phạt các hành vi vi phạm hệ thống hồ.