Nghiên cứu giải mã một phần hệ gen ty thể của loài sán lá gan nhỏ Opisthorchis viverrini (mẫu Việt Nam) và so sánh với các chủng của thế giới bằng các phương pháp sinh học phân tử
Trang 2luËn ¸n ®−îc hoμn thμnh t¹i viÖn c«ng nghÖ sinh häc
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc:
PGS.TS Lª Thanh Hßa
TS TriÖu Nguyªn Trung
GS.TSKH Vò ThÞ Minh Thôc
Ph¶n biÖn 1: PGS.TS Nguyễn Nghiêm Luật
Trường Đại học Y Hà Nội Ph¶n biÖn 2: PGS.TS Nguyễn Văn Mùi
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Ph¶n biÖn 3: GS.TS Lê Bách Quang
Học Viện Quân y
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước, họp tại: Viện Công nghệ sinh học, Hà Nội
vào hồi 14 giờ ngày 25 tháng 09 năm 2008
Cã thÓ t×m hiÓu luËn ¸n t¹i:
- Th− viÖn Quèc gia
- Th− viÖn ViÖn C«ng nghệ sinh häc
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ký sinh trùng (KST) là tập hợp sinh vật rất đa dạng, nên việc phân loại về nhóm, loài, chủng trước đây đã có phần thiếu chính xác, đặc biệt đối với một số loài đồng hình (sibling species), đôi khi đã gộp nhầm những
cá thể hoặc quần thể ký sinh trùng mà thực chất chúng có những đặc tính
di truyền học hoàn toàn khác biệt nhau Hiện nay các phương pháp sinh học phân tử (SHPT) đã bước đầu được ứng dụng trong chẩn đoán phân loại và lập phả hệ sinh vật Trong đó, các chỉ thị di truyền hệ gen ty thể
(cox1, nad1, nad3, atp6…) đã được sử dụng phổ biến trong phương pháp
phân loại sinh học phân tử Ưu điểm của gen ty thể là ở thể đơn bội, không tái tổ hợp, di truyền theo dòng mẹ và có tỷ lệ biến đổi nucleotide cao Do
có kích thước nhỏ, lại chứa các gen tối cần thiết cho hoạt động sống của tế bào, nên ADN hệ gen ty thể được coi là đối tượng lý tưởng để khảo sát sự biến đổi trong hệ gen phục vụ nghiên cứu về giám định, phân loại và lập phả hệ quần thể
Bệnh sán lá gan nhỏ do Opisthorchis viverrini gây nên
(opisthorchiasis), là bệnh ký sinh trùng truyền qua đường thức ăn, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng ở các nước Đông Nam Á bao gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam Bệnh này đã được nghiên
cứu rộng rãi ở Thái Lan, nơi được coi là trung tâm về dịch tễ của O
viverrini, có khoảng 6 triệu người bị nhiễm sán lá gan Sự nhiễm bệnh có
liên quan đến một số bệnh về gan mật như bệnh đường mật, vàng da tắc
mật, to gan, viêm túi mật, bệnh sỏi mật và O viverrini được coi là tác nhân
góp phần gây bệnh ung thư đường mật
Sán lá gan nhỏ O viverrini đã được xác định là có mặt ở một số tỉnh
miền Trung, bước đầu đã khảo sát dịch tễ học và chẩn đoán, song cho đến nay, các dữ liệu toàn diện về hệ gen ty thể của loài sán nguy hiểm này ở Việt Nam vẫn chưa có hoặc chưa đầy đủ Do vậy, việc phân tích một phần
hệ gen ty thể và thành phần gen của O viverrini gây bệnh ở người từ các
vùng địa lý khác nhau sẽ góp phần vào nghiên cứu ký sinh trùng phân tử ở Việt Nam và thế giới Trên cơ sở những kết quả đó cho phép ứng dụng lập bản đồ phân bố dịch tễ học phân tử, tìm hiểu cơ chế sinh bệnh, xây dựng các phương pháp và bộ sinh phẩm (kit) chẩn đoán nhanh nhằm nghiên cứu các loại thuốc, vacxin để giúp cho việc phát hiện và điều trị bệnh này một cách hiệu quả Xuất phát từ những vấn đề thiết thực về nghiên cứu gen học
hệ gen ty thể đã nêu ở trên, chúng tôi tiến hành đề tài:
Trang 4“Nghiên cứu giải mã một phần hệ gen ty thể của loài sán lá gan nhỏ Opisthorchis viverrini (mẫu Việt Nam) và so sánh với các chủng của thế giới bằng các phương pháp sinh học phân tử”
- Thẩm định mối quan hệ về loài của O viverrini trong lớp Trematoda
và trong ngành sán dẹt (Platyhelminthes) trên cơ sở phân tích vùng gen ty thể
3 Những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của đề tài
- Lần đầu tiên trình tự vùng gen ty thể dài 4,2 kb của các phân lập O
viverrini ở những vùng địa lý khác nhau của Việt Nam là Quảng Nam,
Bình Định và Phú Yên được xác định
- Lần đầu tiên đặc tính gen học vùng gen ty thể dài 4,2 kb của loài
sán lá gan nhỏ O viverrini bao gồm trật tự, cấu trúc, tương đồng, thành
phần kiến tạo, mối quan hệ phả hệ được phân tích, góp phần quan trọng vào phát triển nghiên cứu sinh học phân tử của ngành ký sinh trùng hiện đại
- Lần đầu tiên mối quan hệ về loài và vị trí phân loại của sán lá gan
nhỏ O viverrini được làm sáng tỏ, giúp hiểu biết hơn về các loài trong lớp
sán lá (Trematoda) và ngành sán dẹt Platyhelminth
Các kết quả thu được từ vùng gen 4,2 kb của các phân lập O
viverrini sẽ giúp ích cho việc xây dựng kit chẩn đoán để phòng chống và
điều trị bệnh này có hiệu quả ở Việt Nam và thế giới
4 Bố cục luận án
Luận án gồm 147 trang (không kể phần phụ lục), kết cấu thành 3
chương
- Mở đầu: 3 trang
- Chương 1: Tổng quan tài liệu: 47 trang (13 hình, 1 bảng)
- Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu: 20 trang (6 hình)
- Chương 3: Kết quả và thảo luận: 63 trang (23 hình, 18 bảng)
- Kết luận và kiến nghị: 2 trang
- Tài liệu tham khảo: 178 tài liệu (26 tiếng Việt, 152 tiếng Anh)
- Phụ lục
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 LỊCH SỬ CỦA BỆNH OPISTHORCHIASIS VÀ PHÂN BỐ ĐỊA LÝ
Bệnh sán lá gan nhỏ (opisthorchiasis) do Opisthorchis viverrini gây
nên là bệnh quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng ở các nước Đông Nam
Á bao gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam Bệnh này đã được
nghiên cứu rộng rãi ở Thái Lan, nơi được coi là trung tâm về dịch tễ của O
viverrini, có khoảng 6 triệu người bị nhiễm sán lá gan Sự nhiễm bệnh có
liên quan đến một số bệnh về gan mật như bệnh đường mật, vàng da tắc mật, to gan, viêm túi mật, bệnh sỏi mật Hơn nữa các bằng chứng về thực nghiệm và dịch tễ học đã chứng minh sán lá gan nhỏ là tác nhân góp phần
gây nên bệnh ung thư đường mật
Ở Việt Nam, sán lá gan nhỏ O viverrini được tìm thấy ở một số tỉnh
phía Nam (Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam, Huế, Đak Lak…) và đã được giám định phân tử bằng chỉ thị di truyền hệ gen ty thể
1.2 HỆ GEN TY THỂ VÀ ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU KÝ SINH TRÙNG
Hiện nay đã có rất nhiều loài đã có hệ gen ty thể được giải mã toàn bộ hoặc một phần, cung cấp nguyên liệu chuỗi nucleotide và amino acid cho
so sánh giám định các loài cần nghiên cứu Do có kích thước nhỏ, lại chứa gen tối cần thiết cho hoạt động sống của tế bào, nên ty thể được coi là đối tượng lý tưởng để khảo sát sự biến đổi trong hệ gen phục vụ nghiên cứu về giám định, phân loại và lập phả hệ quần thể Các gen trong ty thể lại có hệ
số biến đổi nhanh hơn hệ gen nhân tế bào 10-15 lần, nên rất thuận lợi cho nghiên cứu về tiến hoá Các gen của ty thể trong cùng chủng, cùng loài, thậm chí trong các loài có quan hệ gần về sinh học có sự bảo tồn rất cao,
do vậy, bất cứ sự thay đổi nhỏ nào cũng là dấu hiệu giá trị trong giám định
và phân loại
Nghiên cứu hệ gen ty thể còn có tầm quan trọng trong chẩn đoán, điều trị và phòng chống bệnh, vì có nhiều bệnh ở người và động vật liên quan đến sự biến đổi ở ty thể Đối với KST, hiểu biết đầy đủ về hệ gen ty thể, còn có giá trị định hướng trong phòng chống, đặc biệt tìm kiếm hóa chất, hóa dược, hoặc thực nghiệm các loại vacxin thế hệ mới Đã có nhiều hệ
gen ty thể của các loại KST như giun đũa (Ascaris suum), giun chỉ (Onchocerca volvulus), sán máng (Schistosoma mansoni, S japonicum, S
mekongi, S haematobium), sán dây (Taenia solium, T saginata , T
Trang 6asiatica, T crasiceps ), sán lá gan lớn (Fasciola hepatica, F gigantica),
sán lá gan nhỏ (Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini), sán lá ruột (Fasciolopsis buski) đã được giải mã và phân tích cung cấp nguồn dữ
liệu cần thiết cho nghiên cứu giám định, phân loại, phả hệ, quần thể ký sinh trùng
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SINH HỌC PHÂN TỬ SÁN LÁ GAN
NHỎ O VIVERRINI Ở VIỆT NAM
Hiện nay đã xác định ít nhất có 8 tỉnh lưu hành Opisthorchis
viverrini đó là các tỉnh, như Phú Yên, Bình Định, Đak Lak, Đà Nẵng,
Quảng Nam, Khánh Hoà và Thừa Thiên Huế
Sán lá gan nhỏ O viverrini lần đầu tiên được giám định phân tử bằng
chỉ thị di truyền hệ gen ty thể vào năm 2003, trên các mẫu sán được thu thập trên người tại Phú Yên, đến năm 2006, kỹ thuật PCR đa năng được
ứng dung để giám định và phân biệt 2 loài sán lá gan nhỏ O viverrini và
C sinensis ở Việt Nam
Hiện nay, trong Ngân hàng gen, theo công bố, chỉ có gen nad3, một
số gen ARN vận chuyển trnN, trnP, trnI và trnK hoàn chỉnh và một phần gen nad1 của O viverrini được giải trình trình tự Chưa có toàn bộ hệ gen
ty thể giải trình một cách hoàn chỉnh nào của O viverrini được đăng ký
vào Ngân hàng gen Như vậy, vấn đề đặt ra là cần có dữ liệu sinh học phân
tử hệ gen ty thể cũng như của hệ gen nhân của sán lá gan nhỏ của Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu chẩn đoán giám định và nghiên cứu bệnh học
1.4 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIẢI MÃ HỆ GEN TY THỂ
CỦA LOÀI SÁN LÁ GAN NHỎ O VIVERRINI
Việc sử dụng phương pháp sinh học phân tử mà cụ thể là ứng dụng phương pháp PCR trong chẩn đoán và phân loại bệnh sán lá gan nhỏ nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung có một ý nghĩa hết sức to lớn Nhờ phương pháp này mà người ta có thể chẩn đoán từ rất sớm, rất chính xác tác nhân gây bệnh Điều này giúp cho các nhà điều trị học lựa chọn phương pháp điều trị hiệu quả ít tốn kém nhất, góp phần ngăn chặn các hậu quả xấu do bệnh gây ra
Việc xác định các cấu trúc một gen hay nhiều gen đặc trưng của sán
lá gan nhỏ còn giúp cho các nhà sinh học xác định được sản phẩm cụ thể của gen đó Đây sẽ là cơ sở cho việc sản xuất các kháng nguyên đặc hiệu,
sử dụng cho phương pháp chẩn đoán bằng miễn dịch học
Nguồn thông tin thu được sẽ giúp cho việc xác định phân bố phân tử của chúng cũng như giúp cho các nghiên cứu về phòng chống và điều trị
có hiệu quả bệnh này ở Việt Nam và thế giới
Trang 7CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
Nguyên liệu nghiên cứu là mẫu sán lá gan nhỏ trưởng thành có kích thước 1,2 x 0,1 cm, màu vàng nhạt, được xác định là O viverrini về mặt
hình thái học Mẫu sán được thu thập từ bệnh nhân tại các địa điểm sau:
- Xã An Mỹ, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên Ký hiệu (OvPY3)
- Xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Ký hiệu (OvBD1)
- Xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Ký hiệu (OvQN) Đây là những nơi được xác định là vùng lưu hành bệnh sán lá gan nhỏ
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thu nhận được các chuỗi ADN hệ gen ty thể của các phân lập O
viverrini, phương pháp PCR được sử dụng kết hợp, bao gồm PCR thông thường và PCR cực đại (long PCR) Các sản phẩm PCR được dòng hóa,
giải trình trình tự và phân tích theo quy trình tổng quát như sau:
2.2.1 Phương pháp tách chiết ADN tổng số từ mẫu vật: sử dụng bộ
sinh phẩm QIAamp DNA Mini kit (QIAGEN Inc, USA)
2.2.2 Phương pháp tiến hành phản ứng PCR: phản ứng PCR cực
đại được thực hiện trên máy MJ Thermal Cycler PCT-100 (MJ Research, USA), sử dụng bộ hóa chất Elongase kit của hãng Invitrogen theo chu trình nhiệt như sau: 94oC/5 phút, tiếp theo là 35 chu kỳ ở 94oC/30 giây,
54oC/1 phút; 68oC/12 phút Phản ứng PCR thông thường được thực hiện theo chu trình nhiệt như sau: 94oC/5 phút, tiếp theo là 35 chu kỳ ở 94oC/30 giây, 52oC/30 giây; 72oC/2 phút và chu kỳ cuối cùng là 72oC/10 phút Sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose 1%, nhuộm gel bằng Ethidium Bromide 10 phút và sau đó quan sát sản phẩm trên máy soi gel Wealtech (Mỹ)
2.2.3 Phương pháp tách dòng và giải trình trình tự: sản phẩm
PCR tinh sạch được dòng hóa vào vector pCR2.1TOPO (TA-cloning Kit ) của hãng Invitrogen Các đoạn ADN trong plasmid tái tổ hợp được giải trình trình tự trên máy ABI3100 Avant Genetic Analyzer
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu: các chuỗi nucleotide được xử lý
bằng chương trình SeqEdv1.03, sau đó so sánh sử dụng chương trình AsemblyLIGNv1.9c và MacVector8.2 (Accelrys Inc.) trên máy tính Macintosh; các chương trình GENEDOC2.5, MEGA3.1 trên máy tính PC, được sử dụng để phân tích, so sánh về thành phần nucleotide và amino
acid cũng như phân tích mối quan hệ phả hệ
Trang 8CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 KẾT QUẢ THU NHẬN VÙNG GEN TY THỂ DÀI 4,2 KB
CỦA CÁC PHÂN LẬP SÁN LÁ GAN NHỎ O VIVERRINI
Phản ứng PCR thông thường và PCR cực đại (long PCR) được sử dụng kết hợp để thu nhận vùng gen ty thể có kích thước 4,2 kb của các
phân lập O viverrini của Việt Nam (OvQN, OvBD1, OvPY3) và của Thái
Lan (OvKK) theo sơ đồ tổng quát giới thiệu ở Hình 3.1
Hình 3.1 : Sơ đồ tổng quát thu nhận vùng gen dài 4,2 kb của các phân lập OvQN, OvBD1, OvPY3 của.Việt Nam và OvKK của Thái Lan
Các chuỗi gen của các phân lập OvQN, OvBD1, OVPY3 và OvKK sau khi giải trình trình tự được đưa vào phân tích sử dụng các chương trình SeqEd1.03 AsemblyLIGNv1.9c và MacVector8.2 (Accelrys Inc.) để thu nhận toàn bộ trình tự vùng ADN ty thể có độ dài 4,2 kb
3.2 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÙNG GEN TY THỂ DÀI 4,2 KB CỦA
CÁC PHÂN LẬP O VIVERRINI CỦA VIỆT NAM VÀ THÁI LAN
3.2.1 Phân tích sự biến đổi về thành phần nucleotide giữa các
phân lập O viverrini của Việt Nam và Thái Lan trong vùng gen ty thể
dài 4,2 kb
Kết quả cho thấy, vùng ADN giới hạn giữa cặp mồi Ov8F-OvR có độ
dài 4.252 bp ở cả 3 phân lập O viverrini là OvQN, OvPY3 và OvKK
OvQN OvBD1 OvPY3
OvQN OvBD1 OvPY3
OvQN OvBD1 OvPY3
OvQN OvBD1 OvPY3
OvQN OvBD1 OvPY3
Trang 9Riêng đối với phân lập OvBD1, độ dài là 4253 nucleotide, do phân lập OvBD1 có đột biến thêm vào một nucleotde (T) tại vị trí 816 so với 3 phân lập còn lại, tuy nhiên sự đột biến này xảy ra ở vùng giao gen nên cũng không gây nên sự thay đổi nào về acid amin Đăng ký Ngân hàng gen: OvBD1 (số: EU443831), OvQN (số: EU443832), OvPY3 (số: EU443833)
Có tất cả 58 vị trí sai khác giữa các phân lập O viverrini với nhau,
chiếm tỷ lệ 1,36% (Bảng 3.1A-B-C-D) Đây là tỷ lệ sai khác cho phép giữa các phân lập trong cùng một loài Trong số 58 đột biến, có 9/58 là đột biến
dị hoán (tranversion), chiếm tỷ lệ 15,5%; và 48/58 nucleotide là đột biến đồng hoán (transition), chiếm tỷ lệ 84,5%
3.2.2 Phân tích trật tự các gen trong vùng ADN ty thể dài 4,2 kb
Kết quả cho thấy có 5 gen mã hóa protein đó là các gen nad4, atp6,
nad2, nad1 và nad3; và 10 gen mã hóa cho ARN vận chuyển các amino
acid là trnQ (glutamine), trnF (phenylalanine), trnM (methionine), trnV (valine), trnA (alanine), trnD (aspartate), trnN (asparagine), trnP (proline),
trnI (isoleucine) và trnK (lysine)
Trật tự các gen được sắp xếp như trình bày ở Bảng 3.2
3.2.3 Kết quả phân tích các gen mã hóa protein nằm trong vùng gen ty thể 4,2 kb
a) Kết quả phân tích thành phần nucleotide và amino acid đoạn gen
nad4 của các phân lập O viverrini
Bảng 3.3: So sánh tỷ lệ (%) tương đồng về nucleotide (trên đường chéo) và
amino acid (dưới đường chéo) của các phân lập O viverrini với nhau (một phần gen nad4 dài 807 nucleotide)
99 99
99
OvPY3
99 99
99
OvBD1
99 98
99
OvQN
99 99
99
OvKK
OvPY3 OvBD1
OvQN OvKK
99 99
99
OvPY3
99 99
99
OvBD1
99 98
99
OvQN
99 99
99
OvKK
OvPY3 OvBD1
OvQN OvKK
Trang 10Bảng 3.1 (A,B,C,D): Bảng phân tích các vị trí có sai khác về nucleotide trong vùng gen ty thể 4,2 kb giữa
các phân lập O viverrini của Việt Nam so với phân lập OvKK của Thái Lan, lần lượt theo trật tự các gen
Ghi chú: Dấu (*) là vùng giao gen
nad2 atp6
trnM
T C
C T
C T
T G
G C
C C
A T
OvPY3
C T
C T
T T
T G
G T
T T
G T
OvBD1
T C
T T
C C
T G
G C
T C
A C
OvQN
T C
C G
C T
C T
C C
T T
A T
OvKK
1678 1616
1587 1439
1407 1354
1258 1247
1246 1242
1207 1141
1069 1019
Các vị trí có thay đổi nucleotide Chủng
nad2 atp6
trnM
T C
C T
C T
T G
G C
C C
A T
OvPY3
C T
C T
T T
T G
G T
T T
G T
OvBD1
T C
T T
C C
T G
G C
T C
A C
OvQN
T C
C G
C T
C T
C C
T T
A T
OvKK
1678 1616
1587 1439
1407 1354
1258 1247
1246 1242
1207 1141
1069 1019
Các vị trí có thay đổi nucleotide Chủng
A
-C T
T T
G C
T T
T T
OvPY3
G T
T G
T C
C T
A T
C T
A C
OvBD1
G C
G
-C T
T A
G C
T C
A T
OvQN
C C
G
-C T
T T
G C
T T
A T
OvKK
946 942
816 808
769 729
726 696
516 490
234 209
34 25
Các vị trí có thay đổi nucleotide Chủng
trnF
*
nad4
G C
A
-C T
T T
G C
T T
T T
OvPY3
G T
T G
T C
C T
A T
C T
A C
OvBD1
G C
G
-C T
T A
G C
T C
A T
OvQN
C C
G
-C T
T T
G C
T T
A T
OvKK
946 942
816 808
769 729
726 696
516 490
234 209
34 25
Các vị trí có thay đổi nucleotide Chủng
Trang 11*
trnA nad2
T C
T T
C A
A C
C T
A T
C G
C OvPY3
C G
T C
T G
A T
T T
G T
T G
T OvBD1
T G
T T
C A
C C
T T
A C
C A
T OvQN
C G
G T
T A
A C
T C
A C
C G
C OvKK
3345 3298
3023 3002
2952 2881
2603 2533
2340 2122
2055 2047
1934 1902
T C
T T
C A
A C
C T
A T
C G
C OvPY3
C G
T C
T G
A T
T T
G T
T G
T OvBD1
T G
T T
C A
C C
T T
A C
C A
T OvQN
C G
G T
T A
A C
T C
A C
C G
C OvKK
3345 3298
3023 3002
2952 2881
2603 2533
2340 2122
2055 2047
1934 1902
1695
Các vị trí có thay đổi nucleotide Chủng
nad3 trnK
*
nad1
T G
G C
C C
A G
C A
T T
T C
T
OvPY3
C A
A C
C T
G A
T G
C T
C T
T
OvBD1
C G
G T
T T
A G
C G
T C
C C
C
OvQN
C G
G C
C T
A G
T G
T T
C C
T
OvKK
4169 4145
4083 4070
4016 4004
3995 3927
3908 3807
3723 3545
3519 3454
3381
Các vị trí có thay đổi nucleotide Chủng
nad3 trnK
*
nad1
T G
G C
C C
A G
C A
T T
T C
T
OvPY3
C A
A C
C T
G A
T G
C T
C T
T
OvBD1
C G
G T
T T
A G
C G
T C
C C
C
OvQN
C G
G C
C T
A G
T G
T T
C C
T
OvKK
4169 4145
4083 4070
4016 4004
3995 3927
3908 3807
3723 3545
3519 3454
3381
Các vị trí có thay đổi nucleotide Chủng
(D) (C)
Trang 12Bảng 3.2: Vị trí các gen mã hoá protein và các trình tự nối các gen (vùng
giao gen) trong vùng gen ty thể dài 4,2 kb của các phân lập O viverrini
Trang 13Bảng 3.4: So sánh các vị trí có thay đổi về nucleotide và amino acid giữa
các phân lập O viverrini (một phần gen nad4 dài 807 nucleotide)
Kết quả phân tích thành phần nucleotide và amino acid của đoạn gen
nad4 của các phân lập O viverrini của Việt Nam và Thái Lan, cho thấy
mức độ tương đồng (%) là rất cao, 98-99% (nucleotide) và 99% (aminino acid) (Bảng 3.3) Có 10 vị trí có sự sai khác về nucleotide, dẫn đến thay đổi
3 amino acid ở các vị trí 9, 12 và 70 (Bảng 3.4)
b) Kết quả phân tích thành phần gen atp6 ở các phân lập O viverrini
Bảng 3.5: So sánh tỷ lệ (%) tương đồng về nucleotide (trên đường chéo) và
amino acid (dưới đường chéo) của các phân lập O viverrini với nhau (gen
atp6)
V C
S OvPY3
V S
P OvBD1
A S
S OvQN
V S
S OvKK
70 12
9
Vị trí có sai khác amino acid Chủng
V C
S OvPY3
V S
P OvBD1
A S
S OvQN
V S
S OvKK
70 12
9
Vị trí có sai khác amino acid Chủng
C T T T G C T T T T OvPY3
T C C T A T C T A C OvBD1
C T T A G C T C A T OvQN
C T T T G C T T A T OvKK
769 729 726 696 516 490 234 209 34 25
Các vị trí có thay đổi nucleotide Chủng
C T T T G C T T T T OvPY3
T C C T A T C T A C OvBD1
C T T A G C T C A T OvQN
C T T T G C T T A T OvKK
769 729 726 696 516 490 234 209 34 25
Các vị trí có thay đổi nucleotide Chủng
99 99
99
OvPY3
99 99
99
OvBD1
99 98
99
OvQN
99 99
99
OvKK
OvPY3 OvBD1
OvQN OvKK
99 99
99
OvPY3
99 99
99
OvBD1
99 98
99
OvQN
99 99
99
OvKK
OvPY3 OvBD1
OvQN OvKK