4 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN NGUYỄN THẾ NHƯ CÁC NGUỒN THÔNG TIN TẠI THỜI ĐIỂM NHẬN THỨC ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN ĐIỂM ĐẾN HỘI AN CỦA NGƯỜI HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Hà Nội năm 2018 TRƯỜNG[.]
Trang 1NGUYỄN THẾ NHƯ
CÁC NGUỒN THÔNG TIN TẠI THỜI ĐIỂM NHẬN THỨC ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN ĐIỂM ĐẾN
HỘI AN CỦA NGƯỜI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 3NGUYỄN THẾ NHƯ
CÁC NGUỒN THÔNG TIN TẠI THỜI ĐIỂM NHẬN THỨC ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN ĐIỂM ĐẾN
HỘI AN CỦA NGƯỜI HÀ NỘI
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG THỊ LAN HƯƠNG
Hà Nội - năm 2018
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục tiêu nghiên cứu 6
3 Đối tượng nghiên cứu 6
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6
5 Bố cục của đề tài 7
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1 Cơ sở lý luận về thông tin 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Các yếu tố cơ bản trong xử lý thông tin 10
1.1.3 Các thuộc tính của thông tin 11
1.2 Tác động của thông tin đến việc đưa ra quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch 13
1.2.1 Tiếp cận thông tin điểm đến 13
1.2.2 Nguồn thông tin về điểm đến 18
1.3 Hành vi thông tin 20
1.3.1 Khái niệm hành vi thông tin 20
1.3.2 Mô hình hành vi thông tin 21
1.3.2.1 Mô hình hành vi 21
1.3.2.2 Mô hình nhận thức - hành vi 23
1.3.2.3 Mô hình nhận thức - tình cảm 24
Trang 51.3.2.4 Mô hình hành vi thông tin tích hợp 27
1.3.3 Ý nghĩa của nghiên cứu mô hình hành vi thông tin trong hoạt động du lịch 31
1.3.3.1 Nhận diện các đặc điểm về hành vi thông tin của khách du lịch 31
1.3.3.2 Thiết kế hệ thống thông tin hỗ trợ hành vi khách du lịch 32
1.3.3.4 Đánh giá nguồn lực của điểm đến 32
1.3.3.5 Xây dựng lý thuyết về hành vi thông tin 32
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Phương pháp thu thập số liệu 34
2.2 Quy trình nghiên cứu 35
2.3 Xây dựng bảng hỏi 37
2.4 Thông tin chung về mẫu điều tra 41
2.5 Xử lý số liệu 42
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1 Tổng quan về điểm đến Hội An 43
3.1.1 Khái quát về điềm đến Hội An 43
3.1.2 Những giá trị đặc sắc của điểm đến Hội An 44
3.1.2.1 Giá trị lịch sử 44
3.1.2.2 Giá trị kiến trúc, cảnh quan 46
3.1.2.3 Giá trị văn hóa lễ hội 49
3.1.2.4 Giá trị làng nghề truyền thống 52
3.1.2.5 Giá trị ẩm thực 53
Trang 63.2 Thực trạng thông tin tại thời điểm nhận thực của người Hà
Nội lựa chọn điểm đến Hội An 54
3.2.1 Nhận thức của du khách Hà Nội về các nguồn thông tin điểm đến Hội An 54
3.2.2 Cảm nhận của du khách Hà Nội về mức độ quan trọng của thuộc tính điểm đến đối với quyết định lựa chọn điểm đến Hội An 59
3.2.3 Tổng hợp thông tin điểm đến Hội An theo mô hình của Echtner và Ritchie 65
3.2.4 Sự hài long của người Hà Nội lựa chọn điểm đến Hội An .66
CHƯƠNG IV THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 70
4.1 Cơ sở để đề xuất giải pháp 70
4.2 Đề xuất giải pháp 71
4.2.1 Đề xuất một số giải pháp cải thiện nguồn thông tin điểm đến Hội An trong tâm trí khách du lịch Hà Nội 71
4.2.2 Nhóm giải pháp xúc tiến, quảng bá nguồn thông tin điểm đến Hội An 73
4.2.2.1 Xây dựng chiến lược quảng bá hiệu quả 73
4.2.2.2 Định vị nguồn thông tin điểm đến 73
4.2.2.3 Xây dựng tuyên ngôn quảng bá 74
4.2.2.4 Xác định phương thức quảng bá 74 4.2.2.5 Tăng cường hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch 75
Trang 74.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao mức độ thể hiện các thuộc tính của điểm đến Hội An 77 4.2.3.1 Cải thiện, trùng tu và phát triển hợp lý tài nguyên du lịch 77 4.2.3.2 Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng
du lịch 77
4.3 Các kiến nghị 82
4.3.1 Đối với Sở Du Lịch 82 4.3.2 Đối với các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh dịch vụ
du lịch 83 4.3.3 Đối với người dân địa phương 83
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, hành vi thông tin là một phân ngành trong lĩnhvực khoa học thông tin và là một lĩnh vực liên ngành với nhiềuquan điểm khác nhau như tâm lý học nhận thức, hành vi tổchức, truyền thông, triết học, nhân chủng học, sinh học và triếthọc tiến hoá Hành vi thông tin là thuật ngữ dùng để mô tảcách thức con người tương tác với thông tin, từ cách con ngườitìm kiếm, khai thác, chọn lọc, sử dụng, chia sẻ và tái tạo thôngtin, là toàn bộ hành vi con người liên quan đến thông tin, baogồm hành vi thụ động và vô ý như ngẫu nhiên gặp thông tin,cũng như hành vi có mục đích mà không liên quan đến tìmkiếm, như chủ động tránh thông tin
Lý thuyết và mô hình hành vi thông tin thường tập trungvào một trong ba khía cạnh lớn của hành vi thông tin, đó là tìmkiếm thông tin, được hiểu như tìm tin, tra cứu tin, khai thácthông tin và hiểu biết thông tin; khía cạnh thứ hai là tổ chứcthông tin và thứ ba là sử dụng thông tin Mặc dù vậy, cả bakhía cạnh này liên quan chặt chẽ với nhau mà không có sự táchbiệt và phân định quá lớn
Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển rất nhanh, thunhập và đời sống ngày càng cải thiện, con người càng có cơ hội
và điều kiện để thư giãn, nghỉ dưỡng, tìm hiểu và khám phá thếgiới Vì vậy, hoạt động du lịch ngày càng phổ biến và được xem
là một nhu cầu tất yếu đối với con người Trong thời gian qua,
Trang 9số lượng khách du lịch đến Hội An ngày càng gia tăng, đã tạo
ra bước phát triển mạnh mẽ cho ngành du lịch nói chung và nềnkinh tế thành phố Hội An nói riêng
Tuy nhiên, du khách du lịch từ HàNội đến Hội An vẫn chiếm
tỷ trọng khá khiêm tốn so với tổng số khách du lịch Để đảmbảo cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch thành phố thìviệc mở rộng và khai thác thị trường khách du lịch đang đặt ranhiều vấn đề cho Hội An Bên cạnh việc thu hút khách du lịchquốc tế thì việc thu hút các khách du lịch nội địa, đặc biệt ởnhững thành phố lớn như Hà Nội là rất quan trọng Góp phầngiải quyết vấn đề này, dựa trên mô hình hành vi thông tin em
quyết định lựa chọn đề tài “Các nguồn thông tin tại thời điểm
nhận thức ảnh hưởng đến sự lựa chọn điểm đến Hội An của người Hà Nội”, làm đề tài nghiên cứu thạc sĩ của mình./
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các đặc điểm của các nguồn thông tin dựa trênhành vi thông tin đến quyết định lựa chọn điểm đến của khách
du lịch
- Đưa ra mô hình nghiên cứu phù hợp nhất phản ảnh sựảnh hưởng của các nguồn thông tin đến quyết định lựa chọnđiểm đến du lịch
- Nghiên cứu và khám phá các nguồn thông tin ảnh hưởngđến quyết định lựa chọn điểm đến Hội An người dân trên địabàn thành phố Hà Nội Từ đó, đánh giá mức độ ảnh hưởng quantrọng của các nguồn thông tin
Trang 10- Đề xuất các hàm ý cho các doanh nghiệp kinh doanh dulịch trong việc hoạch định những chiến lược cung cấp thông tinhiệu quả nhằm thu hút khách du lịch trên địa bàn thành phố HàNội lựa chọn điểm đến Hội An.
3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với đối tượng điều tra là nhữngkhách du lịch đến từ Hà Nội đã hoàn thành việc lựa chọn điểmđến và đã đến Hội An
4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Phát hiện những nguồn thông tin ảnh hưởng đến quyếtđịnh lựa chọn điểm đến du lịch của du khách Qua đó, giúp cácnhà tiếp thị du lịch có những hiểu biết sâu hơn về những thịhiếu, xu hướng và hành vi thông tin quyết định lựa chọn điểmđến của du khách
- Kết quả nghiên cứu giúp các nhà tiếp thị và các doanhnghiệp Lữ hành có thể nhìn nhận được những điểm mạnh vàđiểm yếu về chiến lược thông tin các sản phẩm, hoạt động dulịch của điểm đến trong việc thu hút nguồn khách
- Đề tài nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo cho cácnghiên cứu tiếp theo về những yếu tố ảnh hưởng của nguồnthông tin đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của dukhách
Trang 115 Bố cục của đề tài
Trang 12CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Cơ sở lý luận về thông tin
1.1.1 Khái niệm
Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, ở đâu ta cũng thấyngười ta nói tới thông tin: thông tin là nguồn lực của sự pháttriển; chúng ta đang sống trong thời đại thông tin; một nềncông nghiệp thông tin, một xã hội thông tin đang hình thànhv.v
Quả thật thông tin (Information) là khái niệm cơ bản củakhoa học cũng là khái niệm trung tâm của xã hội trong thời đạichúng ta Mọi quan hệ, mọi hoạt động của con người đều dựatrên một hình thức giao lưu thông tin nào đó Mọi tri thức đềubắt nguồn bằng một thông tin về nhừng điều đã diễn ra, vềnhững cái người ta đã biết, đã nói, đã làm Và điều đó luôn xácđịnh bản chất và chất luợng của những mối quan hệ của conngười
Có rất nhiều cách hiểu về thông tin Thậm chí ngay các từđiển cũng không thể có một định nghĩa thống nhất Ví dụ: Từđiển Oxford English Dictionary thì cho rằng thông tin là " điều
mà người ta đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, tin tức" Từ điểnkhác thì đơn giản đồng nhất thông tin với kiến thức:"Thông tin
là điều mà người ta biết" hoặc "thông tin là sự chuyển giao trithức làm tăng thêm sự hiểu biết của con người" v,v
Trang 13Nguyên nhân của sự khác nhau trong việc sử dụng thuậtngữ này chính là do thông tin không thể sờ mó được Người tabắt gặp thông tin chỉ trong quá trình hoạt động, thông qua tácđộng trừu tượng của nó
Từ Latin “Informatio” , gốc của từ hiện đại “ìnformation”(thông tin) có hai nghĩa Một, nó chỉ một hành động rất cụ thể làtạo ra một hình dạng (forme) Hai, tuỳ theo tình huống, nó cónghĩa là sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểutượng Tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệmthông tin cũng phát triển theo
Theo nghĩa thông thường: Thông tin là tất cả các sự việc,
sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của conngười Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời
có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua cácphương tiên thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc
từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xungquanh
Trên quan điểm triết học: Thông tin là sự phản ánh của tựnhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, nguồnthông tin v.v hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tácđộng lên giác quan của con người
Trong đời sống con người, nhu cầu thông tin là một nhucầu rất cơ bản Nhu cầu đó không ngừng tăng lên cùng với sựgia tăng các mối quan hệ trong xã hội Mỗi người sử dụng thôngtin lại tạo ra thông tin mới Các thông tin đó lại được truyền chongười khác trong quá trình thảo luận, truyền đạt mệnh lệnh,
Trang 14trong thư từ và tài liệu, hoặc qua các phương tiện truyền thôngkhác Thông tin được tổ chức tuân theo một số quan hệ logicnhất định, trở thành một bộ phận của tri thức, đòi hỏi phải đượckhai thác và nghiên cứu một cách hệ thống
Trong hoạt động của con người thông tin được thể hiệnqua nhiều hình thức đa dạng và phong phú như: con số, chữviết, âm thanh, nguồn thông tin v.v Thuật ngữ thông tin dùng
ở đây không loại trừ các thông tin được truyền bằng ngôn ngữ
tự nhiên Thông tin cũng có thể được ghi và truyền thông quanghệ thuật, bằng nét mặt và động tác, cử chỉ Hơn nữa conngười còn được cung cấp thông tin dưới dạng mã di truyền.Những hiện tượng này của thông tin thấm vào thế giới vật chất
và tinh thần của con người, cùng với sự đa dạng phong phú của
nó đã khiến khó có thể đưa ra một định nghĩa thống nhất vềthông tin
Thông tin có nhiều mức độ chất lượng khác nhau Các sốliệu, dữ kiện ban đầu thu thập được qua điều tra, khảo sát làcác thông tin nguyên liệu, còn gọi là dữ liệu (data) Từ các dữliệu đó qua xử lý, phân tích, tổng hợp sẽ thu được những thôngtin có giá trị cao hơn, gọi là thông tin có giá trị gia tăng (valueadded information) Ở mức độ cao hơn nữa là các thông tinquyết định trong quản lý và lãnh đạo - kết quả xử lý của nhữngnhà quản lý có năng lực và kinh nghiệm, các thông tin chứađựng trong các quy luật khoa học - kết quả của những côngtrình nghiên cứu, thử nghiệm của các nhà khoa học và chuyênmôn
Trang 15Sự quan tâm đến hiện tượng thông tin gia tăng đột biếnvào thế kỷ XX và ngày nay chúng trở thành đối tượng nghiêncứu của nhiều ngành chuyên môn, trong đó có triết học, vật lý,sinh học, ngôn ngữ học, thông tin học và tin học, kỹ thuật điện
tử và truyền thông, khoa học quản lý và nhiều ngành khoa học
xã hội Về phương diện thương mại, công nghiệp dịch vụ thôngtin đã trở thành một nền công nghiệp mới mẻ mang tính toàncầu Ngày nay hầu như không một ngành công nghiệp, sản xuất
và dịch vụ nào lại không quan tâm đến thông tin Những quanđiểm và hiện tượng khác nhau của lĩnh vực này đã dẫn đếnnhững khái niệm và định nghiã khác nhau về thông tin
1.1.2 Các yếu tố cơ bản trong xử lý thông tin
Con người nhận thông tin thông qua các giác quan: âmthanh qua thính giác; nguồn thông tin và văn bản qua thị giác;trạng thái, nhiệt độ, cảm xúc qua xúc giác; mùi vị qua khứugiác Để giải thích và hiểu được các tín hiệu nhận được từ cácgiác quan, con người phải phát triển và học các hệ thống ngônngữ phức hợp, nó bao gồm một " bộ chữ cái" các tín hiệu và cáctác nhân kích thích cùng với các quy tắc sử dụng chúng Điều
đó cho phép người ta nhận ra các đối tượng mà họ nhìn thấy,hiểu được các thông báo mà họ đọc hoặc nghe, cảm nhận đượccác tín hiệu nhận được qua xúc giác và khứu giác
Các vật mang thông tin chuyển tải tín hiệu tới người nhận
có thể là sóng điện từ, sóng ánh sáng, sóng âm và các tác nhânkích thích hoá và điện hoá Cho đến trước khi máy tính điện tử
ra đời, các tín hiệu truyền đi thông qua các vật mang tin trên lànhững tín hiệu được lưu trữ và xử lý dưới dạng tương đồng, dựa
Trang 16trên công nghệ in, chụp ảnh và điên thoại Với công nghệ thôngtin hiện đại, thông tin được biểu diễn dưới dạng các tín hiệu sốnhị phân, dựa trên kỹ thuật số Đó có thể coi là bước chuyểnbiến mang ý nghĩa lịch sử vào cuối thế kỷ 20 trong cách thức
mà con người sáng tạo, tiếp cận và sử dụng thông tin
1.1.3 Các thuộc tính của thông tin
Thông tin tiềm tàng khắp nơi trong xã hội Đó là các nguồnthông tin về lao động, đất đai, tài nguyên, môi trường; thông tin
về các tổ chức và các hoạt động kinh tế, xã hội; thông tin vềkhoa học và công nghệ; thông tin về sản xuất, kinh doanhv.v Nhưng thông tin chỉ có giá trị và ý nghĩa khi nó được truyền
đi, phổ biến và được sử dụng Có thể nói bản chất của thông tinnằm trong sự giao lưu của nó Nói cách khác thuộc tính cơ bảncủa thông tin là giao lưu
Để phân biệt nội dung thông tin cần truyền đi và cách thứcchuyển giao thông tin người ta tách nội dung thông tin ra khỏihình thức biểu diễn nó Các hình thức biểu diễn thông tin (các
ký hiệu, dấu hiệu, nguồn thông tin ) là hữu hạn Nhưng nộidung của thông tin ( khái niệm, ý tưởng, sự kiện, tên v.v ) thì
vô hạn Trong trường hợp thông tin có một hình thức biểu diễn,quá trình chuyển giao thông tin chính là quá trình truyền các kýhiệu biểu diễn nó Những ý tưởng mới sẽ được truyền đi bằngmột tổ hợp mới của một số hữu hạn các ký hiệu (chữ cái, chữsố ) Trong đời sống hàng ngày thông tin được biểu diễn bằngngôn ngữ Khi đó thông tin được diễn tả bằng cú pháp và ngữnghĩa của ngôn ngữ mà người ta sử dụng
Trang 17Lý thuyết thông tin xác nhận rằng càng nhiều tín hiệu sinh
ra từ nguồn tin thì càng có nhiều thông tin được truyền đi Khi
đó thông tin được mô tả bằng sự thống kê và tổ hợp các dấuhiệu phát ra từ nguồn
Thông báo được chuyển đi bằng ghi tín hiệu lên một dạngvật chất trung gian, tức là một cái giá, gọi là vật mang tin Vậtmang tin có thể là giấy, sóng điện từ, băng từ, v.v Về mặt lýthuyết mỗi vật mang tin đều có khả năng xác định giới hạn sốluợng các tín hiệu mà nó có thể chứa đựng trên đơn vị khônggian hay đơn vị thời gian Các kỹ sư truyền thông có tráchnhiệm truyền đi chính xác các tín hiệu Nhưng họ không cầnquan tâm đến nội dung cũng như chất lượng của thông tin Rõràng là việc truyền đi chính xác một thông tin không chính xáckhông làm cho thông tin này trở nên "tốt hơn"
Trong một nghiên cứu mới đây, người ta thấy có bốn yếu
tố tác động đến chất lượng thông tin và đem lại giá trị cho nó
Đó là: tính chính xác, phạm vi bao quát của nội dung, tính cậpnhật và tần số sử dụng Trong đó quan trọng nhất là nội dung,thứ dến là tính chính xác
Trên bình diện tổng quát, ta thấy rằng thông tin có giá trị
là những thông tin có tính chất riêng biệt và thông tin có tínhchất dự báo Tính chất riêng biệt làm cho thông tin phù hợp vớiyêu cầu của người sử dụng Còn tính chất dự báo cho phépngười ta có thể lựa chọn một quyết định trong nhiều khả năngcho phép Có thể nói thêm rằng giá trị nhận thức của thông tin
dự báo liên quan mật thiết đến tímh đúng đắn của việc lựa chọnquyết định
Trang 18Trên một ý nghĩa rộng hơn, giá trị của thông tin nàm trongquyền lực tổ chức của nó Thông tin phản ánh cái xác định, trật
tự trong các mối quan hệ của tổ chức Thông tin có giá trị caocho phép người ta có thể làm môi trường tốt lên và có thể ranhững quyết định đối phó được với sự thay đổi của hoàn cảnh.Tính chất quyền lực này của thông tin còn nằm trong cách nó cóthể tượng trưng cho những kiến trúc vật chất và tinh thần vàđược phản ánh trong các định nghĩa của từ điển về động từ
"thông tin": "Thông tin là sắp xếp, hình thành, tạo thành (trí tuệ
và tính cách ) bằng cách truyền đạt kiến thức" (Oxford EnglishDictionary)
Sự vật luôn vận động, ở trạng thái bất định và chứa đựngtính ngẫu nhiên Tăng lượng tin tức về một hiện tượng nào đócũng là giảm độ chưa biết hoặc độ bất định của nó Vì vậy trênquan điểm của lý thuyết thông tin thì thông tin là sự loại trừ tínhbất định của hiện tượng ngẫu nhiên
Tính trật tự đối lập với cái bất định và ngẫu nhiên là thuộctính cơ bản của thông tin mà Lý thuyết thông tin của Claude E.Shanon phát hiện Với ý nghĩa đó thông tin là lượng đo trật tựnhân tạo chống lại sự hỗn độn của tự nhiên Chính điều đó giảithích ý nghĩa to lớn của thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt độngcủa con người
Trang 191.2 Tác động của thông tin đến việc đưa ra quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch
1.2.1 Tiếp cận thông tin điểm đến
Thông tin về điểm đến du lịch đóng vai trò đặc biệt quantrọng cho cả khách du lịch, nhà quản lý điểm đến và cũng cho
cả ngành du lịch (Nicoletta and Servidio, 2012) Việc tìm kiếmthông tin được xem là yếu tố có tác động mạnh mẽ đến sự lựachọn điểm đến sự lựa chọn điểm đến du lịch (Jacobsen andMunar, 2012) Các nguồn thông tin có thể bao gồm cả thông tinbên trong và thông tin bên ngoài; hay thông tin phi chính thức
từ người thân bạn bè và chính thức từ các tờ rơi áp phích củacông ty cũng như tổ chức du lịch (Molina and Esteban, 2006)
Một nét đặc thù là những khách du lịch quay trở lại thamquan điểm đến thường không muốn tìm thêm nguồn thông tinbên ngoài nữa mà họ dựa vào kinh nghiệm du lịch đã có đểquyết định; trong khi nguồn thông tin từ bên ngoài cơ bản là
có nhiều hữu dụng cho những du khách tiềm năng (Fodness andMurray, 1997)
Các nguồn thông tin bên ngoài không chỉ bao gồm nhữngthông tin ở thị trường mà còn từ những nguồn thông tin độc lậpnhư tin tức truyền thông, sách hướng dẫn du lịch hay thông tintruyền miệng từ người thân bạn bè
Chính công nghệ thông tin và truyền thông góp phần tácđộng đến nhiều khía cạnh của hoạt động kinh doanh du lịch.Những thông tin của nhà cung ứng về sản phẩm và dịch vụ,hình thành nên tiến trình tìm kiếm thông tin của khách hàng,
Trang 20cùng với kinh nghiệm của bản thân, tất cả được xâu chuỗi bởicông nghệ thông tin (Buhalis, 1998; Buhalis and Law, 2008) Sựphổ biến của máy tính cộng với sự phát triển của các trang báomạng, website cũng như kỹ năng sử dụng các sản phẩm côngnghệ ngày càng cao giúp cho du khách có khả năng tìm kiếm và
tổ chức các thông tin mà mình có ngày một tốt hơn (Jacobsenand Munar, 2012)
Việc tìm kiếm thông tin theo nhiều nguồn khác nhau manglại nhiều phản ứng không giống nhau ở mỗi đối tượng du khách;đây cũng là một trong những chủ đề được nhiều nhà nghiêncứu quan tâm Chính sự ảnh hưởng của nguồn thông tin tới cácquyết định tiêu dùng du lịch đã làm cho các nhà quản lý điểmđến cũng như các nhà nghiên cứu về hành vi khách hàng cónhững sự thay đổi so với trước đây (Gursoy and McCleary, 2004;Hyde, 2008)
Các nguồn thông tin về điểm đến có thể xuất phát từnhững du khách đã tham quan điểm đến đó Ngoài ra, các báo
và tạp chí cũng cung cấp những thông tin không chỉ về điểmđến mà còn về các nhà cung ứng dịch vụ du lịch; những thôngtin này ngày càng được phổ biến trên TV Thêm vào đó, cácsách hướng dẫn về điểm đến thực sự có ích trong việc thúc đẩy
du khách lựa chọn điểm đến cho chuyến đi của mình Khôngnhững vậy, thông qua internet và các website, các tổ chức quản
lý du lịch các cấp và các nhà kinh doanh du lịch cũng cung cấpmột khối lượng thông tin rất lớn về điểm đến và các vấn đề liênquan (Jacobsen and Munar, 2012) Bởi lẽ, mạng Internet gầnđây đã trở thành một nguồn quan trọng trong việc cung cấp
Trang 21thông tin về điểm đến du lịch (Guttentag, 2010; Pan andFesenmaier, 2006; Jacobsen and Munar, 2012) Dịch vụ Internetảnh hưởng đến một số khía cạnh của kinh doanh du lịch hiệnđại, thay đổi hành vi của khách du lịch trong tìm kiếm thôngtin và thông tin liên lạc (Buhalis and Law, 2008) Cụ thể hơn, sựkhác biệt các nguồn thông tin về các điểm du lịch nhằm mụcđích tạo ra góc đa chiều cho nguồn thông tin của điểm đến tớikhách du lịch.
Ngoài những thông tin chính thức từ các tổ chức hoặc công
ty, các thông tin từ các phương tiện thông tin điện tử như mạng
xã hội facebook cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnhhưởng đến quyết định đi du lịch của du khách Thực trạng này
đã mang lại nhiều đóng góp thú vị cho các nghiên cứu học thuật
và thực nghiệm (Jacobsen and Munar, 2012) Cụ thể như kếtquả các nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết của internet và nguồnthông tin truyền miệng thông qua internet đối với quá trình raquyết định du lịch trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI(Huang và cộng sự, 2010; Litvin và cộng sự, 2008); đặc biệt làkhách du lịch trẻ tuổi thường có thói quen sử dụng internettrong việc tìm kiếm thông tin và mua dịch vụ qua mạng(Morrison và cộng sự, 2001) Trong lý thuyết về hành vi tiêudùng, việc tìm kiếm các thông tin trước khi quyết định muahàng để giảm thiểu rủi ro (Gursoy and McCleary, 2004;McCleary and Whitney, 1994) Rủi ro có thể là rủi ro về tàichính, về chất lượng dịch vụ, về giá trị của tài nguyên ;những rủi ro này làm giảm đi mức độ hài lòng của du khách vàảnh hưởng trực tiếp tới lòng trung thành của họ tới điểm đến(Roehl and Fesenmaier, 1992)
Trang 22Một sự chấp nhận rộng rãi rằng mọi người không ngừng nỗlực mở rộng giới hạn tìm kiếm thông tin với mong muốn cóđược nhiều lợi ích từ quyết định lựa chọn của mình Kerstetterand Cho (2004) cho thấy sự mâu thuẫn trong kết quả nghiêncứu khi chỉ ra rằng khi kinh nghiệm du lịch tăng lên thì việc tìmkiếm thông tin giảm, trong khi các nghiên cứu khác đã chỉ rađiều ngược lại Thực tế cho thấy những người có kinh nghiệm
du lịch tìm kiếm ít thông tin hơn và nhanh hơn vì họ có thể dựavào những thông tin từ dịp trước Trong khi có những kết quảnghiên cứu khẳng định số lượng nguồn thông tin không nhấtthiết phải giảm dựa vào kinh nghiệm của họ (Lehto và cộng sự,2004) mà du khách ở mọi tình huống ngày càng sử dụng đadạng nguồn thông tin và lượng thông tin mà họ cần có (Shankaand Taylor, 2004)
Sự thành công của nguồn thông tin du lịch thường phụthuộc vào mức độ tin cậy của nó khi nó là phương tiện trao đổithông tin và tương tác xã hội (Brogan and Smith, 2009) Nguồnthông tin về du lịch có thể xuất phát từ chủ quan của cá nhânhoặc khách quan từ các tổ chức Với đặc điểm của sản phẩm dulịch là tính vô hình, nguồn thông tin cá nhân được du khách tintưởng hơn các thông tin chính thức từ các tổ chức, công ty dulịch (Murray, 1991) Vì thế, nhiều du khách chọn nguồn thôngtin truyền miệng qua các phương tiện truyền thông điện tử(eWOM) như facebook để tránh những lựa chọn ảo trên cơ sở
có tham khảo các thông tin từ website chính thức của công tyhay tổ chức du lịch Các trang web mạng xã hội như Facebookhoặc Twitter ngày càng được sử dụng như các kênh thông tincủa các tổ chức du lịch
Trang 23Phương thức truyền miệng (WOM) cách giao tiếp truyềnthông tin về sản phẩm và dịch vụ giữa người người được cho là
có thể độc lập với công ty cung cấp Điều này thể hiện thông tinliên lạc không mang tính thương mại hóa và nội dung thông tinkhông nhằm mục đích nói quá sự thật để mang lại lợi ích chonhà cung ứng sản phẩm, dịch vụ đó (Silverman, 2001) WOMđóng một vai trò quan trọng cho các tổ chức dịch vụ du lịch, đặcbiệt khi mà người tiêu dùng không thể dùng thử sản phẩm trướckhi quyết định mua (Jalilvand and Samiei, 2012) Xuất phát từnhững đặc điểm của internet về tính dễ dàng chia sẻ kiếnthức và nhanh chóng truyền tin; phương thức truyền miệngđược chia làm hai dạng, đó là truyền miệng trực tiếp (WOM –word of mouth) và truyền miệng thông qua truyền thông điện tử(eWOM – electronic word of mouth) Phương thức này tạo nênmột cách truyền tin phi chính thức từ người truyền tin đếnngười nhận tin Trong đó, truyền miệng trực tiếp thể hiện dướihình thức như một cuộc trò chuyện giữa người với người về sảnphẩm (Sen and Lerman, 2007) Do sự bùng nổ của internet,đặc điểm về chi phí thấp và độ tin cậy cao trong truyền tảithông tin, thông tin truyền miệng thông qua truyền thông điện
tử eWOM được mở rộng và ảnh hưởng nhiều đến sự lựa chọncủa người tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ (Brown và cộng sự,2007; Davis and Khazanchi, 2008; Godes and Mayzlin, 2004;Kiecker and Cowles, 2001; Xia and Bechwati, 2008; Jeong andJang, 2011) so với cách truyền miệng trực tiếp truyền thốngWOM (Zhang và cộng sự, 2010) Nguồn thông tin từ eWOM cóthể được thể hiện qua e-mail, blog web, hoặc bài đăng trêncác diễn đàn thảo luận; kết quả là một "văn bản trao đổi" dưới
Trang 24hình thức eWOM nhận được sự tin tưởng cao hơn so với các
“văn bản Marketing” về sản phẩm trên internet (Fong andBurton, 2008) Các nghiên cứu gần đây về eWOM tập trung vàonhững nguồn thông tin được đăng tải xuất phát từ động cơ thểhiện nhận xét và phản ứng của người tiêu dùng về sản phẩm,dịch vụ, điểm đến hay nhà cung ứng (Park and Kim, 2008) Cóthể thấy eWOM được phổ biến và mang lại nhiều hiệu ứng tốttrong giao tiếp hơn WOM truyền thống vì nó tiếp cận đến dukhách một cách rộng rãi và cho phép các tổ chức để theo dõi vàkiểm soát hoạt động của mình (sản phẩm, dịch vụ, sự kiện)
Như vậy, những du khách có kinh nghiệm và chưa có kinhnghiệm đi du lịch tới điểm đến cũng có xu hướng sử dụng cácnguồn thông tin không giống nhau Cụ thể như những ngườichưa bao giờ tới điểm đến thì họ có xu hướng sử dụng cả hainguồn thông tin thương mại và phi thương mại để chắc chắn vềnhững thông tin mà họ có được (Baloglu, 2001) Dựa vào cáchphân chia này, luận văn chia nguồn thông tin mà khách hàngtiếp cận để lựa chọn điểm đến là thông tin chính thức (Thông tin
từ cơ quan quản lý du lịch cấp Quốc gia và địa phương, thôngtin quảng cáo từ các công ty du lịch – những thông tin này cóthể trên các phương tiện truyền thông điện tử hoặc phi điện tử),nguồn thông tin truyền miệng (Thông tin truyền miệng trực tiếp
và gián tiếp từ bạn bè, người thân) và nguồn từ kinh nghiệmcủa bản thân du khách
1.2.2 Nguồn thông tin về điểm đến
Nguồn thông tin của điểm đến trong tâm trí du khách thểhiện cảm nhận của du khách về điểm đến đóng vai trò quan
Trang 25trọng khi xem xét các hoạt động Marketing điểm đến bởi vì nóảnh hưởng tới hành vi của du khách trong việc khuyến khích dukhách đưa ra các quyết định lựa chọn điểm đến cũng như cácdịch vụ cho chuyến đi du lịch của mình (Hanlan and Kelly,2005; Molina và cộng sự, 2010; Nicoletta and Servidio, 2012).Hầu hết các nghiên cứu trước đây xét sự tác động giữa nguồnthông tin điểm đến tới suy nghĩ và xúc cảm của du khách Khi
đó, nguồn thông tin của điểm đến đóng vai trò thúc đẩy quátrình ra quyết định Một số nghiên cứu khác lại khám phá sựhình thành nên nguồn thông tin điểm đến, bởi lẽ cảm nhận mà
du khách có được về điểm đến có thể được hình thành từ kinhnghiệm của du khách về điểm đến hay có thể từ những thôngtin về điểm đến mà du khách tìm hiểu được Như vậy, nguồnthông tin điểm đến có thể được hình thành đối với cả du khách
đã từng tới điểm đến hoặc du khách tiềm năng chưa bao giờ
có kinh nghiệm tham quan điểm đến mà do qua những thôngtin về điểm đến tác động Chính vì thế mà Jacobsen and Munar(2012) cho rằng thông tin về điểm đến thực sự có tác độnglớn tới hành vi của du khách cũng như hoạt động Marketingđiểm đến Các thông tin mà du khách có được về điểm đến từkinh nghiệm bản thân, từ người thân bạn bè hay từ các thôngtin chính thức của các cơ quan quản lý điểm đến, các côngty
Trong đó đặc biệt các nghiên cứu gần đây tập trung vàovai trò của của nguồn thông tin truyền miệng tới việc hìnhthành nên nguồn thông tin của điểm đến trong tâm trí du khách(Echtner and Ritchie, 2003; Tasci and Gartner, 2007;Balakrishnan và cộng sự, 2011) Theo các tác giả, nguồn thông
Trang 26tin truyền miệng có độ tin cậy cao trong việc giúp người thunhận thông tin có thể dễ dàng hình dung ra điểm đến với nhữngnét đặc trưng như giá trị tài nguyên, các dịch vụ, giá cả tại điểmđến Baloglu and McCleary (1999), Beerli and Martin (2004)minh chứng rằng kênh thông tin truyền miệng là kênh trungthực nhất trong việc tạo nên nguồn thông tin của điểm đến.
Việc tìm kiếm thông tin du lịch và hành vi mua và thamquan điểm đến, thưởng thức những bãi biển của một điểm đến,thưởng thức ẩm thực địa phương có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Đa phần du khách tự cung cấp cho mình một lượng thôngtin cần thiết về điểm đến và các yếu tố liên quan đến chuyến đitrước chuyến đi Nguồn thông tin mà họ tiếp cận có thể rất đadạng như thông tin điện tử hay phi điện tử, thông tin chính thứchay phi chính thức (tùy theo cách phân loại và mục tiêunghiên cứu của mối tác giả) Nguồn thông tin và internet là mộtphần quan trọng tác động đến hành vi của du khách trướcchuyến đi như lập kế hoạch đi du lịch, đặt dịch vụ và thanhtoán cho sản phẩm và dịch vụ (Hyde, 2008) Các thông tin mà
du khách tìm hiểu hoặc có được có thể chịu sự tác động kháchquan của các nguồn thông tin từ bên ngoài hoặc có thể có đượcnhững thông tin hay hiểu biết về điểm đến từ chính những kinhnghiệm đi du lịch tới điểm đến trong quá khứ Chính vì thế mà
Um and Crompton (1992) đã khẳng định về mối quan hệ tươngthích giữa kinh nghiệm đi du lịch và sự ưu tiên hay sự yêuthích các điểm đến Đây là cơ sở để xác định rằng các đặc điểmhay thuộc tính khác nhau của các điểm đến chịu sự tác độngđến của kinh nghiệm đi du lịch và những đánh giá về điểm đếncủa du khách trước đó Theo thời gian rất nhiều nhà nghiên cứu
Trang 27đánh giá sự tác động của các nguồn thông tin liên quan đếntính toàn vẹn của một hành trình từ sự tác động tới cảm nhận
về điểm đến, động cơ bên trong của du khách cho tới thái độđối với điểm đến cũng như sự lựa chọn điểm đến hay một dịch
vụ du lịch nhất định (Fodness and Murray, 1997; Crompton,1981; Gitelson and Crompton, 1983; Gursoy and McCleary,2004; Prebensen và cộng sự, 2010; Jacobsen and Munar, 2012;Mutinda and Mayaka, 2012; Kiralova and Pavliceka, 2015) Vìthế mà luận văn xem xét vai trò của nguồn thông tin về điểmđến và sự lựa chọn điểm đến cũng như lòng trung thành của dukhách là hoàn toàn có cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn khi
mà truyền thông và internet ngày càng đóng vai trò quan trọngtác động đến hành vi của người tiêu dùng nói chung và ngườitiêu dùng du lịch nói riêng
1.3 Hành vi thông tin
1.3.1 Khái niệm hành vi thông tin
HVTT là thuật ngữ dùng để mô tả cách thức con ngườitương tác với thông tin, từ cách con người tìm kiếm, khai thác,chọn lọc, sử dụng, chia sẻ và tái tạo thông tin HVTT là toàn bộhành vi con người liên quan đến thông tin, bao gồm hành vi thụđộng và vô ý như ngẫu nhiên gặp thông tin, cũng như hành vi
có mục đích mà không liên quan đến tìm kiếm, như chủ độngtránh thông tin [2] HVTT có thể có ý thức hay tiềm thức, biểuhiện hay tiềm ẩn, tự nguyện hay bắt buộc, là hành vi có thể đanxen với các hoạt động hàng ngày của mỗi người
Trang 28HVTT là một thuật ngữ với nghĩa rộng bao trùm các khíacạnh khác nhau của hành vi con người liên quan đến thông tin,được dùng để chỉ các cách thức con người tương tác với thôngtin (TT), cụ thể là các cách thức tìm kiếm và sử dụng TT của conngười Nói cách khác, HVTT là những hoạt động mà một cá nhân
có thể tham gia khi xác định nhu cầu tin của mình, tìm kiếm TT
và sử dụng hoặc chuyển giao TT [3]
1.3.2 Mô hình hành vi thông tin
Lý thuyết và mô hình HVTT thường tập trung vào mộttrong ba khía cạnh lớn của HVTT, đó là tìm kiếm thông tin, đượchiểu như tìm tin, tra cứu tin, khai thác thông tin và hiểu biếtthông tin; khía cạnh thứ hai là tổ chức thông tin và thứ ba là sửdụng thông tin Mặc dù vậy, cả ba khía cạnh này liên quan chặtchẽ với nhau mà không có sự tách biệt và phân định quá lớn
Mỗi mô hình HVTT đều thể hiện quan điểm tiếp cận khácnhau, tuy vậy, các mô hình đều nhấn mạnh đến các khía cạnhtiêu biểu của các giai đoạn trong mô hình Các quan điểm tiếpcận bao gồm quan điểm hành vi, quan điểm nhận thức - hành
vi, quan điểm nhận thức - tình cảm và quan điểm tích hợp
1.3.2.1 Mô hình hành vi
Mô hình hành vi tìm kiếm thông tin của tác giả Ellis [8] baogồm 6 đặc điểm chung Những đặc điểm này được mô tả dựatrên những nghiên cứu về các nhà khoa học xã hội, nhà vật lý,nhà hoá học, kỹ sư và các nhà nghiên cứu trong một nhà máy.Sáu đặc điểm khái quát của mô hình này bao gồm: khởi đầu(Starting), xâu chuỗi (Chaining), lướt (Browsing), phân biệt
Trang 29(Differentiating), kiểm tra (Monitoring), trích lọc (Extracting),xác thực (Verifying) và kết thúc (Ending).
Mô hình Ellis [8]
- Khởi đầu (Starting): Xác định nguồn tìm phù hợp
- Xâu chuỗi (Chaining): Theo dõi và kết nối nguồn mới đượctìm thấy trong nguồn tìm ban đầu (quay trở lại hoặc tiếp tục)
- Lướt (Browsing): Nhìn lướt nội dung của các nguồn tìmbằng cách nhìn lướt qua mục lục, bảng tra, chủ đề, nhan đề
- Phân biệt (Differentiating): Trích lọc và đánh giá cácnguồn tìm hữu dụng và lựa chọn nguồn tìm bằng cách phân tích
sự khác biệt giữa bản chất tự nhiên và chất lượng mà thông tinmang lại
- Kiểm tra (Monitoring): Cập nhật chủ đề cho trước bằngcách kiểm tra thường xuyên nguồn tìm chính
- Trích lọc (Extracting): Làm việc một cách hệ thống thôngqua một nguồn tìm tài liệu đã có
- Xác thực (Verifying): Kiểm tra tính chính xác của thôngtin
Trang 30- Kết thúc (Ending): Quá trình tìm kiếm kết thúc.
Mô hình này cho thấy, các mối liên hệ chi tiết hay tươngtác giữa các thành phần trong bất kỳ mô hình hành vi tìm kiếmthông tin của cá nhân phụ thuộc vào từng hoàn cảnh nhất địnhcủa hoạt động tìm kiếm thông tin tại thời điểm cụ thể
Sau đó, tác giả Meho và Tibbo [12] đã hiệu chỉnh mô hìnhhành vi tìm kiếm thông tin của Ellis và đề xuất một mô hình vớinhiều đặc điểm mới hơn Meho và Tibbo đã nhận thấy các hoạtđộng trong mô hình HVTT của Ellis không hoàn toàn bắt buộcphải theo trình tự các giai đoạn, mà có thể thay đổi, điều chỉnhphụ thuộc theo nhu cầu hay một số yếu tố khác Với sự kế thừa
và phát triển này, HVTT của các nhà nghiên cứu khoa học xã hội
đã được chia thành 4 giai đoạn liên quan lẫn nhau, gồm có: tracứu, truy cập/ tiếp cận, xử lý và kết thúc
Trang 31Mô hình hành vi thông tin của các nhà khoa học xã hội
[12]
1.3.2.2 Mô hình nhận thức - hành vi
Mô hình Johnson bao gồm 7 thành tố được tập hợp trong
ba nhóm chính Mô hình này bắt đầu từ trái sang phải với yếu tố
“tiền đề” (antededent) Những yếu tố này thúc đẩy một cá nhântìm kiếm thông tin Nhóm yếu tố này bao gồm yếu tố cá nhân(tuổi, giới tính, dân tộc, kinh nghiệm, niềm tin, tình trạng kinh tế
- xã hội như giáo dục, nghề nghiệp, sức khoẻ ) Nhóm yếu tốthứ hai là nhân tố chuyển giao thông tin và nhóm thứ ba là cáchoạt động tìm kiếm thông tin Dựa trên mô hình này cho thấy,người dùng tin có xu hướng tìm kiếm thông tin trực tiếp hoặcdựa trên các kênh liên cá nhân, hoặc kênh trung gian như in ấnhoặc đa phương tiện [2] Và mô hình này có tính chất mộtchiều, mà không phản ánh vòng phản hồi giữa các hoạt động vàcác tiền đề
Trang 32Mô hình tìm kiếm thông tin của Johnson 1.3.2.3 Mô hình nhận thức - tình cảm
Ở cách tiếp cận nhận thức - tình cảm, các nghiên cứu xâydựng mô hình cho thấy ít có sự chú trọng về mặt vật lý của quátrình tìm kiếm thông tin hay hệ thống thông tin, mà trong đócác mô hình nhận thức nhấn mạnh đến cá nhân và những yếu
tố liên quan đến cá nhân người dùng tin như môi trường, nguồnthông tin, kỳ vọng, cảm xúc, kinh nghiệm, sự tưởng tượng, giátrị, cũng như những kiến thức mang tính lý thuyết về các miềncảm xúc như miền tình cảm, nhận thức, cảm nhận, không gianlàm việc, tình trạng tri thức, khoảng trống vấn đề và tình trạng
mơ hồ [9]
Một trong những mô hình tiêu biểu của khuynh hướng này
là mô hình lý thuyết kiến tạo nghĩa của tác giả Dervin, trong đó,nhu cầu tin xuất hiện trong phạm vi thời gian, không gian Vớibối cảnh, khoảng trống, đầu ra, cầu nối, mô hình HVTT củaDervin đã hình thành như một cách thể hiện quan điểm xâydựng mô hình dựa trên nhận thức - tình cảm của người dùng tin
Trang 33Mô hình kiến tạo nghĩa của Dervin [6]
Trong số những nhà nghiên cứu, tác giả Kuhlthau [10] đãnghiên cứu thực nghiệm về hành vi tìm kiếm thông tin của sinhviên và phát triển mô hình tổng quát về quá trình tra cứu thôngtin (ISP) Quá trình này gồm có 6 giai đoạn: khởi đầu, lựa chọn,khám phá, xây dựng, thu thập và thể hiện Các giai đoạn thểhiện sự phát triển suy nghĩ về vấn đề nghiên cứu, cảm xúc liênquan đến quá trình tra cứu, các hoạt động tìm kiếm và sử dụngnguồn tìm Mô hình này không chỉ đơn thuần là tìm kiếm thôngtin về phương diện kỹ thuật mà đó là sự kết hợp giữa tình cảm(cảm xúc), nhận thức (ý tưởng) và vật lý (hành động và chiếnlược hành động)
Trang 34Mô hình quá trình tra cứu thông tin [11]
Mô hình của tác giả Kuhlthau [11] nhấn mạnh đến vai tròchủ động của người dùng tin trong quá trình tìm kiếm thông tin,khi đó, kiến thức của người dùng tin là sinh viên (đối tượngnghiên cứu) tăng lên khi tương tác với thông tin Quan trọnghơn, ở mô hình này, quá trình nhận thức liên quan đến quá trìnhtìm kiếm thông tin của người dùng tin Thông qua quá trình này,sinh viên có những chiến lược nhận thức như động não, dự tính,
dự đoán, tư vấn, đọc hiểu, chọn lọc, xác định, định nghĩa và xácnhận Tuy nhiên, mô hình này không đề cập nhiều đến các thaotác kết hợp liên quan đến thông tin như phân tích, tổ chức, tổnghợp, đánh giá thông tin được tìm thấy hay quá trình chuyển đổithông tin và dữ liệu thành tri thức cũng không được đề cập đếntrong mô hình này Nhìn chung, mô hình HVTT này được tác giảphân tích từ quan điểm của tâm lý học, đó là cách tiếp cận nhậnthức - tình cảm con người Ngoài ra, mô hình HVTT của Kuhlthautập trung vào quá trình tìm kiếm thông tin với những hoạt độngliên quan đến tìm kiếm, mà không chú trọng cách thức sinh viên
Trang 35sử dụng, tổng hợp và đánh giá thông tin đã tìm thấy như thếnào.
1.3.2.4 Mô hình hành vi thông tin tích hợp
Hầu hết các tác giả đã phát triển các mô hình HVTT dựatrên mô hình tìm kiếm thông tin trong HVTT, như tác giả Wilson[17,19,20] đã phát triển mô hình tổng quát về HVTT không chỉliên quan đến nhu cầu tin, tìm tin mà còn liên quan đến các khíacạnh của xử lý thông tin cũng như những ứng dụng của thôngtin Tác giả đã tiếp cận mô hình từ quan điểm xã hội học như lýthuyết liên quan đến cá nhân, đến học tập của cá nhân trong xãhội; quan điểm kinh tế học như chi phí, giá cả và thời gian đểtìm kiếm thông tin; quan điểm tâm lý học (nhân cách, tác động,nhận thức của cá nhân) và lý thuyết kiến tạo nghĩa (sensemaking) của tổ chức
Mô hình HVTT của tác giả Wilson đã xây dựng các kháiniệm về nhu cầu tin, tìm kiếm thông tin, trao đổi thông tin và sửdụng thông tin trong một sơ đồ chu trình với HVTT của cá nhânliên quan đến nhu cầu tìm tin Mô hình này cho thấy hành vi tìmkiếm thông tin được hình thành như là kết quả nhu cầu tin củangười dùng tin Nhằm mục tiêu thoả mãn nhu cầu tin, ngườidùng tin yêu cầu các nguồn thông tin hay dịch vụ thông tinchính thức, phi chính thức Khi đó, người dùng tin có thể thànhcông hoặc thất bại trong quá trình tìm kiếm thông tin thích hợp.Nếu thành công, người dùng tin sẽ sử dụng thông tin đó để thoảmãn nhu cầu tin của mình, hay ngược lại, quá trình tìm kiếmthông tin sẽ tái thực hiện để đạt được mục tiêu cuối cùng làthoả mãn nhu cầu tin của mình Ở mô hình này cho thấy, một
Trang 36phần của hành vi tìm kiếm thông tin có thể liên quan đến ngườikhác trong quá trình trao đổi cũng như sử dụng thông tin Tuynhiên, hạn chế của mô hình này chính là tác giả không đề cậpđến các yếu tố ảnh hưởng đến HVTT hay bối cảnh nảy sinh nhucầu và hành vi của người dùng tin.
Mô hình hành vi tìm kiếm thông tin của Wilson
Tác giả Choo và các cộng sự [4,5] đã phát triển mô hìnhhai phương diện (two-dimensional model) mà trong đó kết hợpcác giai đoạn của quá trình tìm kiếm thông tin của Ellis và bốn
mô hình tìm kiếm thông tin chủ động và ngẫu nhiên dựa vào môhình của Wilson [19] và lý luận về môi trường [3] Sự kết hợpnày đã hình thành mô hình tìm kiếm thông tin, mô tả nhữngthay đổi có tính hệ thống về các mẫu tìm kiếm thông tin như là
sự thay đổi của cá nhân thông qua quá trình tìm kiếm thông tin
Trang 37Ngoài ra, một mô hình HVTT có thể vận dụng được trong tất cảcác lĩnh vực.
Mô hình tìm kiếm thông tin của các chuyên gia
Mô hình này nghiên cứu hành vi tìm tin bởi 3 nhóm nghềnghiệp khác nhau gồm kỹ sư, chuyên gia y tế (y tá, bác sỹ, nhasỹ) và luật sư Mô hình thể hiện vai trò và các trách nhiệm liênquan đến từng lĩnh vực nghề nghiệp trong công việc hàng ngàynhằm thoả mãn nhu cầu tin Các đặc điểm về nhu cầu tin thayđổi phụ thuộc nghề nghiệp của cá nhân, giai đoạn nghề nghiệp
và chuyên môn Mô hình gồm các thành tố, bắt đầu từ vai trò,trách nhiệm công việc làm nảy sinh nhu cầu với các đặc điểmkhác nhau người dùng tin nhận thức được thông tin từ cácnguồn khác nhau để thoả mãn nhu cầu và kết thúc là đầu racủa quá trình tìm kiếm
Trang 38Tóm lại, những mô hình HVTT hiện tại có một số đặc điểmchính.
Thứ nhất, các mô hình HVTT có khuynh hướng tập trung
vào tìm kiếm thông tin chủ động Mô hình HVTT được hìnhthành từ các bối cảnh khác nhau với sự kết hợp giữa cá nhântrong bối cảnh đó Có ba loại hình bối cảnh mà thường có tácđộng lớn đến quá trình xác định mô hình HVTT, bao gồm nghềnghiệp, vai trò xã hội và nhóm yếu tố cá nhân [2]
Thứ hai, các mô hình tìm kiếm thông tin được xây dựng
dựa trên kết quả nghiên cứu của các học giả hay chuyên gianhư mô hình của tác giả Ellis [8], Kuhlthau [10], hay những môhình mô tả các loại hình tra cứu thông tin có tính hệ thống trongmôi trường học thuật hay môi trường làm việc Những mô hìnhnày có khuynh hướng phản ánh phân tích cá nhân, nhấn mạnhđến nhu cầu hiện tại và không nhằm đánh giá chính thức cácloại HVTT của cá nhân liên quan đến đời sống hàng ngày
Kế tiếp, nhiều mô hình đã được xây dựng và phát triển dựatrên cách tiếp cận nhận thức Tác giả Savolainen [15] đã nhấnmạnh đến quá trình nhận thức của cá nhân để hình thành nhucầu thông tin thông qua sự tương tác trong bối cảnh cá nhân vàvăn hoá xã hội Hay tác giả Tuominen and Savolainen [16] đã
đề xuất mô hình HVTT dựa trên cách tiếp cận phân tích ngônngữ giao tiếp khi nghiên cứu người tìm kiếm thông tin trong bốicảnh xã hội Trên cơ sở đó, nghiên cứu cung cấp cách hiểu vềcách thức mà cấu trúc biện luận của thông tin được thiết kếtheo ngữ cảnh nhằm phục vụ những mục đích giao tiếp khác
Trang 39nhau Hình thức phân tích ngôn ngữ giao tiếp này còn được pháttriển bởi các nhà tâm lý học xã hội khác [13,14]
Dù ở mô hình HVTT cụ thể nào, thì một điểm chung chính
là các mô hình HVTT hiện tại đã được phát triển trong bối cảnh
cụ thể và riêng biệt, thể hiện chung nhất về cách thức mà conngười tìm kiếm, tra cứu, tổ chức và sử dụng thông tin Tronglĩnh vực du lịch, nghiên cứu mô hình HVTT có ý nghĩa rất lớn đốivới hoạt động thu hút khách du lịch của điểm đến
1.3.3 Ý nghĩa của nghiên cứu mô hình hành vi thông tin trong hoạt động du lịch
Trong nghiên cứu HVTT, xây dựng mô hình thường khởiđầu là quan sát biểu hiện bên ngoài, hay điều tra thực nghiệmhành vi thực tế, được mô tả trong một mô hình thể hiện cấutrúc và những đặc điểm của mô hình Mô hình HVTT thườngđược nhận diện thông qua cách nhìn lý thuyết hoá đã được cácnhà nghiên cứu chọn, hoặc đó là các loại HVTT, hoặc đó lànhững định hướng mang tính lý thuyết như quan điểm hành vi,nhận thức, phân tích ngôn ngữ giao tiếp, tâm lý học, văn bản,
xu hướng tạo dựng, thực chứng và hiện tượng Một mô hình lýthuyết hình thành bởi nhiều cấu trúc cơ bản, đặc điểm và mốiquan hệ giữa các hành vi khác nhau Trong hoạt động du lịch,nghiên cứu mô hình HVTT của khách du lịch có một số ý nghĩanhất định
Trang 401.3.3.1 Nhận diện các đặc điểm về hành vi thông tin của khách
du lịch
Mô hình HVTT rất có ích trong quá trình mô tả và dự đoánđược các giai đoạn nhằm hiểu về một hiện tượng bất kỳ Dovậy, quá trình xác định và nhận diện mô hình HVTT của khách
du lịch, các doanh nghiệp và nhà quản lý có thể nhận diện đượccác điểm đặc trưng nổi bật về HVTT của khách du lịch Nhữngđặc điểm này được biểu hiện qua hành vi của khách du lịch khi
họ tương tác với thông tin, tìm kiếm, xử lý, lưu trữ, tổ chức, sửdụng thông tin và thoả mãn nhu cầu tin Ngoài ra, trong môhình còn thể hiện mối tương quan giữa các thành phần trong
mô hình cũng như các yếu tố tác động đến HVTT của khách dulịch Nhận diện được những đặc điểm này góp phần giúp cácnhà quản lý có thể tác động hay can thiệp một cách chủ động
và tích cực đến hành vi của khách du lịch khi tiếp cận thông tin
1.3.3.2 Thiết kế hệ thống thông tin hỗ trợ hành vi khách du lịch
Dựa trên những đặc điểm về HVTT của khách du lịch đãđược mô hình hoá, các nhà quản lý có thể thiết kế công cụ mớihoặc cải thiện các công cụ, hệ thống tra cứu thông tin hiện cócủa các họ Từ đó, các hệ thống, công cụ này sẽ hỗ trợ hiệu quảhơn cho quá trình tìm kiếm và sử dụng thông tin của khách dulịch Chẳng hạn, trong bối cảnh ứng dụng công nghệ hiện đại,khách du lịch ít có thời gian đến và trực tiếp sử dụng nguồn lựcthông tin trên TV, báo giấy,quảng cáo mà họ có xu hướng truycập gián tiếp từ xa thông qua hệ thống Internet và có hành vitra cứu thông tin từ các giao diện tìm kiếm thân thiện, chuyênnghiệp và tin cậy, các nhà quản lý có thể xây dựng các sản