TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH ĐỀ TÀI Nghiên cứu về các loại hình kiểm toán phân loại theo hệ thống bộ máy tổ chức Sinh viên thực hiện Huỳnh Tấn Đức MSV 11[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu về các loại hình kiểm toán phân
loại theo hệ thống bộ máy tổ chức
Sinh viên thực hiện : Huỳnh Tấn Đức
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG Chương I: Những cơ sở lý luận chung 4
1.1 Sự hình thành và phát triển của kiểm toán……….4
1.2 Khái niệm kiểm toán 5
1.3 Khái quát các cách phân loại kiểm toán 7
1.4 Đặc trưng của từng loại hình kiểm toán được phân loại theo hệ thống bộ máy tổ chức 7
1.4.1 Kiểm toán Nhà nước 8
1.4.1.1 Khái niệm kiểm toán Nhà nước 8
1.4.1.2 Những đặc trưng của kiểm toán Nhà nước 8
1.4.1.3 Mô hình của kiểm toán Nhà nước………9
1.4.2 Kiểm toán nội bộ 11
1.4.2.1 Khái niệm kiểm toán nội bộ 11
1.4.2.2 Những đặc trưng của kiểm toán nội bộ 11
1.4.2.3 Mô hình của kiểm toán nội bộ……… 13
1.4.3 Kiểm toán độc lập 14
1.4.3.1 Khái niệm kiểm toán độc lập 14
1.4.3.2 Những đặc trưng của kiểm toán độc lập 14
1.4.3.3 Mô hình của kiểm toán độc lập……… 15
Chương II: Thực trạng tổ chức kiểm toán tại Việt Nam 17
2.1 Thực trạng tổ chức kiểm toán nhà nước 17
2.2 Thực trạng tổ chức kiểm toán nội bộ 20
2.3 Thực trạng tổ chức kiểm toán độc lập 22
Phần III: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán tại Việt Nam 24
3.1 Kiểm toán nhà nước 24
3.1.1 Đánh giá thực trạng……… 24
Trang 33.1.2 Giải pháp hoàn thiện……… 25
3.2 Kiểm toán nội bộ 28
3.2.1 Đánh giá thực trạng……… 29
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện……….29
3.3 Kiểm toán độc lập 33
3.3.1 Đánh giá thực trạng……….……….33
3.3.2 Giải pháp hoàn thiện………34
KẾT LUẬN……… …38
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Kiểm toán là một lĩnh vực vẫn còn rất mới mẻ tại Việt Nam Lịch sử hình thành
và phát triển của kiểm toán Việt Nam bắt đầu từ những năm đầu 1990, tuy vậy về mặt lý luận cũng như thực tiễn công tác kiểm toán ở Việt Nam vẫn chưa được phổ biến rộng rãi Xuất phát chính từ những nhu cầu tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường, đó là đòi hỏi các hoạt động kinh tế - tài chính phải được diễn ra một cáchbình đẳng, minh bạch và công khai Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đã hình thành, phát triển và ngày càng trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh, nâng cao chất lượng quản lý của doanh nghiệp Đồng thời, cũng là bộ phận cấu thành quan trọng của quản lý vĩ mô nền kinh tế - tài chính góp phần tích cực vào phát triển kinh tế đất nước Đến nay ngành kiểm toán đã tạo được cho mình những bước tiến bộ đáng kể, song bên cạnh đó vẫn còn không ít những đòi hỏi, thách thức đặt ra đối với ngành kiểm toán trong môi trường hội nhập, cạnh tranh gay gắt Vì vậy, ngành kiểm toán cần có những phươnghướng phát triển mới phù hợp với điều kiện hiện đại, điển hình là việc phân loại kiểm toán theo tổ chức bộ máy sẽ góp phần tích cực trong việc phát triển trong tương lai Được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của cô Nguyễn Thanh Diệp, em
đã tiến hành nghiên cứu và lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu về các loại hình kiểm
toán phân loại theo hệ thống bộ máy tổ chức” Bài đề án của em ngoài lời mở đầu
và kết luận được trình bày với kết cấu như sau:
Phần I: Những cơ sở lý luận chung
Phần II: Thực trạng tổ chức hoạt động kiểm toán tại Việt Nam
Phần III: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán tại Việt Nam
Vì thời gian có hạn nên đề án của em rất khó tránh khỏi những sai sót, mong thầy côgóp ý giúp em hoàn thiện đề án tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÌNH THÀNH
VÀ CÁC LOẠI KIỂM TOÁN PHÂN LOẠI THEO HỆ THỐNG TỔ CHỨC BỘ MÁY
1.1 Sự hình thành và phát triển của kiểm toán
Kiểm toán được bắt nguồn từ hoạt động kiểm tra, kiểm soát Đây là yêu cầu tất yếu của quản lý và có thể thực hiện ngay trong các hoạt động quản lý hoặc tách thành hoạt động độc lập Lịch sử phát triển của kiểm toán có thể chia thành ba thời
kỳ sau:
Thời kỳ cổ đại: Trong giai đoạn đầu của thời kỳ cổ đại, xã hội còn chưa có của
cải thừa kế toán được thực hiện chủ yếu bằng những dấu hiệu riêng trên sợi dây, thân cây , lá cây Do đó, nhu cầu kiểm tra trong quản lý còn ít và ở mức độ đơn giản Vào cuối thời kỳ này, sản xuất đã phát triển, của cải thừa ngày càng nhiều, người sở hữu tìa sản và người quản lý, cất trữ tài sản đã tách rời nhau
Thời kỳ trung đại: Trong thời kỳ này, do có sự hoàn thiện và phát triển dần của
kế toán, đặc biệt sự xuất hiện của kế toán kép nên người kế toán có thể tự đối chiều việc ghi chép của mình đúng hay sai Do đó, hoạt động kiểm tra độc lập không còn tồn tại
Những năm 30 của thế kỷ XX, hàng loạt tổ chức tài chính trên thế giới lâm vào
tình trạng phá sản và khủng hoảng kinh tế, suy thoái về tài chính diển ra Người ta nhận thấy việc tự kiểm tra của kế toán không còn đáp ứng được yêu cầu của sự pháttriển Vì vậy, hoạt động kiểm tra độc lập xuất hiện trở lại, các quy chế về kiểm toán viên bên ngoài được thành lập, việc kiểm tra của các kiểm toán viên nội bộ cũng bắtđầu phát triển Năm 1941, Trường đào tạo Kiểm toán viên nội bộ ( IIA ) được thànhlập cũng công bố việc xác định chính thức về chức năng của kiểm toán nội bộ
Ở Việt Nam, kiểm toán bắt đầu xuất hiện từ trước những năm 75: Các văn phòng
kế toán với giám định viên kế toán và cả văn phòng kiểm toán quốc tế như SGV, Arthur Andersen đã thực sự là những trung tâm thực hành kế toán, kiểm toán Sau ngày giải phóng, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, kiểm toán độc lập cũng không tồn tại Từ những năm 90, sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, kiểm toán độc lập trở thành một đòi hỏi cấp thiết Trước đòi hỏi đó, ngày 13 tháng 05 năm 1991,
Bộ Tài chính đã ký hai quyết định thành lập hai công ty: Công ty Kiểm toán Việt
Trang 7Nam (VACO) và Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài Chính, Kế toán và Kiểm toán
(AASC) Tiếp theo đó là sự xuất hiện của các công ty kiểm toán Ernst and Young, KPMG, PWC, A&C, DAC
Năm 1994, cơ quan kiểm toán Nhà nước đầu tiên của Việt Nam được thành lập Ban đầu nó là cơ quan trực thuộc của chính phủ Đến ngày 01 tháng 01 năm 2006,
cơ quan này chuyển từ trực thuộc chính phủ sang trực thuộc Quốc hội và Luật kiểm toán Nhà nước bắt đầu có hiệu lực
Năm 1997, cùng với việc ban hành quyết định số 832/TC/QĐ/CĐKT ngày 28 tháng 10 của Bộ Tài Chính về Quy chế kiểm toán nội bộ, Kiểm toán nội bộ chính thức xuất hiện Tuy nhiên, kiểm toán nội bộ ở nước ta cho đến nay chưa thực sự phát triển mà mới chỉ đang trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện dần
1.2 Khái niệm kiểm toán
Kiểm toán là một lĩnh vực còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nó thực sự mới xuất hiện và du nhập vào nước ta từ hơn một chục năm cuối thế kỷ XX Do đó hiện nay trong quá trình áp dụng và phát triển kiểm toán, chúng ta vẫn chưa có sự thống nhất chung trong việc hiểu và dùng các khái niệm chuyên ngành đặc biệt đối với thuật ngữ “Kiểm toán” Tuy nhiên có thể khái quát khái niệm kiểm toán theo ba loại quanđiểm chính như sau:
Quan điểm truyền thống về kiểm toán: Theo quan điểm này, kiểm toán được
đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một chức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán Nội dung của hoạt động này là rà soát các thong tin từ kế toán đến tổng hợp cân đối kế toán Quan điểm này chỉ phù hợp trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung Trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển, nhà nước vừa là chủ
sở hữu, vừa là người lãnh đạo trực tiếp nền kinh tế Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường hiện nay, những đối tượng quan tâm đến thông tin kế toán không chỉ có Nhà nước mà còn có các nhà đầu tư, nhà quản lý, khách hàng, người lao động Do đó, công tác kiểm tra cần phải được thực hiện rộng rãi, đa dạng song thật khoa học, khách quan, trung thực, đủ sức thuyết phục và tạo niềm tin cho những người quan tâm Trong điều kiện đó, tách kiểm toán thành một môn khoa học độc lập ra khỏi hoạt động kế toán là một xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử
Quan điểm về kiểm toán theo thời điểm phát triển: phát sinh cùng thời với cơ chế
thị trường Theo quan điểm đó, kiểm toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về
Trang 8các bảng khai tài chính của các thực thể kinh tế do các kiểm toán viên độc lập thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực
Quan điểm hiện đại về kiểm toán Theo quan điểm này, kiểm toán bao gồm 4
lĩnh vực:
Thứ nhất Kiểm toán về thông tin hướng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu (thông tin) làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ về kinh tế và tạo niềm tin cho những người quan tâm đến tài liệu kế toán Thứ hai Kiểm toán tính quy tắc hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, thể lệ, luật pháp của đơn vị kiểm tra trong quá trình hoạt động
Thứ ba Kiểm toán hiệu quả có đối tượng trực tiếp là các yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua bán, sản xuất hay dịch vụ Kiểm toán loại này giúp ích trực tiếp cho việc hoạch định chính sách và phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện hoặc cải tổ hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán
Thứ tư Kiểm toán hiệu năng được đặc biệt quan tâm ở khu vực công cộng (kể cảcác xí nghiệp công và các chương trình đầu tư từ ngân sách Nhà nước) nơi mà lợi ích và hiệu quả không còn giữ nguyên vẹn ý nghĩa của nó như trong nghiệp, nơi mà năng lực quản lý cần được đánh giá toàn diện và bồi bổ thường xuyên nhằm không ngừng nâng cao hiệu năng quản lý của đơn vị kiểm toán Tất nhiên loại kiểm toán này cũng cần và có thể ứng dụng đối với quản lý toàn bộ doanh nghiệp hoặc với từng bộ phận quản lý của mọi đơn vị kiểm toán
Các quan điểm nêu trên đều có mặt đúng xét trên khía cạnh nó phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của từng giai đoạn Tuy nhiên để đảm bảo tính thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ và sự đầy đủ, chính xác về mặt ý nghĩa chúng ta có thể
đi đến một kết luận như sau: “Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứngthực hiện trên cở sở hệ thống pháp lý có hiệu lực” (Giáo trình Lý thuyết kiểm toán)
Trang 91.3 Khái quát các cách phân loại kiểm toán
Qua quá trình nghiên cứu lịch sử và bản chất kiểm toán, chúng ta đã tiếp cận nhiều loại kiểm toán khác nhau Với mục đích nhận thức rõ hơn về kiểm toán cũng như có cơ sở tổ chức tốt công tác kiểm toán chúng ta cần phân loại tìm hiểu theo nhiều tiêu thức khác nhau:
Theo đối tượng cụ thể: Kiểm toán có thể phân thành kiểm toán (bảng khai) tài
chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán liên kết.
Theo lĩnh vực cụ thể: Có thể phân chia kiểm toán thành kiểm toán thông tin,
kiểm toán quy tắc (tuân thủ), kiểm toán hiệu năng và kiểm toán hiệu quả.
Theo phương pháp áp dụng trong kiểm toán: Kiểm toán phân thành kiểm toán
chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ.
Theo quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán: Có thể phân kiểm toán thành
nội kiểm và ngoại kiểm.
Theo phạm vi tiến hành kiểm toán: Có thể phân thành kiểm toán toàn diện và
kiểm toán chọn điểm (điển hình).
Theo tính chu kỳ của kiểm toán: Có thể phân kiểm toán thành kiểm toán thường
kỳ, kiểm toán định kỳ và kiểm toán bất thường (đột xuất).
Theo quan hệ về thời điểm kiểm toán với thời điểm thực hiện hoạt động: Kiểm
toán bao gồm kiểm toán trước, kiểm toán trong và kiểm toán sau.
Theo tổ chức bộ máy kiểm toán: Có thể phân kiểm toán thành Kiểm toán Nhà
nước, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập.
Theo quan hệ pháp lý của kiểm toán: Có thể có kiểm toán bắt buộc và kiểm toán
tự nguyện
Theo tính chất và phạm vi của kiểm toán: Có thể phân thành kiểm toán ngân
sách và tài sản công, kiểm toán dự án các công trình, kiểm toán các đơn vị dự toán,
…
1.4 Đặc trưng của từng loại hình kiểm toán được phân chia theo bộ máy tổ chức
Trang 101.4.1 Kiểm toán Nhà nước
1.4.1.1 Khái niệm Kiểm toán Nhà nước
Sự hình thành, ra đời và phát triển của kiểm toán Nhà nước gắn liền với sự hình thành, ra đời và phát triển của tài chính công mà chủ yếu là ngân sách nhà nước, xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của việc kiểm tra, kiểm soát việc chi tiêu ngân sách và công quỹ quốc gia từ phía Nhà nước Ở thời kỳ trung đại, KTNN đã xuất hiện để đối soát tài sản của vua chúa Qua quá trình phát triển đến nay, Kiểm toán Nhà nước
ở các nước phát triển hiện đều thực hiện chức năng kiểm toán các đơn vị ở khu vực công cộng Vậy nên có thể hiểu: “Kiểm toán Nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn của Nhà nước thực hiện các chức năng kiểm toán ngân sách và tài sản công”
1.4.1.2 Những đặc trưng của Kiểm toán Nhà nước
Chủ thể kiểm toán: Kiểm toán nhà nước được thực hiện bởi cái kiểm toán viên
nhà nước Họ là những công chức, viên chức nhà nước làm nghề kiểm toán nên được tuyển chọn và hoạt động do tổ chức kiểm toán nhà nước phân công Đồng thời, họ được xếp vào các ngành bậc chung của công thức (theo tiêu chuẩn cụ thể của từng nước trong từng thời kỳ): Kiểm toán viên, Kiểm toán viên chính, Kiểm toán viên cao cấp
Chức năng và quyền hạn của từng ngành bậc cũng được quy định cụ thể theo từng nước song nói chung cũng có sự gần gũi giữa các quốc gia và có mối quan hệ tương ứng với các chức danh của kiểm toán viên Riêng kiểm toán viên cao cấp thường giữ cương vị lãnh đạo cơ quan kiểm toán nhà nước hoặc là những chuyên gia cao cấp có chức năng và quyền hạn trong kiểm toán, trong tư vấn (kể cả soạn thảo luật pháp) thậm chí trong phán xử (như một quan tòa) … tùy theo quy định cụ thể của từng nước
Hiệp hội của các tổ chức kiểm toán viên nhà nước: Đây là hiệp hội do các kiểm
toán viên nhà nước tập hợp lại; là tổ chức quốc tế (hoặc khu vực) của tất cả các tổ chức kiểm toán nhà nước khác nhau
Khách thể kiểm toán: Khách thể của KTNN thường bao gồm tất cả các đơn vị,
cá nhân có sử dụng Ngân sách nhà nước như: Các dự án, công trình do Ngân sách đầu tư; Các doanh nghiệp nhà nước: 100% vốn Ngân sách nhà nước; Các xí nghiệp công cộng thuộc sở hữu nhà nước (100% vốn NSNN); Các cơ quan kinh tế, quản lý
Trang 11của Nhà nước và các đoàn thể xã hội; Các đơn vị quản lý và sử dụng tài sản công; Các cá nhân (tài khoản cá nhân) có nguồn từ NSNN…
Lĩnh vực kiểm toán: Lĩnh vực kiểm toán của KTNN là kiểm toán tài chính và
kiểm toán tuân thủ Ngoài ra, kiểm toán nhà nước còn tiến hành các cuộc kiểm toán nghiệp vụ nhằm đánh giá và góp phần nâng cao tính kinh tế, tính hiệu lực, tính hiệu quả trong quá trình quản lý, sử dụng Ngân sách nhà nước
1.4.1.3 Mô hình của Kiểm toán Nhà nước
Bộ máy kiểm toán nhà nước là hệ thống tập hợp những viên chức nhà nước để thực hiện chức năng kiểm toán ngân sách và tài sản công
Như vậy, trong quan hệ với hệ thống bộ máy nhà nước, kiểm toán nhà nước là một phân hệ thực hiện chức năng kiểm toán Xét trong hệ thống kiểm toán nói chung, kiểm toán nhà nước lại là phân hệ thực hiện chức năng này với một đối tượng cụ thể là tài sản nhà nước trong đó có ngân sách Nhà nước Xét trong quan hệvới kiểm toán viên nhà nước, KTNN là một hệ thống tập hợp các kiểm toán viên này theo một trật tự xác định Trong hàng loạt mối liên hệ phức tạp đó đã hình thành những mô hình tổ chức khác nhau tuỳ theo phạm vi các mối liên hệ
Trước hết khi xem xét trong quan hệ với bộ máy nhà nước kiểm toán nhà nước
có thể độc lập với hệ thống lập pháp và hệ thống hành pháp hoặc trực thuộc một phía hành pháp hoặc lập pháp
Mô hình tổ chức độc lập giữa cơ quan kiểm toán Nhà nước với cơ quan lập
pháp và hành pháp được ứng dụng ở hầu hết các nước có nền kiểm toán phát triển,
có nhà nước pháp quyền được xây dựng có nền nếp… Nhờ đó kiểm toán phát huy được đầy đủ tính độc lập trong việc thực hiện các chức năng của mình
Mô hình tổ chức cơ quan kiểm toán trực thuộc cơ quan hành pháp được áp dụng
không giống nhau giữa các nước: ở một số nước, kiểm toán nhà nước được tổ chức thành cơ quan hành chính như một bộ song có quyền kiểm toán các bộ khác của Chính phủ (kể cả Bộ Tài Chính); ở một số nước khác, kiểm toán Nhà nước được tổ chức như một cơ quan chuyên môn bên cạnh nội các hoặc Thủ tướng Chính phủ
Mô hình này giúp Chính phủ điều hành nhanh nhạy quá trình thực hiện ngân sách
và các hoạt động khác
Trang 12Mô hình tổ chức cơ quan kiểm toán trực thuộc cơ quan lập pháp ( Quốc hội )
được ứng dụng ở một số nước như Mỹ, Nga, Anh Với mô hình này, kiểm toán nhà nước trợ giúp đắc lực cho Nhà nước không chỉ ở kiểm tra thực hiện pháp luật
mà cả trong việc soạn thảo và xây dựng các sắc luật cụ thể
Xét về liên hệ nội bộ, cơ quan kiểm toán nhà nước lại có thể liên hệ theo chiều dọc ( liên hệ dọc ) và theo chiều ngang ( liên hệ ngang )
Liên hệ dọc của tổ chức kiểm toán nhà nước có thể khái quát trong hai mô hình chủ yếu:
Mô hình I: Cơ quan kiểm toán nhà nước trung ương có mạng lưới ở tất cả các địaphương Mô hình này thích hợp với các nước có quy mô lớn, các địa phương phân
bố rộng và phân tán, khối lượng tài sản công ở mỗi địa phương lớn và quan hệ phứctạp Đồng thời mỗi địa phương cũng có khối lượng công sản, tài sản tương đối đồngđều Tình hình đó đòi hỏi phải có tổ chức kiểm toán nhà nước ngay tại địa
phương
Mô hình II: Cơ quan kiểm toán nhà nước trung ương có mạng lưới kiểm toán ở từng khu vực Những khu vực này trước hết có khối lượng công sản đủ lớn và thường ở xa trung tâm nên đòi hỏi có tổ chức kiểm toán nhà nước tại thực địa để thực hiện chức năng của kiểm toán nhà nước Mô hình này thích ứng với những nước có quy mô nhỏ song địa bàn tương đối phân tán Ở một số nước nhỏ và tương đối tập trung có thể không có liên hệ dọc; cũng có trường hợp liên hệ dọc này thực hiện ngay trong liên hệ ngang bằng cách bố trí kiểm toán một vài khu vực nào đó thành một bộ phận trong bộ phận chuyên môn
Liên hệ ngang là mối liên hệ nội bộ trong cơ quan kiểm toán cùng cấp ( trung ương hay khu vực hoặc địa phương ) Liên hệ này có thể trực tuyến hoặc chức năng Trong liên hệ trực tuyến tổng kiểm toán trưởng ( hoặc phó tổng kiểm toán được
uỷ nhiệm ) trực tiếp chỉ huy các hoạt động của kiểm toán nhà nước Liên hệ trực tuyến có ưu điểm bảo đảm lệnh của Tổng kiểm toán trưởng được chuyển trực tiếp đến các kiểm toán viên, bảo đảm điều hành nhanh nhạy và thông tin ngược xuôi kịp thời Tuy nhiên, mô hình này chỉ thích hợp trong điều kiện quy mô kiểm toán và số lượng nhân viên kiểm toán không quá lớn
Trang 13Trong liên hệ chức năng quyền điều hành công việc được phân thành nhiều khối,mỗi khối lại chia thành nhiều cấp khác nhau Mô hình này thích hợp với bộ máy kiểm toán có quy mô lớn
Ngoài mối liên hệ trong bộ máy, liên hệ giữa việc thực hiện các chức năng kiểm toán với bộ máy kiểm toán cũng hình thành những mô hình tổ chức kiểm toán nhà nước khác nhau Trong việc thực hiện chức năng xác minh, thông thường kiểm toánnhà nước chỉ thực hiện xác minh bảng khai tài chính và nghiệp vụ của các đơn vị thuộc khu vực công cộng Công việc xác minh các vụ việc cụ thể do khiếu tố hoặc phát giác bất thường, thông thường do các tổ chức thanh tra đảm nhận Tuy nhiên, ởmột số nước cả những công việc thanh tra này cũng được thống nhất trong tổ chức kiểm toán nhà nước Trong việc bày tỏ ý kiến, thông lệ phổ biến là các cơ quan kiểm toán nhà nước chỉ thực hiện chức năng tự vấn kể cả kiến nghị giải quyết thực trạng tài chính, pháp lý, thậm chí cả khởi thảo và tham gia xây dựng luật pháp Như vậy, cơ quan kiểm toán nhà nước chứa đựng rất nhiều mối liên hệ về tổ chức phụ thuộc và đặc điểm của đối tượng, của phạm vi, của khác thể kiểm toán, tuỳ thuộc vào đặc điểm tổ chức bộ máy nhà nước và hàng loạt quan hệ khác bên trong và bên ngoài hệ thống kiểm toán
1.4.2 Kiểm toán nội bộ
1.4.2.1 Khái niệm Kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ hình thành và phát triển xuất phát từ những lý do khách quan của nhu cầu quản lý, của bản thân các đơn vị và tổ chức kinh tế Do vậy kiểm toán nội bộ là bộ máy thực hiện chức năng kiểm toán nội bộ trong phạm vi đơn vị, phục
vụ nhu cầu quản lý nội bộ đơn vị
1.4.2.2 Những đặc trưng của Kiểm toán nội bộ
Chủ thể kiểm toán: Kiểm toán nội bộ được thực hiện bởi kiểm toán viên nội bộ
Họ thường là những người làm nghề kiểm toán không chuyên nghiệp, có thể là những kế toán viên giỏi, những nhà quản lý có kinh nghiệm, những kỹ thuật viên cóhiểu biết về những lĩnh vực có liên quan đến kiểm toán đặc biệt là những loại hình công nghệ, các quy trình kỹ thuật, các định mức… Tuy nhiên những người này cũng cần có trình độ nghiệp vụ tương xứng, có thể được đào tạo qua trường Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, kiểm toán viên nội bộ cũng có thể là kiểm toán viên
Trang 14chuyên nghiệp như những giám định viên trong hệ thống kiểm toán ở Tây Âu, các kiểm toán viên chuyên nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị công cộng (có quy mô lớn) hoặc các chuyên gia được các hội đồng quản trị sử dụng trong
ủy ban kiểm toán
Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ: Ở một số nước hoặc từng khu vực, các kiểm toán
viên nội bộ tự nguyện tập hợp vào các hiệp hội kiểm toán viên nội bộ nhằm trao đổikinh nghiệm và bồi dưỡng nghiệp vụ KTNB Hiệp hội này lần đầu tiên được lập ra
ở Pháp từ năm 1965 và sau đó trở thành Viện nghiên cứu của kiểm toán viên và kiểm toán viên nội bộ của Pháp (IFAC) vào năm 1973 Tuy nhiên, trong điều kiện kiểm toán nội bộ phát triển sang các lĩnh vực mới: kiểm toán quy tắc, hiệu năng, hiệu quả, … và đội ngũ kiểm toán viên nội bộ cũng phát triển đến cả những nhà quản lý, các nhà kĩ thuật… thì yêu cầu bồi dưỡng này cần được tăng cường và làm phong phú, đa dạng cho phù hợp với yêu cầu và điều kiện cụ thể
Khách thể kiểm toán: Khách thể của KTNB có thể bao gồm: Các bộ phận cấu
thành trong đơn vị; Các hoạt động, các chương trình, dự án cụ thể trong đơn vị; Các
cá nhân trong đơn vị
Lĩnh vực kiểm toán: Lĩnh vực chủ yếu của KTNB là kiểm toán hoạt động của các
bộ phận trong doanh nghiệp Các hoạt động mà kiểm toán nội bộ tiến hành bao gồm:
Thứ nhất là: Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm toán nội bộ có liênquan, giám sát sự hoạt động của các hệ thống cũng như tham gia hoàn thiện chúng Thứ hai là: Kiểm tra các thông tin tác nghiệp, thông tin tài chính bao gồm việc ràsoát lại các phương tiện đã sử dụng để xác định, tính toán, phân loại và báo cáo những thông tin này, kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các số dư và các bước công việc
Thứ ba là: Kiểm tra tính hiệu quả, sự tiết kiệm và hiệu suất của các hoạt động kể
cả các quy định không có tính chất tài chính của doanh nghiệp
Ngoài ra, KTNB cũng tiến hành các nội dung kiểm toán tuân thủ để xem xét việc chấp hành các chính sách, quy định của doanh nghiệp Kiểm toán nội bộ có mục đích là thông qua kiểm toán để cải tiến và hoàn thiện các hoạt động ở các đơn vị,
Trang 15góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh và hoạt động sản xuất, khắc phục những khâu yếu, giúp thủ trưởng đơn vị phát hiện, ngăn chặn và xử lý các gian lận và sai sót trong hoạt động quản lý của đơn vị Tuy KTNB được tổ chức độc lập với bộ phận kiểm tra, nhưng kiểm toán nội bộ là một bộ phận của đơn vị, không thể độc lập hoàn toàn vớiđơn vị đó được Vì vậy, các báo cáo của kiểm toán nội bộ dù được chủ doanh nghiệp tin tưởng song giá trị pháp lý không cao ở bên ngoài.
1.4.2.3 Mô hình của kiểm toán nội bộ
Bộ máy kiểm toán nội bộ là hệ thống tổ chức của các kiểm toán viên do đơn vị
tự lập ra theo yêu cầu quản trị nội bộ và thực hiện nề nếp, kỷ cương quản lý
Để tổ chức và quản lý hoạt động kiểm toán nội bộ trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của đơn vị phải cử ra những người phụ trách công việc này Theo yêu cầu đó, thông thường một uỷ ban kiểm toán được lập ra do một tập thể thường bao gồm ba thành viên hội đồng quản trị phụ trách Trong trường hợp cần thiết, hội đồng quản trị có thể quyết định thuê các chuyên gia kiểm toán tham gia hoặc tư vấn cho uỷ ban
Uỷ ban kiểm toán, vừa có trách nhiệm trong tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ ( nội kiểm ), vừa có trách nhiệm tạo lập mối quan hệ với chủ thể kiểm toán tài chính
từ bên ngoài ( ngoại kiểm ) Trong trường hợp không có hội đồng quản trị, chủ đầu
tư hoặc người được uỷ quyền phụ trách sẽ chỉ đạo công tác kiểm toán Người thực hiện kiểm toán nội bộ là những kiểm toán viên trong đơn vị hoặc chuyên gia ( giám định viên kế toán ) từ bên ngoài Từ đó có thể có hai mô hình cơ bản là hội đồng hay bộ phận kiểm toán nội bộ và giám định viên kế toán ( hoặc giám sát viên nhà nước )
Hội đồng hay bộ phận kiểm toán nội bộ là mô hình phổ biến đặc biệt ở các nước Bắc Mỹ Thành viên của bộ phận này là các kiểm toán viên nội bộ Số lượng và cơ cấu các thành viên tuỳ thuộc vào quy mô của đơn vị, vào nhiệm vụ kiểm toán nội bộ
cụ thể trong từng thời kỳ Hội đồng có nhiệm vụ thực hiện tất cả các công việc do
uỷ ban kiểm toán giao cho kể cả việc xây dựng hoặc hoàn thiện quy chế kiểm toán nội bộ ( nếu có ), tổ chức thực hiện đều đặn và có hiệu lực quy chế đã ban hành và
cả công việc đột xuất khác
Trang 16Mô hình này có nhiều ưu điểm và rất thích hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để phát huy ưu việt này là chất lượng đội ngũ kiểm toán viên nội bộ.
Giám định viên kế toán (hoặc giám sát viên nhà nước) là mô hình ứng dụng phổ
biến ở các xí nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Trong trường hợp này, người thực hiện kiểm toán có thể là kiểm toán viên chuyên nghiệp
Mô hình này rất thích hợp với các xí nghiệp công, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ không cần biên chế kiểm toán viên nội bộ Nó phát huy được thế mạnh nghề nghiệp của các chuyên gia giỏi Tuy nhiên trong trường hợp này chi phí kiểm toán thường cao do phải thuê nhân viên Mặt khác, do công việc KTNB cũng do số ít chuyên gia có trình độ cao đảm nhiệm nên cần chú trọng đảm bảo tính khách quan trung thực của kiểm toán viên bằng các phương pháp bổ sung như kiểm tra chéo, định kỳ thay đổi nơi làm việc của các kiểm toán viên, tăng cường trách nhiệm của kiểm tra bên ngoài…
1.4.3 Kiểm toán độc lập
1.4.3.1 Khái niệm Kiểm toán độc lập
Kiểm toán độc lập là một hoạt động đặc trưng của kinh tế thị trường Đây là các
tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của khách hàng Ở cácnước sớm phát triển theo cơ chế thị trường, kiểm toán độc lập đã hành nghề trước khi có những chuẩn mực chung (về kiểm toán viên) và chuẩn mực chuyên ngành (về công tác kiểm toán) Cho đến nay trên thế giới đã có hàng trăm ngàn tổ chức KTĐL hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn tài chính
1.4.3.2 Những đặc trưng của Kiểm toán độc lập
Chủ thể kiểm toán: Người thực hiện công tác kiểm toán độc lập là các kiểm toán
viên độc lập Kiểm toán viên độc lập thường có hai chức danh:
Đầu tiên: Kiểm toán viên: Thường đã tốt nghiệp đại học và sau 4 năm là thư ký (hoặc trợ lý) kiểm toán và tốt nghiệp thi tuyển kiểm toán viên (quốc gia hoặc quốc tế) để lấy bằng (chứng chỉ) kiểm toán viên Trên thực tế, phải có khả năng độc lập thực hiện công việc kiểm toán cụ thể
Trang 17Thứ hai: Kiểm toán viên chính: Là người đã từng qua kiểm toán viên và qua kỳ thì nâng bậc Về chuyên môn họ phải có khả năng tổ chức một nhóm kiểm toán viêntiến hành những công việc kiểm toán có quy mô lớn.
Những kiểm toán viên độc lập được hành nghề trong một tổ chức hoặc với văn phòng tư tùy thuộc vào điều kiện cụ thể do pháp luật quy định
Hiệp hội kiểm toán viên độc lập: Hiệp hội kiểm toán viên độc lập tập hợp những
kiểm toán viên độc lập nhằm tăng cường quan hệ hợp tác, hướng dẫn và bồi dưỡng nghiệp vụ kể cả về nhận thức cũng như kinh nghiệm thực tế của họ Đây là hình thức phát triển không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả quốc tế
Khách thể kiểm toán: Khách thể của KTĐL thường bao gồm: Các doanh nghiệp
và xí nghiệp tư (kể cả các công ty trách nhiệm hữu hạn); Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài; Các liên doanh giữa các tổ chức trong và ngoài nước; Các hợp tác xã và doanh nghiệp cổ phần; Các chương trình, dự án có nguồn kinh phí từ bên ngoài Ngân sách nhà nước…
Lĩnh vực kiểm toán: Kiểm toán độc lập chủ yếu tiến hành các cuộc kiểm toán tài
chính Ngoài ra, tùy theo yêu cầu của khách hàng mà KTĐL có thể tiến hành các cuộc kiểm toán nghiệp vụ, tiến hành các dịch vụ tư vấn…
1.4.3.3 Mô hình của kiểm toán độc lập
Mô hình kiểm toán độc lập là tổ chức của các kiểm toán viên chuyên nghiệp kinhdoanh dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có liên quan Là tổ chức kinh doanh, một đơn vị kiểm toán độc lập phải thực hiện các nghĩa vụ và có quyền lợi như các
tổ chức kinh doanh khác Hơn nữa, kinh doanh dịch vụ kiểm toán là kinh doanh mộtnghề chuyên sâu nên phải có kiểm toán viên đủ điều kiện hành nghề Do đó chỉ có những người có chứng chỉ kiểm toán viên và đủ điều kiện hành nghề khác nhau mớiđược phép tổ chức các đơn vị kinh doanh dịch vụ này Thông thường với dịch vụ kiểm toán, bộ máy này có thể thực hiện các dịch vụ khác có liên quan như kế toán, thuế, tư vấn, tài chính, tin học Để thực hiện các loại dịch vụ này, các tổ chức kiểm toán độc lập có quan hệ với khách hàng tự nguyện hoặc bắt buộc theo quy định của pháp luật
Bộ máy kiểm toán độc lập có hai mô hình cơ bản là văn phòng kiểm toán tư và công ty kiểm toán
Trang 18Văn phòng kiểm toán tư được hình thành bởi một hoặc vài kiểm toán viên độc lập để kinh doanh dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác liên quan Đồng thời, người lập văn phòng phải có bằng chứng chỉ ) kiểm toán viên độc lập và có đủ điều kiện hành nghề khác Các văn phòng tư ( kể cả các công ty kiểm toán có quy mô nhỏ ) được tổ chức theo phương thức trực tuyến và loại hình tập trung
Ưu điểm của loại hình này là phát huy tính năng động cao của bộ máy kiểm toán,rất thích ứng với nhu cầu kiểm toán và tư vấn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như nhu cầu đại lý thuế thu nhập ) cho nhà nước
Tuy nhiên, ở mô hình này, các văn phòng chỉ thực hiện giới hạn các dịch vụ và sức cạnh tranh của mỗi tổ chức kiểm toán cũng hạn chế Bên cạnh đó, sự hợp tác, tựbồi dưỡng kinh nghiệm nghiệp vụ giữa các kiểm toán viên cũng hạn chế Do đó, khithành lập văn phòng, kiểm toán viên độc lập phải có năng lực khá toàn diện và có trình độ chuyên môn vững Đến khi số lượng các văn phòng và công ty nhỏ nhiều
đòi hỏi phải tăng cường hoạt động của Hiệp hội kiểm toán viên độc lập Công ty
kiểm toán (quy mô lớn ) là bộ máy tổ chức kiểm toán độc lập với số lượng lớn các
kiểm toán viên độc lập ( hàng chục ngàn kiểm toán viên trong một công ty ) Đây là những công ty quốc gia hoặc quốc tế
Các công ty kiểm toán này thực hiện nhiều loại dịch vụ trên địa bàn rộng lớn ( cóthể hàng trăm dịch vụ cụ thể) Do đó chúng được tổ chức theo loại hình phân tán và điều hành theo phương thức chức năng hoặc kết hợp Cụ thể mỗi công ty thường có nhiều văn phòng bố trí ở nhiều vùng trong nước ( công ty quốc gia ) hoặc nhiều văn phòng ở nhiều nước khác nhau ( công ty quốc tế ) Trong các công ty này, từng văn phòng cụ thể hoặc văn phòng khu vực có thể có quyền tự chủ như một công ty con
và có thể được hạch toán độc lập Mỗi văn phòng riêng hoặc văn phòng khu vực cũng kinh doanh nhiều loại dịch vụ và có thể được tổ chức thành các bộ phận chức năng riêng biệt
Do quy mô lớn phân tán và cơ cấu tổ chức phức tạp nên các công ty lớn đòi hỏi trình độ tổ chức phối hợp cao của các nhà quản lý, đòi hỏi khả năng chuyên môn cao và toàn diện của kiểm toán viên và lãnh đạo công ty, đòi hỏi đầu tư lớn cả về chuyên gia, kinh nghiệm và tiền vốn Tuy nhiên cũng do vậy mà mỗi công ty khi
đã hình thành và tồn tại, luôn luôn có tiềm năng lớn, đang hoàn tất nhiều loại dịch
Trang 19vụ có quy mô lớn trong khoảng thời gian ngắn và có sức cạnh tranh lớn trên thị trường.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC MÔ HÌNH TỔ
CHỨC KIỂM TOÁN TẠI VIỆT NAM
2.1 Thực trạng tổ chức Kiểm toán Nhà nước
Trong thời gian vừa qua với phương châm vừa làm vừa nghiên cứu, vừa học, để từng bước hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, cũng như phương pháp nghiệp vụ chuyên môn của ngành kiểm toán Nhà nước, đã có bước phát triển đáng kể trong việc phát triển kiểm toán hàng năm với quy mô và chất lượng ngày càng tăng Qua nhiều nămhoạt động, kiểm toán Nhà nước đã thực hiện hàng ngàn cuộc kiểm toán tại các cơ quan có sử dụng ngân sách Nhà nước, trên hầu hết các lĩnh vực trong đó có cả lĩnh vực dự trữ quốc gia, kinh tế Đảng, kể cả an ninh quốc phòng Về cơ bản, có thể nói rằng từ khi thành lập đến nay kiểm toán Nhà nước đã bước đầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình là kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp các số liệu
kế toán, báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp Nhà nước, đơn vị kinh tế Nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp Qua kiểm toán, kiểm toán Nhà nước đã kịp thời điều chỉnh, răn
đe các đơn vị kiểm toán phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi chế độ, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đề xuất kiến nghị với chính phủ và các cơ quan chức năng về cơ
sở trong công tác quản lý, những bất cập nảy sinh trong cơ chế, chính sách hiện hành để kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chính sách này Từ những hoạt động thiết thực của mình, kiểm toán Nhà nước đã phát hiện và kiến nghị tăng thu, tiết kiệm chi cho ngân sách Nhà nước hàng ngàn tỉ đồng Bên cạnh việc triển khai thực hiện kiểm toán hàng năm, kiểm toán Nhà nước còn chú trọng tới công tác chuẩn bị cho hướng phát triển lâu dài của ngành như: Nghiên cứu các đề tài khoa học liên quan đến địa vị pháp lý và cơ chế của cơ quan kiểm toán Nhà nước, nghiên cứu soạn thảo và quy trình kiểm toán v.v…
Đến nay, kiểm toán Nhà nước có trên 2.100 công chức và trong đó có 1.500 kiểm toán viên được phân phối, sắp xếp hợp lý ở kiểm toán Nhà nước Trung ương
và kiểm toán Nhà nước khu vực Ngay sau khi mới thành lập, 1 công việc cần thiết
là tuyển chọn cán bộ kiểm toán viên cho các kiểm toán viên chuyên ngành và các
Trang 20học và thời gian 5 năm trở lên làm công tác kế toán – tài chính ở các doanh nghiệp Nhà nước và các cơ quan quản lý Nhà nước, một số trường hợp mới tốt nghiệp đại học hoặc có thời gian công tác dưới 5 năm thông qua thi tuyển Trên tổng số 2.100 cán bộ, số cán bộ có trình độ đại học chiếm 88%, đặc biệt là đội ngũ kiểm toán viên
có trình độ đại học trở lên chiếm 100% trong đó đội ngũ kiểm toán viên trẻ chiếm 25% Công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ kiểm toán viên luôn được ngành đặc biệt quan tâm Hàng năm kiểm toán Nhà nước đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, mở nhiều khóa tập huấn trong nước và cử nhiều cán bộ kiểm toán viên đi học tập, nghiên cứu kinh nghiệm kiểm toán ở những nước như Cộng hòa liên bang Đức,
Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan
Bên cạnh đó, Sự phát triển của KTNN luôn gắn liền với những sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và được ghi dấu bằng những mốc son đậm nét Dấu mốc đầu tiên là ngày 11/7/1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/CP về việcthành lập KTNN Tiếp đó, ngày 24/01/1995, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 61/TTg về Điều lệ tổ chức và hoạt động của KTNN Đây là những căn cứ pháp lý đầu tiên có giá trị như một tuyên ngôn khai sinh KTNN, đáp ứng yêucầu của công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta Ngày14/6/2005, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI đã thông qua Luật KTNN,
có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, mở ra một thời kỳ phát triển mới của KTNN Đặc biệt, ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước CHXHCNViệt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, trong đó, Điều 118 quy định về địa vị pháp lý của KTNN, kèm theo đó là những quy định về vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu KTNN Sự kiện trọng đại này đã nâng tầm KTNN từ cơ quan được luật định thành cơ quan được hiến định, giúp nâng cao vị thế, vai trò, trách nhiệm của KTNN trong kiểm toán hoạt động quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.Bên cạnh đó, ngày 19/4/2010, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết
số 927/2010/UBTVQH12 về việc ban hành Chiến lược phát triển KTNN đến năm
2020 Chiến lược đã xác định giá trị cốt lõi để phát triển KTNN Việt Nam là “Minh bạch - Chất lượng - Hiệu quả và không ngừng gia tăng giá trị” Việc triển khai thực hiện Chiến lược đã góp phần tăng cường mạnh mẽ tính hiệu quả, tính chuyên
nghiệp và nâng cao hiệu lực hoạt động của KTNN, phù hợp với xu thế phát triển của các cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới
Trang 21Trong quá trình hoạt động vai trò của kiểm toán nhà không ngừng được củng cố
và tăng cường đáp ứng một phần yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn trong việc quản lý điều hành đất nước, nó được thể hiện một số mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất góp phần kiểm tra việc chấp hành những quy định hiện hành về nghĩa
vụ nộp ngân sách nhà nước ,thực hiện nộp đúng, nộp đủ theo quy định của pháp luật
Thứ hai kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng ngân sách nhà nước chống thất thoát, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước
Thứ ba cung cấp cơ sở dữ liệu để thực hiện việc quyết định và quản lý ngân sáchnhà nước sát thực và có hiệu quả hơn Một trong những vấn đề quan trọng để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụng ngân sách nhà nước và công quỹ quốc giatrong việc quản lý điều tiết nền kinh tế là dự toán ngân sách nhà nước Thông qua việc kiêm tra tài chính Kiểm toán nhà nước đã chỉ ra những bất họp lý trong việc xác định những chỉ tiêu thu, chi ngân sách nhà nước, góp phần tạo lập cơ sở, căn cứ
để xây dựng dự toán ngân sách nhà nước cho những năm sau, nhằm thu đúng thu
đủ, chống thất thu cho ngân sách nhà nước Đồng thời kiến nghị việc phân bổ ngân sách nhà nước cho các ngành, các địa phương một cách hợp lý Ngoài ra ngành kiểm toán nhà nước đã góp phần đánh giá một cách sát thực tình hình tài chính của các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nhà nước làm căn cứ cải tiến quản lý doanh nghiệp, điều chỉnh các chính sách kinh tế, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước cùng với việc huy động vốn đầu tư phát triển
Thứ tư thông qua hoạt động kiểm toán, kiểm toán nhà nước đã đề xuất, kiến nghi nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách về kinh tế tài chính và ngân sách nhà nước ở các cơ quan, đơn vị trung ương và địa phương
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trong hoạt động của kiểm toán Nhà nước, công tác kiểm toán vẫn còn có một số mặt hạn chế như sau: Thứ nhất, chưa
có sự phân định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn, sự phân công và cơ chế phối hợp giữa các vụ cơ quan chức năng của kiểm toán Nhà nước với kiểm toán Nhà nước chuyên ngành và khu vực trong việc quản lý hoạt động kiểm toán, phát hành báo cáo kiểm toán và kiểm tra thực hiện kết luận và kiến nghị kiểm toán, nhất là khâu khảo sát, lập kế hoạch kiểm toán Thứ hai, thiếu thông tin cần thiết để kiểm tra, soát xét chất lượng công tác khảo sát lập kế hoạch kiểm toán Chủ yếu dừng lại