BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI ***** NGUYỄN THANH NHẠN HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN LÊ BÌNH Chuyên ngành Kế toán Mã số 8 340 3[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM VĂN ĐĂNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là xác thực và chưa từng được công bố trong kỳ bất công trình nào khác trước đó
Tác giả
Nguyễn Thanh Nhạn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC SƠ ĐỒ v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 5
1.1 Khái niệm, nguyên tắc, nhiệm vụ và ý nghĩa về tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 5
1.1.2 Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 5
1.1.3 Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 7
1.1.4 Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 8
1.2 Nội dung tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 9
1.2.1.Tổ chức bộ máy kế toán 9
1.2.2.Tổ chức vận dụng và thực hiện hệ thống chứng từ kế toán 14
1.2.3 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán 17
1.2.4 Tổ chức lựa chọn và vận dụng sổ kế toán 20
1.2.5 Tổ chức công tác lập và phân tích báo cáo tài chính 22
1.2.6 Tổ chức kiểm tra kế toán 25
1.2.7 Tổ chức ứng dụng tin học vào công tác kế toán 28
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN LÊ BÌNH 31
2.1 Tổng quan về công ty cổ phần tập đoàn Lê Bình 31
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty 31
2.1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh 34
2.1.3 Tình hình và kết quả kinh doanh của công ty năm 2016, 2017, 2018 38
2.1.4 Chính sách kế toán áp dụng tại công ty 42
Trang 42.2 Thực trạng nội dung tổ chức công tác kế toán tại công ty cổ phần tập
đoàn Lê Bình 43
2.2.1 Thực trạng tổ chức bộ máy kế toán của công ty 43
2.2.2 Thực trạng tổ chức vận dụng và thực hiệnhệ thống chứng từ kế toán tại công ty 47
2.2.3 Thực trạng tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán tại công ty 49
2.2.4 Thực trạng tổ chức hệ thống sổ kế toán 51
2.2.5 Thực trạng tổ chức lập và phân tích báo cáo tài chính 53
2.2.6 Thực trạng tổ chức kiểm tra công tác kế toán tại công ty 56
2.2.7 Thực trạng ứng dụngcông nghệ thông tin học vào công tác kế toán tại công ty 59
2.3 Đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán tại công ty cổ phần tập đoàn Lê Bình 61
2.3.1 Ưu điểm 61
2.3.2 Những hạn chế, vướng mắc 64
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc 67
TỔNG KẾT CHƯƠNG 2 69
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP DOÀN LÊ BÌNH 70
3.1 Phương hướng phát triển của công ty trong thời gian tới 70
3.2 Yêu cầu, nguyên tắc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại công ty cổ phần tập đoàn Lê Bình 71
3.2.1 Yêu cầu hoàn thiện tổ chức công tác kế toán 71
3.2.2 Nguyên tắc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán 72
3.3 Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại công ty cổ phần tập đoàn Lê Bình 73
3.3.1 Hoàn thiện về tổ chức bộ máy kế toán 73
3.3.2 Hoàn thiện tổ chức về vận dụng và thực hiện hệ thống chứng từ kế toán.75 3.3.3 Hoàn thiện tổ chức về vận dụng hệ thống tài khoản kế toán 77
Trang 53.3.4 Hoàn thiện tổ chức về lựa chọn và vận dụng hình thức hệ thống sổ kế
toán phù hợp 79
3.3.5 Hoàn thiện tổ chức về công tác lập và phân tích báo cáo tài chính 81
3.3.6 Hoàn thiện về kiểm tra kế toán 84
3.3.7 Hoàn thiện ứng dụng tin học vào tổ chức công tác kế toán 85
3.4 Điều kiện để thực hiện giải pháp 86
3.4.1 Đối với Nhà nước 86
3.4.2 Về phía công ty cổ phần tập đoàn Lê Bình 87
TỔNG KẾT CHƯƠNG 3 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung 10
Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán 12
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ Tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp 14
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh 34
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức kế toán của công ty 44
Sơ đồ 2.3: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính 59
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Hội nhập là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế trong khu vực
và trên thế giới Ở nước ta, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế chưa bao giờ mạnh
mẽ như hiện nay, đã và đang tác động toàn diện đối với nền kinh tế nói chung,đối với các ngành kinh tế, các lĩnh vực, sản phẩm và các doanh nghiệp nói riêng.Với vai trò là công cụ quản lý kinh tế, thông tin kế toán đã và đang là một
cơ sở, căn cứ quan trọng cho các quyết định kinh tế Trong kinh tế thị trường,thông tin kế toán của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế được trình bầy dễ hiểu, rõràng và công khai cho các đối tượng quan tâm Để thực hiện được vai trò đó, kếtoán sẽ thu nhận các thông tin tại tất cả các bộ phận trong một doanh nghiệp, sau
đó sẽ tiến hành xử lý các thông tin theo quy định, các thông tin đã được xử lýđược trình bầy trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp, đây chính là nội dungcủa tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp
Đối với toàn bộ nền kinh tế, hội nhập kinh tế mở ra cơ hội phát triển lựclượng sản xuất, tham gia ngày càng sâu vào phân công lao động quốc tế, làmcho nền kinh tế ngày càng năng động và hiệu quả hơn Đồng thời giúp thu hútnguồn lực từ bên ngoài, đặc biệt nguồn vốn và công nghệ Công ty CPTĐ LêBình có thể nói là một công ty lớn mạnh nhanh chóng nắm bắt thời cơ tiếp cậnvới xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Muốn làm được điều đó, trước hết công typhải hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý và các phương tiện quản lý doanhnghiệp, trong đó tổ chức công tác kế toán là một khâu rất quan trọng Công tyCPTĐ Lê Bình mặc dù đã quan tâm đến hệ thống tổ chức và các công cụ quản lýdoanh nghiệp nhưng vẫn chưa thực sự phù hợp và đáp ứng được điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế hiện nay
Hoàn thiện và đổi mới tổ chức công tác kế toán tại công ty CPTĐ Lê Bìnhsao cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của công ty, đồng thời tôn trọngcác nguyên tắc, chính sách, chế độ kinh tế tài chính, chế độ kế toán thực sự cầnthiết, góp phần khắc phục cơ bản những hạn chế trong tổ chức công tác kế toánnhằm nâng cao hiệu quả của thông tin kế toán đối với hoạt động sản xuất kinh
Trang 9khách quan.
Trong thời gian tìm hiểu tại công ty CPTĐ Lê Bình, tại công ty về tổ chứccông tác kế toán chưa thực sự hợp lý như việc luân chuyển chứng từ kế toánthiếu chặt chẽ, sử dụng các sổ kế toán chưa đảm bảo tính khoa học, từ đó chưađảm bảo về thông tin cho quản lý, cơ sở về thông tin kế toán để ra các quyếtđịnh của nhà quản trị còn gặp nhiều khó khăn
Từ những phân tích trên cho thấy, đề tài luận văn “Hoàn thiện tổ chức
công tác kế toán tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Lê Bình” là cần thiết, cấp thiết
và có ý nghĩa khoa học cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức công
tác kế toán trong doanh nghiệp
- Trên cơ sở khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức công tác kếtoán tại công ty CPTĐ Lê Bình, luận văn nêu những ưu điểm, hạn chế, vướngmắc và các nguyên nhân của hạn chế Từ đó, đề xuất những giải pháp nhằmhoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại công ty CPTĐ Lê Bình
- Qua quá trình nghiên cứu tác giả sẽ hiểu rõ hơn về tổ chức bộ máy kếtoán cũng như tổ chức các công việc kế toán tại các doanh nghiệp
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp công ty CPTĐ Lê Bình tổ chức tốtcông tác kế toán góp phần nâng cao hiệu quả của công tác kế toán
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thựctiễn về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
Thực trạng tổ chức công tác kế toán ở công ty CPTĐ Lê Bình Từ đó, đưa
ra các kết luận và các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kếtoán tại công ty CPTĐ Lê Bình
- Phạm vi nghiên cứu: Các nội dung của tổ chức công tác kế toán tại công
Trang 10+ Tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán và hình thức kế toán;
+ Tổ chức kiểm tra kế toán;
+ Tổ chức lập và phân tích báo cáo tài chính;
+ Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức công tác kế toánPhạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu tổ chức công tác kế toán tạicông ty CPTĐ Lê Bình
4 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận, luận văn sử dụng phương pháp triết học duy vât biệnchứng và duy vật lịch sử trong hệ thống hóa lý luận và phân tích thực tế
Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, thu thập từ các tài liệu
có sẵn tại công ty CPTĐ Lê Bình: Lịch sử hình thành, phát triển, cơ cấu tổ chức,
bộ máy lãnh đạo Công ty … Báo cáo tài chính, tập trung chủ yếu vào các chứng
kế toán, sổ kế toán chi tiết, sổ tổng hợp của công ty
- Phương pháp quan sát: Trực tiếp quan sát hoạt động kinh doanh, cách
thức quản lý, điều hành của Ban Giám đốc và các hoạt động kế toán tại PhòngTài chính – Kế toán Quan sát cách lập, xử lý luân chuyển và quản lý chứng từ
kế toán; phương pháp hạch toán, ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính để cóđược đầy đủ các thông tin về đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở những thông tinthu thập được, đánh giá công tác kế toán tại công ty có tuân thủ theo chế độ kếtoán hiện hành không? Chế độ kế toán hiện hành đã hoàn toàn phù hợp với thựctiễn hay chưa? Để từ đó tìm ra hướng hoàn thiện cho các vấn đề nghiên cứu đượcđặt ra
- Phương pháp phỏng vấn: Để thu thập và đánh giá thực trạng tổ chức công
tác tác kế toán tại công ty CPTĐ Lê Bình, tác giả tiến hành phỏng vấn Lãnh đạo,
Kế toán trưởng, nhân viên phụ trách công việc kế toán của công ty
- Phương pháp chuyên gia: Tác giả tiến hành hỏi ý kiến của giáo viên
hướng dẫn, kế toán viên có kinh nghiệm lâu năm, những người am hiểu về lĩnhvực đang nghiên cứu để kiểm chứng các thông tin thu thập được đã đầy đủ,khách quan chưa? Những giải pháp đề xuất có tính khả thi không?
- Phương pháp phân tích dữ liệu, xử lý thông tin:Luận văn sử dụng kết
hợp các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để phân tích dữ liệu
Trang 11Từ mẫu quan sát, áp dụng phương pháp mô hình hóa để khái quát thựctrạng kế toán tại công ty.
Xử lý thông tin thu thập được: Từ thực tiễn và chế độ hiện hành, đưa ra các
giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại công ty CPTĐ Lê Bình
5 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp và
mô tả tổng quát thực trạng tổ chức công tác kế toán tại công ty CPTĐ Lê Bình.Đưa ra các kết luận về ưu điểm, hạn chế và chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu củahạn chế trong tổ chức công tác kế toán tại công ty CPTĐ Lê Bình Từ đó, đưa racác giải pháp, kiến nghị, điều kiện để thực hiện các giải pháp góp phần giúp Công
ty CPTĐ Lê Bình tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý hơn, đáp ứngnhững yêu cầu mới trong giai đoạn hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang diễn
ra mạnh mẽ hiện nay
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoàn thiện tổ chức côngtác kế toán tại công ty CPTĐ Lê Bình nói riêng và các công ty có điều kiệntương tự
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, các danh mục tài liệu và phụ lục, luận văn baogồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các doanhnghiệp
Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại công ty cổ phần Tậpđoàn Lê Bình
Chương 3: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại công ty cổ phần Tậpđoàn Lê Bình
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm, nguyên tắc, nhiệm vụ và ý nghĩa về tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp
Tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc thực hiện các chuẩn mực và chế độ
kế toán để phản ánh tình hình tài chính, tình hình và kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản, lưu trữtài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kếtoán Nói cách khác, tổ chức công tác kế toán là sự thiết lập mối quan hệ qua lạigiữa các phương pháp kế toán, đối tượng kế toán với con người am hiểu nộidung công tác kế toán (người làm kế toán) biểu hiện qua một hình thức kế toánthích hợp của một đơn vị cụ thể
Theo quan điểm của tác giả “Tổ chức công tác kế toán là tổ chức thực hiệncâc công việc của kế toán từ việc thu thập, xử lý, cung cấp thông tin kinh tế tàichính theo các chế độ, chuẩn mực hiện hành để phản ánh tình hình tài chính,tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị
1.1.2 Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải đảm bảo các nguyên tắc sau:-Tổ chức công tác kế toán phải đúng những qui định trong Luật Kế toán vàchuẩn mực kế toán:
Đối với Nhà nước, kế toán là một công cụ quan trọng để tính toán, xâydựng và kiểm tra việc chấp hành kỷ luật thu chi, thanh toán của Nhà nước, điềuhành nền kinh tế quốc dân Do đó, trước hết tổ chức công tác kế toán phải theođúng những qui định về nội dung công tác kế toán, về tổ chức chỉ đạo công tác
kế toán ghi trong Luật Kế toán và Chuẩn mực kế toán:
- Tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với các chế độ, chính sách, thể lệvăn bản pháp qui về kế toán do Nhà nước ban hành:
Trang 13Việc ban hành chế độ, thể lệ kế toán của Nhà nước nhằm mục đích quản lýthống nhất công tác kế toán trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vì vậy tổ chứccông tác kế toán phải dựa trên cơ sở chế độ chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản
kế toán doanh nghiệp, hệ thống báo cáo tài chính mà Nhà nước qui định để vậndụng một cách phù hợp với chính sách, chế độ quản lý kinh tế của Nhà nướctrong từng thời kỳ Có như vậy việc tổ chức công tác kế toán mới không viphạm những nguyên tắc, chế độ qui định chung của Nhà nước, đảm bảo việcthực hiện chức năng, nhiệm vụ của kế toán góp phần tăng cường quản lý kinh tếcủa các cấp, các ngành, góp phần tăng cường quản lý kinh tế - tài chính của cáccấp, các ngành, thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp:
- Tổ chức công tác kế toán phải phải phù hợp với đặc điểm hoạt động sảnxuất, kinh doanh, hoạt động quản lý và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp
+ Mỗi doanh nghiệp có đặc điểm và điều kiện hoạt động kinh doanh khácnhau Vì vậy, không thể có một mô hình công tác kế toán tối ưu cho tất cả cácdoanh nghiệp nên để tổ chức tốt công tác kế toán doanh nghiệp thì việc tổ chứccông tác kế toán phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, tính chất hoạt động sảnxuất kinh doanh, hoạt động quản lý, qui mô và địa bàn hoạt động của doanhnghiệp:
- Tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với yêu cầu và trình độ nghiệp vụchuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kế toán Người thực hiện trựctiếp mọi công tác kế toán tài chính trong doanh nghiệp là cán bộ kế toán dưới sựchỉ đạo của cán bộ quản lý doanh nghiệp Vì vậy để tổ chức tốt công tác kế toántrong doanh nghiệp đảm bảo phát huy đầy đủ, vai trò tác dụng của kế toán đốivới công tác quản lý doanh nghiệp thì việc tổ chức công tác kế toán tài chínhphải phù hợp với yêu cầu và trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộquản lý, cán bộ kế toán:
- Tổ chức bộ máy kế toán phải đảm bảo nguyên tắc gọn, nhẹ, tiết kiệm vàhiệu quả Tiết kiệm, hiệu quả là nguyên tắc của công tác tổ chức nói chung và tổchức công tác kế toán nói riêng Do đó, doanh nghiệp thực hiện nguyên tắc nàyphải đảm bảo tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý, thực hiện tốt nhất chức
Trang 14năng, nhiệm vụ của kế toán, nâng cao chất lượng công tác kế toán, quản lý chặtchẽ, hiệu quả, tính toán và đo lường chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinhNhững nguyên tắc trên phải được thực hiện một cách đồng bộ mới có thể tổchức thực hiện tốt và đầy đủ các nội dung tổ chức công tác kế toán tài chínhtrong doanh nghiệp Thực chất của việc tổ chức công tác kế toán tài chính trongdoanh nghiệp là việc tổ chức thực hiện ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh theo những nội dung công tác kế toán bằng phương phápkhoa học của kế toán, phù hợp với các chính sách chế độ quản lý kinh tế quiđịnh, phù hợp với đặc điểm tình hình cụ thể của doanh nghiệp để phát huy chứcnăng, vai trò quan trọng của kế toán trong quản lý:
Trên đây là những nguyên tắc cơ bản mang tính chất bao quát toàn bộ quátrình tổ chức công tác kế toán Trong quá trình triển khai tổ chức công tác kế toán,các doanh nghiệp phải tuân thủ và thực hiện một cách đầy đủ các nguyên tắc nàynhằm tổ chức công tác kế toán khoa học hợp lý và hiệu quả nhất Tuy nhiên, tuỳthuộc vào từng điều kiện cụ thể, các doanh nghiệp còn phải tuân theo nhữngnguyên tắc cũng như dựa vào những căn cứ cụ thể trong từng nội dung tổ chức đểđảm bảo tính khoa học của tất cả các nội dung trong tổ chức công tác kế toán doanhnghiệp
1.1.3 Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp
Là một phân hệ thông tin trong hệ thống quản lý, công tác kế toán thu thập
và cung cấp thông tin về tài chính, về kết quả kinh doanh làm cơ sở cho việc ranhững quyết định quản lý Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp có ý nghĩaquan trọng, đảm bảo thực hiện vai trò kế toán trong quản lý Bởi vậy, tổ chứccông tác kế toán cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tổ chức bộ máy kế toán hợp lý để thực hiện được toàn bộ công việc kếtoán ở doanh nghiệp với sự phân công, phân nhiệm rõ ràng công việc kế toáncho từng bộ phận, từng người trong bộ máy kế toán
- Tổ chức vận dụng các nguyên tắc kế toán, chế độ kế toán hiện hành và tổchức vận dụng hình thức kế toán hợp lý với các phương tiện kỹ thuật tính toánhiện có nhằm đảm bảo chất lượng của thông tin kế toán
- Xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán với các
Trang 15công tác kế toán ở doanh nghiệp.
- Tổ chức hướng dẫn mọi người trong doanh nghiệp chấp hành chế độquản lý kinh tế, tài chính nói chung và chế độ kế toán nói riêng, tổ chức kiểmtra kế toán nội bộ doanh nghiệp Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiệnnhững vấn đề hạn chế còn tồn tại thì cần phải hướng dẫn, điều chỉnh kịp thờinhằm phục vụ tốt cho công tác kế toán
- Để đảm bảo thông tin kế toán cung cấp một cách kịp thời, chính xác thìphải thường xuyên nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ kế toán, thườngxuyên đổi mới trang thiết bị và phương tiện làm việc thích hợp, ứng dụng thànhtựu khoa học - kỹ thuật mới vào công tác kế toán
1.1.4 Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp
Từ những nghiên cứu trên đây, có thể thấy tổ chức công tác kế toán trongdoanh nghiệp là một công cụ quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống quản lýkinh tế nhằm quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế tàichính ở mỗi đơn vị cũng như trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân Để thựchiện được vai trò đó thì đòi hỏi công tác kế toán doanh nghiệp phải được tổ chứcmột cách khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc điểm, điều kiện của từng doanhnghiệp Đặc biệt trong điều kiện khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế như hiệnnay, tính cạnh tranh ngày càng cao, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp ngàycàng lớn, các quan hệ kinh tế ngày càng đa dạng, phức tạp thì thông tin phục vụcho quản lý càng phải kịp thời và chính xác Thêm vào đó, ngày càng có nhiềuđối tượng quan tâm đến thông tin kế toán của doanh nghiệp ngoài các nhà quản lýnhư: Các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ quan chủ quản, chủ đầu tư, các cổđông, ngân hàng, nhà cung cấp, khách hàng do vậy việc tổ chức công tác kếtoán một cách khoa học, hợp lý càng trở nên cần thiết:
- Tổ chức công tác kế toán tốt sẽ đảm bảo cung cấp thông tin về hoạt độngkinh tế tài chính của đơn vị một cách có hệ thống, kịp thời, chính xác cho cácnhà quản lý, các chủ đầu tư, cổ đông, khách hàng giúp họ đưa ra các quyếtđịnh kinh doanh có hiệu quả nhất
- Bố trí con người để thực hiện các khối lượng công tác kế toán là một nộidung của tổ chức công tác kế toán Vì vậy, tổ chức công tác kế toán khoa học,hợp lý còn giúp cho đơn vị có được bộ máy kế toán gọn nhẹ, hoạt động có hiệu
Trang 16quả, góp phần tinh giản bộ máy quản lý của đơn vị, nâng cao hiệu suất lao động
kế toán và hiệu lực của bộ máy quản lý
- Tổ chức khoa học, hợp lý công tác kế toán phù hợp với đặc điểm của đơn
vị trên cơ sở những quy định, chế độ chung của Nhà nước về quản lý tài chính
sẽ tạo ra sự thống nhất trong quản lý, cung cấp thông tin tin cậy cho công tácquản lý vĩ mô, giúp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc hoạch địnhchính sách, soạn thảo luật lệ thích hợp
- Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với xu hướng hội nhập, toàn cầuhoá như hiện nay, đặt ra cho mỗi doanh nghiệp là phải quan tâm hơn nữa đến tổchức công tác kế toán, thường xuyên đổi mới và hoàn thiện về mọi mặt để đápứng những yêu cầu ngày càng cao của quản lý kinh tế, đảm bảo tính pháp lý,tính thống nhất của chế độ kế toán làm cho kế toán luôn thích ứng với cơ chếquản lý trong từng thời kỳ cũng như sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
Từ những phân tích trên đây, có thể thấy rõ ý nghĩa của tổ chức công tác kếtoán trong doanh nghiệp và tính tất yếu phải tổ chức công tác kế toán trongdoanh nghiệp một cách khoa học, hợp lý Thông tin của kế toán có độ tin cậycao, mô tả được thực trạng hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, làmột bộ phận cấu thành rất quan trọng trong hệ thống thông tin kinh tế của doanhnghiệp, có ý nghĩa to lớn cả tầm vi mô và vĩ mô
1.2 Nội dung tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp.
kế toán khoa học và hợp lý Việc lựa chọn áp dụng mô hình tổ chức bộ máy kếtoán phù hợp rất quan trọng trong tổ chức công tác kế toán tại đơn vị
Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán thích hợp nhằm thu nhận, xử lý,
hệ thống hóa và cung cấp được đầy đủ kịp thời toàn bộ thông tin về hoạt độngkinh tế tài chính phát sinh của đơn vị Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán
Trang 17nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, có ý nghĩa quan trọng và tác động quyếtđịnh đến hiệu quả và chất lượng của công tác kế toán, dẫn đến việc tổ chức côngtác kế toán thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của kế toán, phát huyđược vai trò của kế toán trong quản lý kinh tế tài chính ở đơn vị.
Hiện nay doanh nghiệp có thể lựa chọn tổ chức bộ máy kế toán theo 3 môhình tổ chức bộ máy kế toán cơ bản sau đây:
- Hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung
- Hình thức tổ chức bộ máy kế toán phân tán
- Hình thức tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán
1.2.1.1 Hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung
Theo mô hình này tổ chức bộ máy kế toán tập trung là hình thức chỉ tổchức một phòng kế toán tập trung, toàn bộ công việc kế toán được thực hiện tậptrung tại phòng kế toán, các đơn vị, bộ phận trực thuộc đều không có tổ chức kếtoán riêng mà chỉ thu nhận, xử lý chứng từ ban đầu, lập các bảng kê chứng từ,định kỳ chuyển chứng từ và bảng kê chứng từ về phòng kế toán ở đơn vị chính
để ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết, lập báo cáo tài chính định kỳ vàbáo cáo kế toán quản trị phục vụ cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán này áp dụng cho các doanh nghiệp cóquy mô nhỏ, tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý trên địa bàn tậptrung Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình kế toán tập trung như sau:
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung được thể hiện qua Sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung
Các phần hành kế toán phần hành tại trung tâm
Các nhân viên kế toán
phần hành tại trung tâm
Kế toán tổng hợp tại trung tâm
Nhân viên hạch toán thống kê, báo
sổ từ đơn vị trực thuộc Trưởng đơn vị hạch toán
Trang 181.2.1.2 Hình thức tổ chức bộ máy kế toán phân tán
Áp dụng đơn vị có quy mô lớn, địa bàn sản xuất kinh doanh phân tán, cácđơn vị thành viên được phân cấp quản lý Với mô hình này công tác kế toán đượcphân bổ chủ yếu cho các đơn vị cấp dưới, còn lại công việc kế toán thực hiện ởcấp trên phần lớn là tổng hợp và lập báo cáo kế toán chung toàn doanh nghiệp.Theo hình thức tổ chức bộ máy kế toán phân tán thì ở đơn vị chính (đơn vịhạch toán cơ sở) lập phòng kế toán trung tâm, còn ở đơn vị kế toán phụ thuộcđều có tổ chức kế toán riêng và đã được phân cấp quản lý kinh tế tài chính nội
bộ ở mức độ cao (được giao vốn và tính kết quả hoạt động kinh doanh riêng)Trong mô hình này, toàn bộ công việc kế toán, tài chính, thống kê trongtoàn bộ doanh nghiệp được phân công, phân cấp như sau:
Ở phòng kế toán trung tâm có nhiệm vụ
- Thực hiện các phần hành công việc kế toán phát sinh ở đơn vị chính vàlập báo cáo kế toán phần hành công việc thực hiện
- Xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính của doanh nghiệp và hướng dẫn,thực hiện công tác thống kê các chỉ tiêu cần thiết
- Hướng dẫn và kiểm tra công tác kế toán ở đơn vị phụ thuộc
- Thu nhận, kiểm tra báo cáo kế toán ở các đơn vị phụ thuộc gửi lên để tổnghợp lập báo cáo kế toán toàn doanh nghiệp
Ở các đơn vị phụ thuộc có nhiệm vụ
- Tổ chức thực hiện toàn bộ công tác kế toán ở đơn vị phụ thuộc để định kỳlập báo cáo kế toán gửi về phòng kế toán trung tâm
- Xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính của đơn vị
- Thống kê các chỉ tiêu cần thiết trong phạm vi đơn vị thực hiện
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán được thể hiện qua Sơ đồ 1.2
Trang 19Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán
1.2.1.3 Hình thức tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán
Đối với doanh nghiệp có quy mô lớn, địa bàn hoạt động rộng, có nhiều đơn
vị phụ thuộc mà mức độ phân cấp quản lý kinh tế tài sản nội bộ doanh nghiệpkhác nhau thì có thể tổ chức công tác kế toán theo mô hình hỗn hợp : vừa tậptrung vừa phân tán Thực chất, là sự kết hợp hai mô hình tổ chức công tác kếtoán đã nói trên phù hợp với đặc điểm tổ chức kinh doanh ở đơn vị Bộ máy kếtoán này gồm kế toán trung tâm của doanh nghiệp và các bộ phận kế toán vànhân viên kế toán ở các bộ phận khác Phòng kế toán trung tâm thực hiện kếtoán nghiệp vụ kinh tế liên quan toàn doanh nghiệp và các bộ phận khác không
tổ chức kế toán đồng thời thực hiện tổng hợp tài liệu tứ các kế toán bộ phậnkhác có tổ chức kế toán gửi tới, lâp báo cáo chung toàn đơn vị Các bộ phận kếtoán thực hiện công tác kế toán tương đối hoàn chỉnh các nghiệp vụ kinh tế phátsinh ở các bộ phận đó theo sự phân công của phòng kế toán trung tâm Sơ đồ tổchức bộ máy kế toán theo mô hình kế toán vừa tập trung vừa phân tán như sau:
Trang 20Trong bộ máy kế toán ở một cấp cụ thể, các kế toán phần hành và kế toántổng hợp đều có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng về công tác kế toán ởđơn vị.
Các kế toán phần hành thường được chuyên môn hoá sâu theo một hoặc một
số phần hành Khi đã được phân công ở phần hành nào, kế toán đó phải đảmnhiệm từ giai đoạn hạch toán ban đầu (trực tiếp ghi chứng từ hoặc tiếp nhận vàkiểm tra chứng từ) tới các giai đoạn kế tiếp theo: ghi sổ kế toán phần hành, đốichiếu kiểm tra số liệu trên sổ với thực tế, lập báo cáo kế toán phần hành được giao.Trong quá trình đó, các phần hành luôn có mối liên hệ ngang, có tính chất tácnghiệp Đồng thời, các kế toán phần hành đều có mối liên hệ với kế toán tổng hợptrong việc cung cấp số liệu đảm bảo cho kế toán tổng hợp thực hiện tốt chức năngtổng hợp của mình
Ở đơn vị chính vẫn lập phòng kế toán trung tâm, ở các đơn vị phụ thuộc đãđược phân cấp quản lý kinh tế tài chính mức độ cao thì có tổ chức công tác kếtoán riêng, còn các đơn vị phụ thuộc chưa được phân cấp quản lý kinh tế tàichính ở mức độ cao thì không tổ chức công tác kế toán riêng mà tất cả các hoạtđộng kinh tế tài chính trong đơn vị này do phòng kế toán trung tâm ghi chép,tổng hợp và báo cáo
Toàn bộ công việc kế toán ở doanh nghiệp trong trường hợp này được phâncông, phân cấp như sau:
Ở phòng kế toán trung tâm
- Xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính của doanh nghiệp
- Thực hiện các phần hành công việc kế toán và thống kê phát sinh ở đơn vịchính và các đơn vị trực thuộc không có tổ chức kế toán riêng
- Hướng dẫn, kiểm tra công tác kế toán ở các đơn vị phụ thuộc có tổ chức
kế toán riêng
- Thu nhận, kiểm tra báo cáo kế toán của các đơn vị phụ thuộc gửi lên vàcủa phần hành công việc ở đơn vị chính để lập báo cáo kế toán tổng hợp toándoanh nghiệp
Trang 21- Xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính ở đơn vị.
- Tổ chức thực hiện toàn bộ công việc kế toán và thống kê trong đơn vị vàđịnh kỳ lập báo cáo kế toán gửi về phòng kế toán trung tâm
Ở các đơn vị phụ thuộc không có tổ chức kế toán riêng:
- Bố trí các nhân viên kế toán làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thu nhận vàkiểm tra chứng từ ban đầu
- Thực hiện từng phần hành công việc kế toán cụ thể được kế toán trưởngphân công và định kỳ gửi chứng từ kế toán và báo cáo sơ bộ về các phần hànhcông việc kế toán được giao về phòng kế toán trung tâm để kiểm tra và ghi sổ kếtoán
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán được thể hiện qua Sơ
Đơn vị kinh tế trực thuộc
Bộ phận kiểm tra
Kế toán các
phần hành
Ban kế toán tại tổ đội thi công trực thuộc
Bộ phận tổng hợp báo cáo
từ đơn vị trực thuộc
Kế toán các tổ đội thi công trực thuộc hạch toán tập trung
Kế toán trưởng
Nhân viên hạch toán tại tổ đội thi công trực
thuộc
Trang 22quy định ban hành kèm theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014.Tất
cả các loại chứng từ đều mang tính hướng dẫn, doanh nghiệp được chủ động xâydựng, thiết kế biểu mẫu chứng từ kế toán nhưng phải đáp ứng yêu cầu của Luật
Kế toán và đảm bảo rõ ràng, minh bạch
Chứng từ kế toán là những chứng từ chứng minh bằng giấy tờ về nghiệp vụkinh tế tài chính phát sinh thực sự hoàn thành Kế toán căn cứ vào nội dungchứng từ để phân tích, ghi chép vào sổ kế toán Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinhđều phải có chứng từ, chứng từ kế toán là tài liệu gốc, có tính bằng chứng, tínhpháp lý, chứng từ phải chính xác, đầy đủ, kịp thời, hợp pháp, hợp lệ
Chứng từ kế toán được phân loại:
- Theo nội dung kinh tế, chứng từ kế toán được chia thành: Lao động – tiềnlương, hàng tồn kho, tiền tệ, tài sản cố định…
- Theo địa điểm, các chứng từ kế toán được chia thành chứng từ bên trong
- Tên, địa chỉ của đơn vị, cá nhân lập chứng từ kế toán;
- Tên, địa chỉ của đơn vị, cá nhân nhận chứng từ kế toán;
- Nội dung tóm tắt của hoạt động kinh tế tài chính phát sinh;
- Tên nhãn hiệu, số lượng, đơn giá và số tiền của nghiệp vụ kinh tế tàichính ghi bằng số; tổng số tiền của chứng từ kế toán dùng để thu, chi tiền ghibằng số và chữ;
- Họ tên và chữ ký người lập, người thực hiện, người kiểm soát, ngườiduyệt
Để tổ chức thu nhận thông tin kế toán các công ty cần xác định cho mình
hệ thống danh mục chứng từ kế toán nhất định Hệ thống danh mục chứng từ kếtoán gồm tất cả các chứng từ được phân chia theo từng loại để phản ánh các
Trang 23từ phải đảm bảo tính thống nhất Việc xây dựng và quy định các biểu mẫu chứng
từ kế toán trong các công ty là một công việc quan trọng nó đảm bảo cho quátrình thu nhận các thông tin kế toán một cách đầy đủ, trung thực và kịp thời.Luân chuyển chứng từ kế toán: Chứng từ kế toán sau khi đã được kiểm tra
và hoàn chỉnh cần được tổ chức luân chuyển đến các bộ phận, đơn vị, cá nhân cóliên quan phục vụ ghi sổ kế toán các thông tin kinh tế Việc tổ chức luân chuyểnchứng từ phải tuân thủ quy định của kế toán trưởng đơn vị về thứ tự, thời gian,trên cơ sở nhu cầu nhận thông tin, thời gian nhận và xử lý thông tin của bộ phậnđơn vị, cá nhân do kế toán trưởng quy định Chứng từ kế toán thường xuyên vậnđộng, sự vận động liên tục kế tiếp nhau từ giai đoạn này sang giai đoạn khác củachứng từ Quá trình xử lý và luân chuyển chứng từ phải được thực hiện qua cácbước cơ bản sau:
- Lập chứng từ kế toán;
- Kiểm tra chứng từ kế toán;
- Sử dụng chứng từ để ghi sổ kế toán;
- Tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán;
- Bảo quản và lưu trữ chứng từ kế toán;
- Tiêu hủy chứng từ kế toán
Bảo quản lưu trữ chứng từ kế toán: Chứng từ kế toán chứng minh cho cáchoạt động kinh tế, tài chính phát sinh, nó thực sự hoàn thành, chứng minh cho sốliệu ghi sổ kế toán và thông tin kinh tế Bởi vậy, sau khi sử dụng chứng từ kếtoán cần được bảo quản và lưu trữ theo quy định của Luật kế toán, tránh gây nênmất mát, hư hỏng chứng từ kế toán, đảm bảo khi cần thiết có thể sử dụng lạichứng từ kế toán để phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra kinh tế Trường hợpxảy ra mất mát, hư hỏng chứng từ kế toán phải kịp thời báo cáo thủ trưởng, kếtoán trưởng đơn vị và các cơ quan chứng năng để có biện pháp xử lý
Trên cơ sở hệ thống chứng từ kế toán đã ban hành, đơn vị căn cứ vào đặcđiểm, yêu cầu quản lý của các đối tượng kế toán, căn cứ vào tình hình cụ thể của
bộ máy kế toán, căn cứ đặc điểm số lượng và nội dung nghiệp vụ kinh tế phátsinh ở đơn vị để tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán và trình tự luânchuyển chứng từ kế toán phù hợp Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán cần phùhợp với tính đa dạng của nghiệp vụ kinh tế phát sinh, đảm bảo đầy đủ các yếu tố
Trang 24cần thiết để kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp, tổ chức luân chuyển chứng từ mộtcách khoa học, là cơ sở kiểm tra và ghi sổ
1.2.3 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
Tài khoản kế toán là cách thức phân loại, hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh riêng biệt theo từng đối tượng của kế toán (tài sản, nguồn hình thànhtài sản và các quá trình vận động của tài sản, nguồn vốn) và theo trình tự thờigian nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý của các loại chủ thể khác nhau
Hệ thống tài khoản kế toán là bảng kê danh mục các tài khoản kế toán sửdụng cho công tác kế toán ở các doanh nghiệp bao gồm: Tên tài khoản, nộidung, kết cấu và phương pháp hạch toán trên các tài khoản Để cung cấp đầy đủthông tin cho quản lý, các doanh nghiệp phải dùng nhiều tài khoản khác nhau đểphản ánh được toàn bộ các chỉ tiêu cần thiết
Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán hay vận dụng phương pháp tài khoản
kế toán là một phương pháp đặc trưng của kế toán nhằm hệ thống hóa thông tin
kế toán Sự phản ánh các thông tin thông qua phương pháp tài khoản kế toánthực chất là sự xác định mô hình thông tin phù hợp với nhu cầu quản lý nhấtđịnh Do vậy, tổ chức hệ thống tài khoản kế toán chính là xây dựng một mô hìnhthông tin nhằm cung cấp thông tin tổng quát về tình hình hoạt động của cácdoanh nghiệp Nhu cầu quản lý của đơn vị đòi hỏi một mô hình thông tin nhấtđịnh, mô hình thông tin này được xác định trên một hệ thống tài khoản chi tiết,
mà người tổ chức kế toán phải có trách nhiệm xây dựng Tổ chức vận dụng hệthống tài khoản kế toán do Nhà nước ban hành phù hợp với điều kiện của doanhnghiệp để sử dụng, loại bỏ những tài khoản không phù hợp với điều kiện của
đơn vị.
Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 doanh nghiệp phải căn
cứ vào hệ thống tài khoản kế toán của Chế độ kế toán doanh nghiệp để vận dụng
và chi tiết hoá hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinhdoanh, yêu cầu quản lý của từng ngành và từng đơn vị, nhưng phải phù hợp vớinội dung, kết cấu và phương pháp hạch toán của các tài khoản tổng hợp tươngứng
Trang 25Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp theo Thông tư200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính bao gồm 9 loại tài khoảntrong Bảng danh mục hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp:
- Loại TK 1: Tài sản ngắn hạn
- Loại TK 2: Tài sản dài hạn
- Loại TK 3: Nợ phải trả
- Loại TK 4: Vốn chủ sở hữu
- Loại TK 5: Doanh thu
- Loại TK 6: Chi phí sản xuất, kinh doanh
- Loại TK 7: Thu nhập khác
- Loại TK 8: Chi phí khác
- Loại TK 9: Xác định kết quả kinh doanh
Trường hợp doanh nghiệp cần bổ sung tài khoản cấp 1, cấp 2 hoặc sửa đổitài khoản cấp 1, cấp 2 về tên, ký hiệu, nội dung và phương pháp hạch toán cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh đặc thù phải được sự chấp thuận bằng văn bản của
Bộ Tài chính trước khi thực hiện
Doanh nghiệp có thể mở thêm các tài khoản cấp 2 và các tài khoản cấp 3đối với những tài khoản không có qui định tài khoản cấp 2, tài khoản cấp 3 tạidanh mục Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp quy định tại phụ lục 1 -Thông tư này nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp mà không phải
đề nghị Bộ Tài chính chấp thuận
Tài khoản kế toán được mở cho từng đối tượng kế toán có nội dung kinh tếriêng biệt Bộ Tài chính quy định thống nhất hệ thống tài khoản kế toán áp dụngcho các doanh nghiệp về tài khoản, ký hiệu, tên gọi và nội dung ghi chép củatừng tài khoản các đơn vị kế toán căn cứ vào Hệ thống tài khoản của Bộ Tàichính để lựa chọn, áp dụng một hệ thống tài khoản phù hợp và được mở chi tiếtcác tài khoản phục vụ theo yêu cầu quản lý của đơn vị
Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán ở các doanh nghiệp phải thựchiện theo nguyên tắc sau:
- Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng phải đảm bảo bao quát được toàn bộhoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị cũng như quá trình quản lý và sử dụng tàisản, nguồn vốn đảm bảo đúng chế độ, chính sách của Nhà nước
Trang 26- Đơn vị có thể bổ sung thêm các tài khoản cấp II, cấp III, cấp IV ( trừ cáctài khoản kế toán mà Bộ Tài chính đã quy định trong hệ thống tài khoản kế toán)
để phục vụ yêu cẩu quản lý của đơn vị Trường hợp các đơn vị cần mở thêm tàikhoản cấp I ngoài các tài khoản đã có thì phải được Bộ Tài chính chấp thuậntrước khi thực hiện
- Hệ thống tài khoản cần phải được vận dụng đơn giản, dễ làm, dễ kiểm tra,kiểm soát đáp ứng được yêu cầu đối tượng quản lý của đơn vị
- Phản ánh ghi chép nội dung, kết cấu, phạm vi hạch toán trên các tài khoản
kế toán đúng quy định, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của từng ngành, từng lĩnhvực, từng đơn vị đảm bảo khoa học, thống nhất với quy định các chế độ kế toán
- Vận dụng tổ chức hệ thống tài khoản kế toán, tổ chức trên máy vi tínhphải đáp ứng được yêu cầu quản lý và sử dụng thông tin một cách chính xác, kịpthời và phù hợp với yêu cầu của chế độ kế toán
Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán để hệ thống hóa thông tin kế toán.Tài khoản kế toán là các trang sổ kế toán được mở để ghi chép phản ánhmột cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống nhằm phản ánh được tình hình và
sự biến động của từng chỉ tiêu kinh tế - tài chính, phản ánh tài sản và sự vậnđộng tài sản ở đơn vị Các chỉ tiêu kinh tế tài chính này bao gồm các chỉ tiêukinh tế tài chính tổng hợp và các chỉ tiêu kinh tế tài chính chi tiết vì vậy tàikhoản kế toán cũng được phân chia thành nhiều cấp Các tài khoản cấp I được
mở để ghi phản ánh tình hình và sự biến động của các chỉ tiên kinh tế tài chínhtổng hợp nên còn gọi là tài khoản tổng hợp, còn các tài khoản chi tiết được mởtheo các chỉ tiêu kinh tế tài chính cụ thể hơn nhằm cụ thể hóa các chỉ tiêu kinh
tế tài chính tổng hợp mà tài khoản chi tiết được mở nhiều cấp khác nhau (tàikhoản cấp 2, cấp 3, cấp 4)
Danh mục tài khoản cấp I dùng để ghi chép phản ánh được toàn bộ tài sản
và vận động của tài sản ở đơn vị gọi là hệ thống tài khoản kế toán Thôngthường các đơn vị không tự xây dựng hệ thống tài khoản kế toán mà chỉ căn cứvào hệ thống tài khoản đã được xây dựng cho lĩnh vực hoạt động kinh tế tàichính để xác định danh mục các tài khoản kế toán đơn vị cần sử dụng để phảnánh toàn bộ tình hình kinh tế tài chính ở đơn vị mình
Trang 27Mỗi đơn vị phải căn cứ theo nội dung hoạt động kinh tế tài chính ở đơn vịmình để xác định đơn vị phải sử dụng hệ thống tài khoản nào, sau đó xác địnhdanh mục các tài khoản trong hệ thống tài khoản kế toán mà đơn vị cần phải sửdụng để phản ánh toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính phát sinh ở đơn vị,phù hợpvới yêu cầu quản lý kinh tế tài chính và mức độ phân cấp quản lý kinh tế tàichính nội bộ ở đơn vị Các đơn vị nếu cần thiết mở thêm tài khoản cấp I thì phảikiến nghị cơ quan chủ quản và chỉ được mở khi có sự đồng ý của Bộ Tài chính.Xây dựng hệ thống hóa thông tin kế toán chi tiết Việc hệ thống hóa thôngtin kế toán theo các chỉ tiêu kế toán tài chính tổng hợp phản ánh ở tài khoản cấp
1 nhằm cung cấp thông tin kế toán phục vụ quản lý kinh tế tài chính vĩ mô làchủ yếu Ở đơn vị cần phải hệ thống hóa thông tin một cách chi tiết, cụ thể hóahơn các chỉ tiêu kinh tế tài chính nội bộ bằng cách mở tài khoản kế toán chi tiết.Khả năng mở tài khoản kế toán chi tiết là vô hạn, nhưng khi xây dựng hệ thốngtài khoản chi tiết cần phải xem xét kỹ chi phí bỏ ra với lợi ích thu được, để cótính hiệu quả cao nhất
Việc ghi chép kế toán và hệ thống hóa thông tin kế toán ở các tài khoản chitiết chẳng những để cung cấp thông tin kế toán chi tiết phục vụ yêu cầu quản lýchặt chẽ tài sản của đơn vị, xác định rõ trách nhiệm vật chất của những ngườiphân công bảo quản, quản lý và sử dụng tài sản của đơn vị, phục vụ yêu cầuphân cấp quản lý kinh tế tài chính nội bộ đơn vị, phục vụ yêu cầu quản lý kinhdoanh ở doanh nghiệp, mà còn là phương tiện để kiểm tra chính xác tính thực tếcủa số liệu kế toán Cuối tháng, cuối quý phòng kế toán phải lập các bảng chitiết số phát sinh theo tài khoản cấp 1 có được mở chi tiết nhằm đảm bảo tínhchính xác của việc ghi chép những tài sản có thể kiểm kê được như tài sản cốđịnh hữu hình, hàng tồn kho, nợ phải thu Định kỳ phải đôn đốc tiến hành thực
tế kiểm kê đối chiếu xác minh công nợ nhằm đảm bảo tính xác thực của số liệu
kế toán
1.2.4 Tổ chức lựa chọn và vận dụng sổ kế toán
Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu trữ toàn bộ các nghiệp vụkinh tế, tài chính đã phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian cóliên quan đến doanh nghiệp
Trang 28Mỗi đơn vị kế toán chỉ có một hệ thống sổ kế toán cho một kỳ kế toán năm.
Sổ kế toán gồm: Sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết
Tùy theo hình thức kế toán đơn vị áp dụng, đơn vị phải mở đầy đủ các sổ
kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết và thực hiện đầy đủ, đúng các quy định củahình thức kế toán về nội dung, trình tự và phương pháp ghi chép đối với từngmẫu sổ kế toán Nhà nước quy dịnh bắt buộc về mẫu sổ, nội dung và phươngpháp ghi chép đối với các loại sổ tổng hợp (Sổ Cái, sổ Nhật ký) quy định mangtính hướng dẫn đối với các loại sổ kế toán chi tiết, thẻ kế toán chi tiết
Việc tổ chức hệ thống sổ kế toán của đơn vị phải đảm bảo được các yêucầu cơ bản sau:
- Phù hợp với yêu cầu, phạm vi, quy mô, đặc điểm hoạt động của từng loạihình đơn vị
- Phù hợp với trình độ cán bộ kế toán của đơn vị, yêu cầu công tác quản lý,yêu cầu về thông tin kế toán
- Doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định chung về sổ kế toán được quyđịnh tại luật kế toán về mở sổ kế toán, ghi chép sổ kế toán; sửa chữa sai sót;khoá sổ kế toán; lưu trữ, bảo quản sổ kế toán; xử lý vi phạm
a Tổ chức việc mở sổ, ghi sổ, khoá sổ kế toán
Sổ kế toán phải mở vào đầu kỳ kế toán năm; đối với doanh nghiệp mớithành lập, sổ kế toán phải mở từ ngày thành lập
Doanh nghiệp phải căn cứ vào chứng từ kế toán để ghi sổ kế toán Sổ kếtoán phải ghi kịp thời, rõ ràng, đầy đủ theo các nội dung của sổ Thông tin, sốliệu ghi vào sổ kế toán phải chính xác, trung thực, đúng với nội dung của chứng
từ kế toán Việc ghi sổ kế toán phải theo trình tự thời gian phát sinh của nghiệp
vụ kinh tế, tài chính Thông tin số liệu trên sổ kế toán phải được ghi bằng bútmực; không ghi xen vào phía trên hoặc phía dưới, không ghi chồng lên nhau,không ghi cách dòng Trường hợp ghi không hết trang sổ phải gạch chéo phầnkhông ghi, khi ghi hết trang phải cộng số liệu tổng cộng của trang và chuyển sốliệu tổng cộng sang trang kế tiếp
Doanh nghiệp phải khoá sổ kế toán cuối kỳ kế toán trước khi lập báo cáotài chính và các trường hợp khoá sổ kế toán khác theo quy định của pháp luật
Trang 29Trường hợp doanh nghiệp ghi sổ kế toán bằng máy vi tính thì phải thựchiện về sổ kế toán tại luật kế toán và chế độ sổ sách kế toán hiện hành Sau khikhoá sổ kế toán trên máy vi tính phải in sổ kế toán ra giấy và đóng thành quyểnriêng cho từng thời kỳ kế toán năm.
b Tổ chức sửa chữa sổ kế toán
Khi phát hiện sổ kế toán ghi bằng tay có sai sót thì không được tẩy xoá làmmất dấu vết thông tin, số liệu ghi sai phải sửa chữa theo một trong ba phươngpháp sau:
(1) Ghi cải chính bằng cách gạch một gạch vào chỗ sai và ghi số hoặc chữđúng ở phía trên và phải có chữ ký của kế toán trưởng bên cạnh
(2) Ghi số âm; bằng cách ghi lại số sai bằng mực đỏ hoặc ghi lại số saitrong dấu ngoặc đơn, sau đó ghi lại số đúng và phải có chữ ký của kế toántrưởng bên cạnh
(3) Ghi bổ sung; bằng cách chứng từ ghi bổ sung và ghi thêm số chênh lệchthiếu cho đủ
Trường hợp phát hiện sổ kế toán có sai sót trước khi báo cáo tài chính nămđược nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì phải sửa chữa trên sổ kế toáncủa năm đó
Trường hợp phát hiện sổ kế toán có sai sót sau khi báo cáo tài chính năm đãnộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì phải sửa chữa số trên sổ kế toáncủa năm đã phát hiện sai sót và ghi chú vào dòng cuối của sổ kế toán có sai sót.Trường hợp sửa chữa sổ khi ghi sổ kế toán bằng máy vi tính Nếu phát hiệnsai sót trước khi báo cáo tài chính năm được nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩmquyền thì phải sửa chữa trực tiếp vào sổ kế toán của năm đó trên máy vi tính,trường hợp phát hiện sai sót sau khi báo cáo tài chính năm đã nộp cho cơ quanNhà nước có thẩm quyền thì phải sửa chữa trực tiếp vào sổ kế toán của năm đãphát hiện sai sót trên máy vi tính và ghi chú vào dòng cuối của sổ kế toán năm cósai sót
Sửa chữa sổ kế toán trong trường hợp ghi sổ bằng máy vi tính cũng đượcthực hiện theo phương pháp ghi số âm hoặc ghi bổ sung như kế toán bằng tay
1.2.5 Tổ chức công tác lập và phân tích báo cáo tài chính
Kết quả cuối cùng của chu trình kế toán là cung cấp cho người sử dụng các
Trang 30thông tin cần thiết về tình hình kinh tế - tài chính, kết quả kinh doanh và sự biếnđộng của tài sản, nguồn vốn thông qua các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính là những báo cáo phản ánh tổng hợp tình hình tài sản,nguồn vốn, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả, tình hình kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp trong một thời kỳ kế toán Báo cáo tài chính cung cấp các thôngtin kinh tế - tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kế toán trong việcđánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp để từ đó đưa ra các quyết định quản lý, quyết định kinh doanh.Báo cáo tài chính là những báo cáo mang tính chất bắt buộc, phải công khai vàtrình bày theo Luật kế toán, theo Chuẩn mực kế toán
Báo cáo kế toán quản trị là những báo cáo kế toán phục vụ cho nhu cầuquản lý nội bộ doanh nghiệp Tuỳ theo yêu cầu quản lý mà báo cáo kế toán quảntrị có những nội dung cụ thể khác nhau và được lập ở những thời điểm khácnhau Các báo cáo này có thể phản ánh chi tiết tình hình tài sản cuối kỳ hoặctrong kỳ kế toán, nguồn vốn theo từng đối tượng cụ thể, tình hình và kết quả củatừng hoạt động sản xuất, kinh doanh Đối với hệ thống báo cáo kế toán quảntrị, Nhà nước chỉ quy định có tính chất hướng dẫn về nội dung, biểu mẫu các chỉtiêu, phương pháp lập Trên cơ sở hướng dẫn chung, các doanh nghiệp căn cứvào điều kiện cụ thể, vào yêu cầu trình độ quản lý của doanh nghiệp để tổ chức hệthống báo cáo kế toán quản trị cho phù hợp với doanh nghiệp mình
Nếu dựa vào thời gian, thời hạn lập và cung cấp báo cáo thì báo cáo kế toánquản trị được chia thành báo cáo nhanh và báo cáo định kỳ
- Báo cáo nhanh là những báo cáo trình bày các thông tin tác nghiệp, thôngtin nhanh không theo một thời gian quy định bắt buộc, chủ yếu theo yêu cầu chỉđạo sản xuất kinh doanh, quản lý kịp thời hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
- Báo cáo định kỳ là những loại báo cáo được lập cuối kỳ kế toán để trìnhbày thông tin theo yêu cầu quản lý về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp về tính chất, nội dung, phạm vi sau mỗi kỳ kế toán
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớnkhông những đối với các cơ quan, đơn vị và cá nhân bên ngoài doanh nghiệp mà
Trang 31của doanh nghiệp Ý nghĩa của nó được thể hiện qua một số điểm cơ bản sau:
- Cung cấp các thông tin quan trọng cần thiết cho việc kiểm tra, đánh giámột cách toàn diện và có hệ thống tình hình sản xuất, kinh doanh, tình hình thựchiện các chỉ tiêu kinh tế - tài chính của doanh nghiệp, tình hình chấp hành cácchế độ kinh tế - tài chính của doanh nghiệp
- Cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp về tiềm lực của doanhnghiệp, tình hình công nợ, tình hình thu chi tài chính, khả năng tài chính, khảnăng thanh toán, nhu cầu về vốn của doanh nghiệp để có các quyết định phùhợp trong hoạt động sản xuất kinh doanh của chính bản thân doanh nghiệp
- Cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, các chủ nợ, ngân hàng, đại lý vàcác đối tác kinh doanh về thực trạng tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh, triểnvọng thu nhập, khả năng thanh toán, nhu cầu về vốn để quyết định hướng đầu
tư, quy mô đầu tư và các quyết định quan trọng khác
- Cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý Nhà nước đểkiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp theo đúng chính sách chế độ, đúngpháp luật, để thu thuế và ra những quyết định cho những vấn đề kinh tế - xã hội
Để đáp ứng được vai trò quan trọng của hệ thống báo cáo tài chính, việc tổchức hệ thống báo cáo tài chính phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Các báo cáo phải được lập theo đúng biểu mẫu quy định Các nội dung,các phương pháp xác định các chỉ tiêu trên các báo cáo phải thống nhất Có đảmbảo được yêu cầu này, việc lập các báo cáo mới có thể đáp ứng được yêu cầuthông tin cho các đối tượng sử dụng khác nhau, có thể so sánh được giữa các kỳ
và giữa các doanh nghiệp với nhau
- Báo cáo tài chính phải trung thực, chính xác, đảm bảo tính khách quan vềtình hình thực tế của doanh nghiệp
- Các chỉ tiêu trên báo cáo phải liên hệ chặt chẽ với nhau, là cơ sở củanhau, bổ sung cho nhau và ước chế lẫn nhau Có như vậy mới có thể đánh giáđược tính hợp lý, khách quan, trung thực của báo cáo
- Báo cáo tài chính phải được lập và gửi đúng hạn;
Xuất phát từ các yêu cầu trên, các căn cứ chủ yếu tổ chức hệ thống báo cáo
kế toán là:
- Căn cứ vào yêu cầu của công tác lãnh đạo, điều hành sản xuất kinh doanh
Trang 32trong từng đơn vị cũng như chính sách chế độ về báo cáo kế toán của các cơquan quản lý Nhà nước.
- Căn cứ vào đặc điểm riêng về trình độ quản lý, trình độ kế toán củadoanh nghiệp
- Căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp về lĩnh vực kinh doanh,tính chất phức tạp của hoạt động kinh tế tài chính, quy mô đơn vị lớn hay nhỏ
- Căn cứ vào hệ thống báo cáo thống nhất do Nhà nước ban hành để vậndụng phù hợp vào doanh nghiệp
Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC doanh nghiệp căn cứ biểu mẫu và nộidung của các chỉ tiêu của Báo cáo tài chính tại Thông tư này để chi tiết hoá cácchỉ tiêu (có sẵn) của hệ thống Báo cáo tài chính phù hợp với đặc điểm sản xuất,kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng ngành và từng đơn vị
Trường hợp doanh nghiệp cần bổ sung mới hoặc sửa đổi biểu mẫu, tên vànội dung các chỉ tiêu của Báo cáo tài chính phải được sự chấp thuận bằng vănbản của Bộ Tài chính trước khi thực hiện Biểu mẫu báo cáo tài chính theoThông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của BTC Dưới đây là một số biểumẫu hay dùng trong Báo cáo tài chính
Riêng báo cáo tài chính năm gửi cho cơ quan thuế phải lập và gửi thêm 02phụ biểu sau:
Dựa trên các báo cáo tài chính đã được lập, đơn vị cần tổ chức phân tíchbáo cáo kế toán để phân tích thông tin cho nhà quản trị ra quyết định
1.2.6 Tổ chức kiểm tra kế toán
Tổ chức kiểm tra kế toán là một trong những khâu quan trọng trong tổ chức
kế toán nhằm bảo đảm cho công tác kế toán được thực hiện đúng quy định, có
Trang 33Về lâu dài, tổ chức kiểm tra kế toán sẽ được thực hiện thông qua hệ thống kiểmtoán mà trong đó kiểm toán nội bộ có ý nghĩa và vị trí hết sức quan trọng.
Doanh nghiệp phải tự tổ chức kiểm tra kế toán và chịu sự kiểm tra kế toáncủa cơ quan có thẩm quyền và không quá một lần kiểm tra trong cùng một năm.Việc kiểm tra kế toán chi được thực hiện khi có quyết định kiểm tra cùng nộidung trong một năm Việc kiểm tra kế toán chỉ được thực hiện khi có quyết địnhcủa cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật với các nội dung kiểmtra được quy định trong quyết định kiểm tra, gồm: kiểm tra việc thực hiện cácnội dung công tác kế toán; kiểm tra việc tổ chức bộ máy kế toán và người làm kếtoán; kiểm tra việc thực hiện tổ chức quản lý hoạt động nghề nghiệp kiểm toán;kiểm tra việc chấp hành các quy định khác của pháp luật về kế toán
Doanh nghiệp có trách nhiệm phải cung cấp cho đoàn kiểm tra kế toán Tàiliệu kế toán có liên quan đến nội dung kiểm tra và giải trình các nội dung theoyêu cầu của đoạn kiểm tra và thực hiện kết luận của đoàn kiểm tra kế toán Đồngthời doanh nghiệp có quyền được từ chối kiểm tra nếu thấy việc kiểm tra khôngđúng thẩm quyền hoặc nội dung kiểm tra trái với quy định của pháp luật, khiếunại về kết luận của đoàn kiểm tra kế toán với cơ quan có thẩm quyền quyết địnhkiểm tra kế toán Trường hợp không đồng ý với kết luận của cơ quan có thẩmquyền quyết định kiểm tra kế toán thì thực hiện theo quy định của pháp luật
Nội dung của kiểm tra kế toán:
- Kiểm tra việc thực hiện các nội dung công tác kế toán;
- Kiểm tra việc tổ chức bộ máy kế toán và người làm kế toán;
- Kiểm tra việc tổ chức quản lý và hoạt động nghề nghiệp kế toán;
- Kiểm tra việc chấp hành các quy định khác của pháp luật về kế toán
Nhiệm vụ của kiểm tra kế toán là:
- Kiểm tra tính chất hợp pháp của các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh;
- Kiểm tra việc tính toán, ghi chép, phản ánh của kế toán về các mặt chínhxác, kịp thời, đầy đủ, trung thực, rõ ràng; kiểm tra việc chấp hành các chế độ,thể lệ kế toán và kết quả công tác của bộ máy kế toán;
- Thông qua việc kiểm tra kế toán mà kiểm tra tình hình chấp hành ngân
Trang 34sách, chấp hành kế hoạch SXKD, thu chi tài chính, kỷ luật thu nộp, thanh toán;kiểm tra việc giữ gìn, sử dụng các loại vật tư và vốn bằng tiền; phát hiện và ngănchặn các hiện tượng vi phạm chính sách, chế độ kinh tế tài chính.
- Qua kết quả kiểm tra kế toán mà đề xuất các biện pháp khắc phục nhữngkhiếm khuyết trong công tác kế toán, trong công tác quản lý của doanh nghiệp
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, công việc kiểm tra kế toán cần phảiđảm bảo các yêu cầu:
- Thận trọng, nghiêm túc, trung thực, khách quan trong quá trình kiểm tra
- Các kết luận kiểm tra phải rõ ràng, chính xác, chặt chẽ trên cơ sở đốichiếu với chế độ, thể lệ kế toán cũng như các chính sách chế độ quản lý kinh tế,tài chính hiện hành Qua đó vạch rõ những thiếu sót, tồn tại cần khắc phục
- Phải có báo cáo kịp thời lên cấp trên và các cơ quan tổng hợp kết quả kiểmtra; những kinh nghiệm tốt về công tác kiểm tra kế toán cũng như các vấn đề cần
bổ sung, sửa đổi về chế sộ kế toán và chính sách, chế độ kinh tế, tài chính
- Các đơn vị được kiểm tra phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trong thờigian quy định các kiến nghị của cơ quan kiểm tra về việc sửa chữa những thiếusót đã được phát hiện qua kiểm tra kế toán
Công việc kiểm tra kế toán có thể được tiến hành định kỳ hoặc bất thường
và thường bao gồm các nội dung:
- Kiểm tra việc vận dụng các chế độ, thể lệ chung của kế toán vào tình hình cụthể theo đặc điểm của ngành hoặc từng đơn vị Ví dụ: Kiểm tra việc vận dụng chế
độ ghi chép ban đầu của ngành hoặc đơn vị có tính thích hợp không; kiểm tra việcvận dụng hệ thống tài khoản thống nhất; kiểm tra việc vận dụng hình thức kế toán
có thích hợp với điều kiện và khả năng của đơn vị không
- Kiểm tra chứng từ kế toán: là nội dung chủ yếu của việc kiểm tra trướctrong nội bộ đơn vị Kiểm tra chứng từ là một khâu quan trọng gắn liền với việckiểm tra từng nghiệp vụ kế toán đối với các cuộc kiểm tra thường kỳ hoặc bấtthường của đơn vị cấp trên hoặc các cơ quan tài chính Chứng từ được kiểm trachủ yếu theo các nội dung: tính hợp pháp, tính hợp lệ của chứng từ
Trang 35đúng sự thật, đúng với chứng từ kế toán, rõ ràng, rành mạch.
- Kiểm tra việc lập, nộp báo cáo tài chính: Kiểm tra báo cáo tài chính cóđược lập theo mẫu quy định, đúng pháp luật, trung thực và có được nộp cho các
cơ quan, đơn vị theo thời gian quy định
- Kiểm tra việc tổ chức bộ máy kế toán và người làm kế toán: Kiểm tra việcphân công, phân nhiệm, lề lối làm việc của bộ máy kế toán
- Kiểm tra tổ chức quản lý và hoạt động nghề nghiệp kế toán
1.2.7 Tổ chức ứng dụng tin học vào công tác kế toán
Trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin là quá trình ứng dụng máy
vi tính trong hệ thống kế toán, nhằm hỗ trợ công tác kế toán trong việc thu nhận,
xử lý, tính toán, lưu trữ, tìm kiếm và cung cấp thông tin kế toán phục vụ chođiều hành và quản lý hoạt động kinh tế - tài chính nhanh nhạy, kịp thời
Tổ chức trang bị, mua sắm phần cứng, phần mềm phù hợp với khả năng vềtài chính cũng như phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh và tổ chức quản
lý của công ty Công ty căn cứ vào yêu cầu của công tác kế toán, công ty xâydựng kế hoạch trang bị máy tính cho ban kế toán và từng bộ phận kế toán
Để phát huy hiệu quả của máy tính, cần thiết phải lựa chọn phần cứng đảmbảo các yêu cầu sau:
+ Có cấu hình phù hợp với chương trình phần mềm được ứng dụng
+ Phù hợp với mô hình tổ chức quản lý và tổ chức quản lý SXKD
+ Phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp
+ Đảm bảo công nghệ tiên tiến và tính đồng bộ trong trang thiết bị
Đồng thời với việc trang bị hệ thống máy tính là việc trang bị các phầnmềm ứng dụng Các phần mềm phải có các chức năng sau:
+ Đảm nhiệm công việc xử lý thông tin kế toán từ khâu cập nhật dữ liệuBan đầu đến khi lên được số liệu vào các sổ kế toán và BCKT
+ Phân luồng khai thác thông tin theo nhiều tiêu thức khác nhau như theothời gian, theo đối tượng
+ Tự động lập các sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp và các BCKT
Trang 36Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhân viên sử dụng máy tính thành thạokết hợp với chuyên môn kế toán giỏi.
Tổ chức nhập dữ liệu vào máy, phân công trách nhiệm cho từng bộ phận,từng người làm kế toán theo dõi nhập dữ liệu vào máy đối với các nghiệp vụkinh tế phát sinh
Xây dựng hệ thống mã hoá các đối tượng quản lý, mã hoá chứng từ, tàikhoản và quy định nội dung phản ánh của từng mã tài khoản
Xây dựng hệ thống sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết có kết cấu phùhợp với việc sử dụng giao diện máy vi tính
Tổ chức thực hiện chương trình trên máy: Trước hết, cần có thời gian vậnhành thử nghiệm, sau đó rút kinh nghiệm và tiến hành vận hành chính thức vàthường xuyên nâng cao chất lượng của hệ thống máy tính
Như vậy, tùy vào từng loại hình và lĩnh vực hoạt động kinh tế - tài chính
mà mỗi công ty có thể lựa chọn chương trình phần mềm kế toán phù hợp vớicông ty mình
Trang 37TỔNG KẾT CHƯƠNG 1
Tóm lại trong chương 1 của luận văn đã trình bày khái quát những vấn đề
lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán nói chung, nội dung tổ chức công tác
kế toán ở các doanh nghiệp nhằm hiểu rõ bản chất của việc tổ chức công tác kếtoán đối với việc ra quyết định kinh doanh của nhà quản lý ở các doanh nghiệp.Những nội dung trình bày trong chương 1 sẽ là nền tảng cho việc nghiêncứu tìm hiểu được thực tế về tổ chức công tác kế toán tại công ty CPTĐ LêBình, đưa ra phương hướng, giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện tổ chức côngtác kế toán tại công ty CPTĐ Lê Bình
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN LÊ BÌNH 2.1 Tổng quan về công ty cổ phần tập đoàn Lê Bình
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty
Công ty cổ phần Tập đoàn Lê Bình có trụ sở chính tại 31C, ngõ 131 Thái Hà,Đống Đa, Hà Nội
- Tên tiếng anh: LEBINH GROUP CORORATIONP
- Tên viết tắt: LEBINH GROUP CORP
- Trụ sở chính: 31C ngõ 31 Thái Hà, Đống Đa , Hà Nội
- Điện thoại: 04-35376753 - Fax: 04-35376892
- E-mail: info@lebinh.v
- Văn phòng đại diện
+ Tại Nghệ An: 108 Đường Nguyễn Du, phường Bến Thuỷ, TP Vinh
+ Tại Đà Nẵng: Lô 1, Khu công nghiệp Đà Nẵng
+ Tại TP HCM: số 502/11/11A, khu phố 3, đường Huỳnh Tấn Phát, phườngBình Thuận, quận 7, TPHCM
- Vốn điều lệ: 68.000.000.000 đồng ( Sáu mươi tám tỷ đồng)
- Mã số thuế: 010137773
- Số tài khoản: 1505201010515 tại Ngân hàng NN&PTN, Thanh Xuân, Hà NộiCông ty CPTĐ Lê Bình chuyên phân phối các loại van công nghiệp của hãngVIR, VALVOSIDER, BFE, OMS, OMAL của Italia; AB valves của Đức áp dụngcho ngành nước, khí, gas, xăng dầu, hóa chất, hơi, đóng tàu, chế biến thực phẩm,các loại máy phun sơn: Máy phun sơn công nghiệp, máy phun sơn xây dựng
Từ khi được thành lập năm 2003, công ty TNHH Thương Mại Lê Bìnhtừng bước thực hiện các mục tiêu kế hoạch đã được lập trước dựa trên sự phântích thị trường, tìm hiểu đánh giá đối tác và dựa trên năng lực hiện có của mình.Ban đầu công ty đi vào hoạt động kinh doanh thương mại với số vốn điều lệ là5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng) với 16 cán bộ, nhân viên Mặt hàng kinh
Trang 39Italia trên thị trường miền Bắc từ Nghệ An trở ra Doanh thu năm đầu tiên chỉđạt 10.643.000.000 đồng chủ yếu được thực hiện trên các hợp đồng đã được kýkết giữa công ty với các đối tác là các nhà máy nước các tỉnh: Nghệ An, ThanhHoá, Nam Định, Thái Bình và Hải Phòng Năm 2004 vẫn trên mô hình kinhdoanh ban đầu, công ty đã mở rộng thị trường lên các tỉnh Tây Bắc và thủ đô HàNội Doanh thu năm 2004 của công ty đạt 34.412.000.000 đồng vượt 32% kếhoạch ban đầu Năm 2005, với sản phẩm van công nghiệp được nhiều dự án trêntoàn miền Bắc biết đến, công ty đã lên một kế hoạch kinh doanh rộng lớn Tạihội chợ triển lãm về ngành công nghiệp được tổ chức tại trung tâm Giảng Võ -
Hà Nội, công ty đã đưa các sản phẩm van của mình tham dự, đồng thời chàohàng mới nhập như hệ thống lọc khí, các thiết bị khí nén, các loại tấm gioăng,máy phun sơn áp lực cao, máy làm sạch áp lực cao và các phụ kiện của chúng Năm 2013, 2014, 2017 và 2018, công ty đã tương đối thành công trongviệc kinh doanh các sản phẩm thiết bị công nghiệp trên thị trường toàn quốc vớidoanh thu tăng đột biến qua từng năm Đặc biệt công ty vinh dự được chọn lànhà cung cấp duy nhất toàn bộ hệ thống van cho công trình nhà Hội nghị Quốcgia - Mỹ Đình Ngày 02/3/2010 công ty TNHH Thương Mại Lê Bình chính thứcđược chuyển đổi thành công ty CPTĐ Lê Bình theo chứng nhận đăng ký kinhdoanh số 0101377732 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội
Hiện nay, Công ty CPTĐ Lê Bình đang thực hiện hàng loạt các hợp đồngcung cấp các thiết bị công nghiệp cho các công trình lớn như: Nhà máy lọc dầuDung Quất, nhà Quốc Hội, nhà máy xi măng Nghi Sơn, sân bay Tân Sơn Nhất
Dự kiến trong năm 2020 doanh thu của công ty đạt khoảng 450.000.000.000đồng ( Bốn trăm năm mươi tỷ đồng) và kế hoạch trong năm 2020 công ty sẽtăng vốn điều lệ lên 150.000.000.000 đồng (Một trăm năm mươi tỷ đồng) Công ty CPTĐ Lê Bình đã không ngừng xây dựng thương hiệu và uy tín LêBình ngày càng chiếm lĩnh thị phần trên thị trường vật tư, thiết bị xây dựng vàcông nghiệp Từ khi ra đời tháng 2/2003, tiền thân là công ty TNHH ThươngMại Lê Bình với sự điều hành của một vị giám đốc trẻ đầy tài năng Trên đàphát triển đến tháng 3/2010 từ mô hình công ty TNHH, Lê Bình đã chuyển đổisang mô hình công ty cổ phần
Trang 40Từ một đơn vị nhỏ trải qua 14 năm xây dựng và phát triển với nhiều khókhăn và thách thức Vượt qua những thăng trầm của kinh tế xã hội, Lê Bình đã tạođược một vị thế không hề nhỏ trong hệ thống đại lý của hãng Graco trên thị trườngViệt Nam và trên thị trường các nước Đông Nam Á Với sự hăng say, sáng tạotrong công việc, dạn dày kinh nghiệm thương trường và sự nỗ lực của toàn thểCBCNV đã tạo nên một thương hiệu Lê Bình thân quen với các dự án, công trình. Công ty CPTĐ Lê Bình mới đây còn mở rộng kinh doanh thêm các sản
phẩm vật liệu chống thấm của hãng Versaflex của Mỹ và hãng TeaYoung Hàn
Quốc, một loại vật liệu chống thấm bảo ôn chất lượng tối ưu nhất cho các công
trìnhVới phương châm “chất lượng đến từng chi tiết” và mục tiêu hướng đến sự
hài lòng của Khách hàng Trong lịch sử phát triển của mình, Lê Bình đã thamgia rất nhiều các dự án lớn mang tầm vóc quốc gia tiêu biểu như: Dự án Trungtâm Hội Nghị quốc gia, dự án tòa nhà Bộ Công an, dự án lọc dầu Dung Quất,hầm đèo Hải Vân, dự án nhà Quốc hội… ngoài ra còn cung cấp thiết bị phunsơn cho các nhà máy đóng tàu, các giàn khoan trên khắp các tỉnh thành
Sự nghiệp của công ty CPTĐ Lê Bình được gắn chặt với vị thế cùng với uytín trên thị trường Đội ngũ kinh doanh chuyên nghiệp, đội ngũ kỹ thuật lànhnghề không ngừng được nâng cao về chất lượng và sự chuyên môn hóa dưới dựđào tạo kỹ thuật từ phía các hãng nước ngoài nói trên, với sự đoàn kết thốngnhất, gắn bó từ ban lãnh đạo đến toàn thể nhân viên, công ty luôn luôn nỗ lựckhông ngừng để hướng đến nâng cao chất lượng các công trình, các nhà máy sảnxuất, giảm thiểu gánh nặng về nhân công, góp phần vào mục tiêu của đất nước
là công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Song song với mục tiêu xây dựng và phát triển, công ty CPTĐ Lê Bìnhluôn quan tâm chia sẻ đến những mảnh đời bất hạnh, những hành động mangđậm tính nhân văn Hàng năm, công ty luôn tổ chức những chương trình từ thiệngiúp đỡ trẻ em nghèo, trẻ em khuyết tật cùng hướng đến sự ấm no hạnh phúc.Năm 2018, hai chương trình đã được Ban lãnh đạo cùng toàn thể CBNV phátđộng đó là chương trình thiện nguyện “tết cho em” và chương trình “chia sẻ yêuthương” Tinh thần tương thân tương ái của toàn thể CBCNV đã phần nào mang