1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan và phát huy tính năng động chủ quan trong quá trình học tập của sinh viên pdf

24 4,2K 27
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 39,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với một hay một số dạng biểu hiện cụthể của vật chất.Thứ hai, đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, tức làthuộc tính tồn t

Trang 1

Vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan và phát huy tính năng động chủ quan trong quá trình học tập của sinh viên

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Lênin nói chung và triết học Lênin nói riêng là môn khoa học cơ bản trang bị cho chúng em những kiến thức cơbản trong nhận thức và hành động

Mác-Triết học là định hướng, là dẫn dắt, là hạt nhân lý luận của Thế Giới, giúp conngười xây dựng thế giới khoa học nhân văn, chính nghĩa Triết học đóng vai tròđịnh hướng sự hình thành, phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồngtrong lịch sử một cách năng động, tự giác, sáng tạo

Triết học vạch ra cho con người hệ thống những cách thức, những nguyên tắc

để định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.Qua quá trình nghiên cứu học tập, hiểu được vai trò của môn học đối với việcnhận thức thế giới và hành động của bản thân Chính vì thế chúng em xin tìm hiểu

để tài “ Vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan và phát huy tính năng động chủquan trong quá trình học tập của sinh viên”

Trang 3

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC TÔN TRỌNG KHÁCH QUAN

VÀ PHÁT HUY TÍNH CHỦ QUAN LÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA VẬT CHẤT

Chủ nghĩa duy vật cổ đại đã đồng nhất vật chất với những dạng tồn tại cụ thểcủa vật chất Thí dụ: nước (quan niệm của Talet); không khí (quan niệmAnaximen); lửa (quan niệm của Hêraclit); nguyên tử (quan niệm của Đêmôcrit);đất, nước, lửa, gió (quan niệm của triết học Ấn Độ); kim, mộc, thủy, hỏa, thổ(quan niệm trong Thuyết ngũ hành ở Trung Quốc)

Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII đồng nhất vật chất với nguyên tử vàkhối lượng Với quan niệm vật chất là một hay một số chất tự có, đầu tiên, sản sinh

ra vũ trụ chứng tỏ các nhà duy vật trước C.Mác đã đồng nhất vật chất với vật thể.Hạn chế này tất yếu dẫn đến quan điểm duy vật nửa vời, không triệt để Họ chỉ duyvật khi giải quyết những vấn đề của tự nhiên nhưng lại duy tâm thần bí khi giảithích các hiện tượng xã hội

Trang 4

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt phát minh khoa học làm cho cácquan điểm duy vật siêu hình rơi vào khủng hoảng Nhiều phát minh trong vật lýhọc thời kỳ này đã làm đảo lộn quan niệm cũ về vật chất, đó là: Rơnghen (Đức)phát hiện ra tia X (1895); A.H.Beccơren (1852-1908), nhà vật lý học Pháp vàM.Quyri (1867-1934), phát minh ra hiện tượng phóng xạ trong chất uranium(1896); S.J.Tômxơn phát hiện ra điện tử (1897); nhà bác học Đức Kaufman pháthiện ra sự thay đổi khối lượng điện tử; thuyết tương đối hẹp của A.Anhxtanh Các phát minh khoa học này gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trongvật lý học Một số các nhà vật lý học giải thích một cách duy tâm các hiện tượngvật lý và cho rằng vật chất tiêu tan Trong hoàn cảnh đó, các nhà triết học duy tâmchủ quan lợi dụng cơ hội này để khẳng định bản chất “phi vật chất” của thế giới,khẳng định vai trò của các lực lượng siêu nhiên đối với quá trình sáng tạo ra thếgiới, cơ sở tồn tại của chủ nghĩa duy vật không còn nữa Tình hình đó đòi hỏiV.I.Lênin phải đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật Trong tác phẩm

“Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I.Lênin đưa ra địnhnghĩa vật chất kinh điển: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tạikhách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng

ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” [1,151]

Từ định nghĩa vật chất có thể khẳng định:

Thứ nhất, cần phải phân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học vớinhững dạng biểu hiện cụ thể của vật chất Vật chất với tư cách là phạm trù triết học

là kết quả của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên

hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận,không sinh ra, không mất đi; còn tất cả những sự vật, hiện tượng chỉ là những dạngbiểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trình phát sinh, phát triển và chuyển

Trang 5

hóa Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với một hay một số dạng biểu hiện cụthể của vật chất.

Thứ hai, đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, tức làthuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người, dùcon người có nhận thức được nó hay không

Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nêncảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của conngười Ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cáiđược ý thức phản ánh

Phương pháp định nghĩa mà V.I.Lênin dùng để định nghĩa vật chất là đối lậpvật chất với phạm trù ý thức, chỉ ra thuộc tính cơ bản để phân biệt vật chất với ýthức

Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triểncủa chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:

Một là, với việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thuộc tínhkhách quan, V.I.Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể, khắcphục được sự hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cungcấp căn cứ nhận thức khoa học cho sự phát triển của triết học và các khoa học khác

và là cơ sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử

Hai là, với việc khẳng định vật chất là thực tại khách quan “được đem lại chocon người trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phảnánh” V.I Lênin khẳng định vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai đồng thờithừa nhận khả năng của con người có thể nhận thức được thực tại khách quan

Trang 6

b Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương thứctồn tại của vật chất; không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất.Vận động là phương thức tồn tại của vật chất:

Ph.Ăngghen viết: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là

một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” [3 ,519].

Định nghĩa trên của Ph.Ăngghen cho thấy vận động là phương thức tồn tại củavật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất, thông qua vận động mà các dạng cụ thểcủa vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình Vận động của vật chất là tự thân vậnđộng và sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vận động

Vật chất chỉ có thể tồn tại trong vận động, bằng cách vận động, không thể cóvật chất không vận động, cũng như không thể có vận động ngoài vật chất Cácthuộc tính của vật chất chỉ biểu hiện thông qua vận động

Ph.Ăngghen viết: “Các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất chỉ có

thể nhận thức được thông qua vận động; thuộc tính của vật thể chỉ bộc lộ qua vận động; về một vật thể không vận động thì không có gì mà nói cả”.

Các hình thức vận động của vật chất, dựa trên những thành tựu khoa học ở thờiđại mình, Ph.Ăngghen phân chia vận động thành năm hình thức vận động cơ bản:Vận động cơ giới là sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian

Vận động vật lý là vận động của phân tử, của các hạt cơ bản, vận động củanhiệt, ánh sáng, điện, trường, âm thanh…

Trang 7

Vận động hóa học là sự vận động của các nguyên tử; sự hóa hợp và phân giảicủa các chất.

Vận động sinh vật là vận động của các cơ thể sống như sự trao đổi chất, đồnghóa, dị hóa, sự tăng trưỏng, sinh sản, tiến hóa…

Vận động xã hội là sự thay đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa…của đời sống xã hội

Các hình thức vận động cơ bản trên được sắp xếp theo thứ tự từ trình độ thấpđến trình độ cao, tương ứng với trình độ kết cấu của vật chất Các hình thức vậnđộng khác nhau về chất song chúng không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ mậtthiết với nhau trong đó hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thứcvận động thấp và bao hàm trong nó những hình thức vận động thấp hơn Trong sựtồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau songbản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất mà nó

có Bằng việc phân loại các hình thức vận động cơ bản, Ph.Ăngghen đã đặt cơ sởcho việc phân loại, phân ngành, hợp loại, hợp ngành khoa học

Vận động và đứng im:

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vận động là tuyệt đối, là vĩnh viễnnhưng điều đó không có nghĩa là phủ nhận sự đứng im, cân bằng ; song đứng im,cân bằng chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứng im, cân bằng chỉ

là một trạng thái đặc biệt của vận động

Đứng im là tương đối vì đứng im, cân bằng chỉ xảy trong một số quan hệ nhấtđịnh, chứ không phải trong tất cả mọi quan hệ Đứng im, cân bằng chỉ xảy ra trongmột hình thức vận động

Đứng im là tạm thời vì đứng im không phải là cái tồn tại vĩnh viễn mà chỉ tồntại trong một thời gian nhất định, chỉ là xét trong một hay một số quan hệ nhất

Trang 8

định, ngay trong đứng im vẫn diễn ra những quá trình biến đổi nhất định Đứng im

là trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thế cân bằng, ổn định, vậnđộng chưa làm thay đổi cơ bản về chất, về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật.Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

Quan điểm siêu hình coi không gian là một cái hòm rỗng trong đó chứa vậtchất Có không gian và thời gian không có vật chất Có sự vật, hiện tượng khôngtồn tại trong không gian và thời gian

Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồntại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính (chiều cao, chiều rộng, chiều dài) nhấtđịnh và tồn tại trong các mối tương quan nhất định (trước hay sau, trên hay dưới,bên phải hay bên trái…) với những dạng vật chất khác

Những hình thức tồn tại như vậy gọi là không gian Mặt khác sự tồn tại của sựvật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyểnhóa… những hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời gian

Ph.Ăngghen cho rằng: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và

thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ở ngoài không gian”, do đó có thể hiểu:

- Vật chất, không gian và thời gian không tác rời nhau, không có không gian vàthời gian không có vật chất cũng như không thể có sự vật, hiện tượng tồn tại ngoàikhông gian và thời gian

- Không gian, thời gian có những tính chất chung như những tính chất của vậtchất đó là tính khách quan, tính vĩnh cửu, tính vô tận và vô hạn

- Không gian có thuộc tính ba chiều (chiều cao, chiều dài, chiều rộng)còn thờigian chỉ có một chiều (từ quá khứ đến tương lai) Tính ba chiều của không gian và

Trang 9

tính một chiều của thời gian biểu hiện hình thức tồn tại về quảng tính và quá trìnhdiễn biến của vật chất vận động.

c Tính thống nhất vật chất của thế giới

Thế giới vật chất biểu hiện hết sức phong phú, đa dạng, song, những dạng biểuhiện của thế giới vật chất đều phản ánh bản chất của thế giới và thống nhất vớinhau

Quan điểm duy tâm giải thích sự thống nhất của thế giới ở một thực thể tinhthần đầu tiên (Ý niệm, Thượng đế) hoặc từ cảm giác của con người

Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, thếgiới thống nhất ở tính vật chất

Một là, chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, thế giới vật chất là cái

có trước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người

Hai là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không được sinh ra vàkhông bị mất đị

Ba là, mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau,đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, có nguồn gốc vậtchất và chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của vật chất.Nhận thức trên có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ định hướng cho con ngườigiải thích về tính đa dạng của thế giới mà còn định hướng cho việc tiếp tục nhậnthức tính đa dạng ấy để thực hiện quá trình cải tạo hợp quy luật

1.2 Quan điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất là kết cấu của ý thức.

a Nguồn gốc của ý thức

Trang 10

Trên cơ sở khái quát thành tựu của khoa học, của thực tiễn xã hội, chủ nghĩaduy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc vật chất, bản chất phản ánh vật chất của

ý thức để rút ra vai trò của ý thức trong mối quan hệ với vật chất

Quan điểm duy tâm khách quan cho rằng nguồn gốc của ý thức từ một lựclượng siêu tự nhiên (Ý niệm, Brahman, Thượng đế, Trời, v.v.)

Quan điểm duy tâm chủ quan cho rằng ý thức là cái vốn có của con người,không do thần thánh ban cho, cũng không phải là sự phản ánh thế giới bên ngoài.Quan điểm duy vật siêu hình coi ý thức là một dạng vật chất; “ óc tiết ra ý thứccũng như gan tiết ra mật”

Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng ý thức ra đời là kết quả của quá trìnhtiến hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội Ý thức có hai nguồn gốc là nguồn gốc tựnhiên và nguồn gốc xã hội

Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: thể hiện qua sự hình thành của bộ óc con người

và hoạt động của bộ óc đó cùng mối quan hệ của con người với thế giới kháchquan, trong đó thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trìnhphản ánh năng động, sáng tạo

Về bộ óc người: Ý thức là thuộc tính của dạng vật chất có tổ chức cao là bộ ócngười, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc Bộnão người là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới sinh vật Bộ óc cànghoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức conngười càng phong phú và sâu sắc Bộ não của động vật chỉ đạt đến trình độ phản

xạ, bản năng, tâm lý động vật, trong khi đó bộ óc người có khả năng phản ánh thếgiới bằng tư duy trừu tượng

Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình phảnánh năng động, sáng tạo: Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới khách

Trang 11

quan, thông qua hoạt động của các giác quan, thế giới khách quan tác động đến bộ

cụ thể của vật chất, còn cái phản ánh chỉ là đặc điểm chứa đựng thông tin của dạngvật chất đó ở một dạng vật chất khác

Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất và được thể hiện dưới nhiềuhình thức, những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hóa của vật chất.Phản ánh vật lý, hóa học là hình thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng cho vậtchất vô sinh được thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa khi có sự tác độngqua lại với nhau giữa các dạng vật chất vô sinh Hình thức phản ánh này mang tínhthụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động

Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiênhữu sinh được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ Tính kích thích

là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinhtrưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, cấu trúc…khi nhận sự tác động trong môitrường sống Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra nănglực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơchế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơthể sống

Trang 12

Phản ánh tâm lý là phản ứng của động vật có hệ thần kinh trung ương đượcthực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ có điều kiện.Phản ánh năng động, sáng tạo: là hình thức phản ánh cao nhất trong các hìnhthức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất, có tổchức cao nhất là bộ óc người Là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin,

xử lý thông tin để tạo ra các thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin Sựphản ánh này được gọi là ý thức Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất trong cáchình thức phản ánh của vật chất

Nguồn gốc xã hội của ý thức: Ý thức không thể tồn tại ngoài não người; tuynhiên, ý thức không phải do não sinh ra Não chỉ là cơ quan thực hiện chức năngphản ánh Để có ý thức phải có não người và thế giới khách quan Ngoài ra cònphải có những điều kiện xã hội nữa đó là: lao động, ngôn ngữ

Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiênnhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu con người; là quá trình trong

đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữamình với giới tự nhiên

Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, làm chothế giới khách quan bộc lộ ra những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vậnđộng của nó biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quansát được Những hiện tượng ấy thông qua hoạt động của các giác quan, tác độngvào bộ óc con người, tạo ra khả năng hình thành những tri thức nói riêng và ý thứcnói chung

Lao động còn là quá trình phát triển bản thân con người, biến vượn thànhngười Trong lao động con người phải suy nghĩ, tính toán đề ra mục đích, tìm kiếm

Ngày đăng: 03/04/2014, 18:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w