MỞ ĐẦUVấn đề dân tộc luôn có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của mỗiquốc gia có một hay nhiều tộc người cả trong lịch sử và trong thế giới hiện đại.Độc lập dân tộc gắ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TPHCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
🙧🙧
TIỂU LUẬN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: Vấn đề dân tộc trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam hiện nay Trách nhiệm của sinh viên trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên:
Lớp học phần:
MSSV:
TP.Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 2
I - DÂN TỘC TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 2
1 Chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc 2
II - DÂN TỘC VÀ QUAN HỆ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM 4
1 Đặc điểm dân tộc ở Việt Nam 4
2 Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc 5
III – THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 7
1 Việt Nam thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc 7
2 Việt Nam chống nạn phân biệt chủng tộc 10
3 Việt Nam chống chủ nghĩa bá quyền 12
4 Việt Nam xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc 12
IV – TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM 13
C KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3A MỞ ĐẦU
Vấn đề dân tộc luôn có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của mỗiquốc gia có một hay nhiều tộc người cả trong lịch sử và trong thế giới hiện đại.Độc lập dân tộc gắn với chủ quyền quốc gia đang là một xu thế của thế giới Mỗiquốc gia dân tộc, dù lớn hay nhỏ, đều cố gắng khẳng định giá trị dân tộc, nhưquyền tự quyết định chế độ xã hội, kinh tế, đường lối phát triển đất nước, khẳngđịnh sự bình đẳng giữa các quốc gia trong sinh hoạt quốc tế Ở nhiều nước trên thếgiới, vấn đề dân tộc đang nổi cộm, có nhiều cuộc xung đột tộc người, ly khai dântộc và chia cắt quốc thổ đều bắt đầu từ vấn đề dân tộc Sự phát triển của các dântộc ở Việt Nam được thể hiện trên nhiều phương diện: kinh tế - văn hóa - xã hội -chính trị, một mắt xích bị bất ổn sẽ kéo theo chuỗi bất ổn của quốc gia, dân tộc Ởnước ta, việc giải quyết vấn đề dân tộc đã có quá trình lịch sử, gắn liền với côngcuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa nửa phong kiến từ thế kỷXIX đến nay Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay dướitác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học - kỹ thuật, trước yêu cầu của côngcuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước và hội nhập quốc tế với những thời cơ vàthách thức đan xen, vấn đề dân tộc có ý nghĩa cốt lõi quan trọng trong xây dựng,phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu xây dựngđất nước giàu mạnh định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm độc lập tự chủ, bảođảm các vấn đề về quyền con người và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Đây là lý
do em chọn đề tài :Vấn đề dân tộc trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam hiện nay và trách nhiệm của sinh viên trong việc giữ gìn, phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc
B NỘI DUNG
I - DÂN TỘC TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1 Chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc
1.1 Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dàicủa xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồmthị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính lànguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc
Khái niệm dân tộc có thể được hiểu theo hai khuynh hướng như sau Khuynhhướng đầu tiên cho rằng dân tộc gắn liền với khái niệm quốc gia dân tộc (nation-state) Khuynh hướng này cho rằng dân tộc gắn liền với một quốc gia, tức một
Trang 4cộng đồng người sống chung một vùng lãnh thổ, có nền kinh tế thống nhất, cóchung ngôn ngữ giao tiếp, nền văn hóa chung và một nhà nước đại diện quản lý thìđược tính là một dân tộc Khuynh hướng thứ hai thì mang nghĩa hẹp hơn, cho rằngdân tộc (ethnie) chỉ một cộng đồng người trong xã hội, một bộ phận hoặc mộtthành phần của một quốc gia và dân tộc này có văn hóa riêng, ngôn ngữ riêng và ýthức tự giác tộc người Ở Việt Nam, khái niệm dân tộc thường được hiểu theokhuynh hướng thứ hai.
1.2 Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin
Một là, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng.
Bình đẳng dân tộc là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong một quốc gia không
bị phân biệt theo trình độ phát triển, màu da, đa số, thiểu số … đều có quyền lợi vànghĩa vụ ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong quan hệ xãhội cũng như quan hệ quốc tế, không một dân tộc nào có quyền đi áp bức, bóc lộtdân tộc khác Đây là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mốiquan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc Để thực hiện được điều này, trước hếtphải thủ tiêu tình trạng áp bức giai cấp để xóa bỏ áp bức dân tộc, đấu tranh chốngchủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan
Hai là, các dân tộc được quyền tự quyết.
Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc Mỗi dân tộc được quyền
tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự lựa chọn chế độ chính trị
và con đường phát triển của dân tộc mình Quyền tự quyết dân tộc bao gồm quyềntách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập và quyền tự nguyện liên hiệp vớidân tộc khác trên cơ sở bình đẳng Việc thực hiện phải xuất phát từ thực tiễn vàphải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhấtgiữa lợi ích dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân
Tự quyết dân tộc không có nghĩa là các tộc người thiểu số trong một quốc gia đượcphép phân lập thành quốc gia độc lập Bởi vì nó có thể tạo điều kiện thuận lợi chocác âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động lợi dụng chiêu bài “dân tộc tựquyết” để can thiệp vào nội bộ các nước hoặc kích động đòi ly khai dân tộc
Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc.
Liên hiệp công nhân các dân tộc phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc vàgiải phóng giai cấp; phản ánh sự gắn bó chặt chẽ giữa tinh thần của chủ nghĩa yêunước và chủ nghĩa quốc tế chân chính
Trang 5Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầnglớp nhân dân lao động thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đếquốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Vì vậy, nội dung này vừa là nội dung chủyếu, vừa là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung của Cương lĩnh dân tộcthành một chỉnh thể.
II - DÂN TỘC VÀ QUAN HỆ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM
Quan hệ dân tộc là quan hệ giữa các dân tộc - tộc người (hay giữa các thành phầndân tộc) trong một quốc gia đa dân tộc, cũng như quan hệ giữa các thành viêntrong nội bộ một dân tộc, cũng như quan hệ giữa các thành viên trong nội bộ mộtdân tộc- tộc người Quan hệ dân tộc bao hàm cả sự giao lưu, giao tiếp và tác độngảnh hưởng lẫn nhau giữa các dân tộc - tộc người Các mối quan hệ liên quan đếnvấn đề dân tộc tộc người vốn đã rất đa dạng và phức tạp trong lịch sử nhân loại vàngày nay càng bộc lộ tính nhạy cảm chính trị - xã hội mang tính đặc thù của nó
1 Đặc điểm dân tộc ở Việt Nam
Thứ nhất, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc.
Hiện nay, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc sinh sống trên lãnh
thổ Trong đó có 53 dân tộc thiểu số (DTTS), chiếm khoảng 14,3% trên tổng sốdân cả nước, và còn lại là dân tộc Kinh chiếm 85,7% Một quốc gia được xem làđồng nhất là một quốc gia có một dân tộc chiếm áp đảo các dân tộc còn lại (Nhật
Bản, Hàn Quốc, hay Triều Tiên) Vì thế, xét theo lý thuyết này, Việt Nam vẫn được tính là một quốc gia đa dân tộc Bên cạnh đó, tại Chương I, Điều 5, Khoản 1 của Hiến Pháp 2013 cho nói rõ: “Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam”, chứng tỏ nước
ta là một quốc gia đa dân tộc Ngoài ra, trong lịch sử đấu tranh, trong kháng chiến
chống Pháp và Mỹ của Đảng ta đã ghi nhận rất nhiều công lao to lớn của cácDTTS, góp phần xây dựng tinh thần quân - dân và khối đại đoàn kết dân tộc Các
dân tộc anh em phân bố trên khắp mọi miền Tổ quốc với những văn hóa, bản sắc riêng của mình đã tạo nên những màu sắc phong phú, đa dạng hơn cho nước Việt Nam Qua đó, các yếu tố trên đã chứng minh được tính đa dân tộc của Việt Nam.
Thứ hai, các dân tộc cư trú xen kẽ nhau.
Việt Nam là nơi chuyển cư của nhiều dân tộc ở Đông Nam Á nên bản đồ cư trú củacác dân tộc ở Việt Nam khá phân tán, xen kẽ, làm cho các dân tộc này không cólãnh thổ tộc người riêng Vì vậy, ở Việt Nam không có một dân tộc nào sống tậptrung trên một địa bàn duy nhất Về mặt thuận lợi, các dân tộc có cơ hội hiểu biếtlẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng phát triển và tạo nên một nền văn hóa thống nhất
Trang 6trong đa dạng Mặt khác, việc sống phân tán, xen kẽ sẽ dễ nảy sinh mâu thuẫn,xung đột, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc phá hoại anninh chính trị và sự thống nhất của đất nước.
Thứ ba, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bổ chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng
Mặc dù chỉ chiếm 14.3% dân số, nhưng 53 dân tộc thiểu số Việt Nam lại cư trútrên 3/4 diện tích lãnh thổ và ở những vị trí trọng yếu về kinh tế, chính trị, an ninhquốc phòng như vùng biên giới, hải đảo, các vùng sâu vùng xa
Thứ tư, các dân tộc ở VN có trình độ phát triển không đều
Các dân tộc ở nước ta còn có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển kinh tế,văn hóa, xã hội Muốn thực hiện bình đẳng dân tộc, cần phải từng bước giảm dần
và tiến tới xoá bỏ khoảng cách phát triển giữa các dân tộc về kinh tế, văn hóa, xãhội để các dân tộc thiểu số phát triển nhanh và bền vững
Thứ năm, các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc - quốc gia thống nhất
Ðoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của các dân tộc ở Việt Nam, là một trongnhững nguyên nhân và động lực quyết định mọi thắng lợi của dân tộc trong cácgiai đoạn lịch sử Ngày nay, để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam,các dân tộc phải ra sức phát huy nội lực, giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kếtdân tộc, nâng cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ,phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc
Thứ sáu, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Trong văn hóa của mỗi dân tộc đều
có những sắc thái độc đáo riêng góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thốngnhất trong đa dạng Sự thống nhất đó là do các dân tộc đều có chung một lịch sửdựng nước và giữ nước, đều sớm hình thành ý thức về một quốc gia độc lập, thốngnhất
Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của dân tộc Việt Nam, Ðảng và Nhà nước ta luônluôn quan tâm đến chính sách dân tộc, xem đó là vấn đề chính trị - xã hội rộng lớn
và toàn diện gắn liền với các mục tiêu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta
Trang 72 Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc
2.1 Quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc
Ngay từ khi ra đời, Ðảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện nhất quán nhữngnguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân tộc Ðảng và Nhà nước taluôn luôn coi vấn đề dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc có tầmquan trọng đặc biệt Đại hội XII đã khẳng định: “Đoàn kết các dân tộc có vị tríchiến lược trong sự nghiệp các mạng của nước ta”, đồng thời đưa ra quan điểm vềvấn đề dân tộc, những gì nên làm, những gì cần hoàn thiện và những gì nên tránh.Quan điểm cơ bản của Ðảng ta về vấn đề dân tộc thể hiện ở các nội dung sau:
Dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cũng là vấn
đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam
Các dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam bình đẳng, đoàn kết,cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Kiên quyết đấu tranh chống lạimọi âm mưu chia rẽ dân tộc
Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốcphòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; phát triển kinh tế đi đôi vớigiải quyết các vấn đề xã hội; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhânlực; giữ gìn và phát huy giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các dântộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc ViệtNam thống nhất
Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi;khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng đi đôi với bảo vệbền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cườngcủa đồng bào các dân tộc; tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương
và địa phương trên cả nước
Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Ðảng,toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành và toàn bộ hệ thống chính trị
2.2 Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước hiện nay
Đường lối, chính sách về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc là một bộ phận hữu cơcủa đường lối, chính sách chung của Đảng, Nhà nước ta, được thể hiện rõ trong
“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổsung, phát triển năm 2011)
Trang 8Về kinh tế - xã hội: Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sâu,
vùng xa; phát triển kinh tế hàng hóa, phát huy tiềm năng kinh tế của miền núi theohướng chuyên canh, thâm canh để tạo nên các vùng nguyên liệu chất lượng cao và
đa dạng; đổi mới cơ cấu kinh tế, mở rộng thị trường tiêu thụ Xây dựng kết cấu hạtầng, mạng lưới đường giao thông, các công trình kinh tế quan trọng; thực hiệnhiệu quả các dự án xóa đói, giảm nghèo và chính sách định canh, định cư, ổn địnhđời sống và đất sản xuất cho đồng bào các dân tộc thiểu số
Về chính trị - xã hội: Phát huy quyền làm chủ của đồng bào các dân tộc thiểu số và
tạo điều kiện để đồng bào tham gia công việc quản lý nhà nước, xây dựng Đảng,chính quyền; phát huy quyền bình đẳng dân tộc các quyền dân chủ và tính năngđộng, sáng tạo của đồng bào Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bàocác dân tộc thiểu số trong sạch, vững mạnh; tuyên truyền, vận động đồng bào thựchiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; giáo dục đồng bào ý thứccảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch phá hoại khối đạiđoàn kết dân tộc Giữ vững an ninh biên giới và an ninh chính trị, trật tự, an toàn
xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi
Về văn hóa, xã hội: Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc
thiểu số, tập trung xóa đói, giảm nghèo; nâng cao dân trí, an sinh xã hội Giữ gìn,phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và phát triển ngôn ngữ của các dân tộcthiểu số; xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Vận động đấu tranh chống mê tín dịđoan, tập tục lạc hậu; ngăn chặn các hiện tượng phổ biến, truyền bá văn hóa xấuđộc, truyền đạo trái phép
Về quốc phòng, an ninh: Bảo đảm ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ
an ninh biên giới, ngăn chặn mọi hành động thâm nhập, móc nối, nhen nhóm củacác phần tử xấu, phản động, âm mưu gây phỉ, xưng vua, kích động chia rẽ, ởvùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế
- xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh; kết hợp quốc phòng - an ninh với đốingoại ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi; Xây dựng các khu kinh tế
- quốc phòng, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vàcác khu vực phòng thủ mạnh ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi.III – THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Trong công tác dân tộc ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn khẳngđịnh chủ trương, chính sách nhất quán là thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
Trang 9và cùng giúp đỡ nhau phát triển giữa các dân tộc trong cộng đồng người Việt Namlẫn trên trường quốc tế.
1 Việt Nam thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc
Ở nước ta, phần lớn các DTTS đều phân bố ở các vùng nông thôn, miền núi, cáckhu vực xa xôi, khó di chuyển Vì thế, họ gặp rất nhiều khó khăn về mặt kinh tế,văn hóa, chính trị, và đặc biệt là giáo dục hay y tế Điều này đã tạo ra một hiệntrạng bất bình đẳng giữa các dân tộc với nhau trong xã hội Việt Nam Vì thế, Đảng
và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm, nỗ lực xây dựng, bổ sung, hoàn thiện vàthực hiện nhiều chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các DTTSphát huy nội lực, vươn lên phát triển về mọi mặt, đóng góp vào sự nghiệp chungcủa đất nước Những thành tựu sau đây là minh chứng cụ thể trong việc bảo đảm
và thúc đẩy quyền của DTTS nói riêng và quyền của con người nói chung tại ViệtNam
Về kinh tế, đã có 118 chính sách đã được Chính phủ triển khai thực hiện nhằm hỗ
trợ về kinh tế cho các đồng bào DTTS tại các vùng sâu, xa tính đến thời điểmtháng 10 năm Có thể kể đến Chương trình 135 (được triển khai từ năm 1998)nhằm phát triển kinh tế - xã hội cho các xã DTTS tại các vùng miền núi và nôngthôn đã đầu tư cho 9.106 công trình bảo dưỡng và hỗ trợ trực tiếp cho 1.521 triệu
hộ nghèo Trải qua hơn 20 năm thực hiện, chương trình đã giúp nâng cao cơ sở hạtầng cho các xã DTTS với 100% xã DTTS nay đã có đường ô tô đến trung tâm;99% trung tâm xã và 80% thôn đã có điện; 65% xã có hệ thống thủy lợi; 42% thôn
đã có đường giao thông đạt chuẩn quốc gia Tỷ lệ hộ nghèo của các DTTS giảm từ4,5% (1999), xuống còn 3,5% vào năm 2006 Nhà nước đã tập trung bố trí đầu tư,
hỗ trợ kinh phí nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số vàmiền núi, với tổng kinh phí giai đoạn 2016 - 2020 là 998.000 tỷ đồng Ngày14/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 1719/QĐ-TTg tronggiai đoạn 2021-2025, và hướng đến 2030 với mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bềnvững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo, hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lênmức sống tối thiểu
Về chính trị, Đảng và Nhà nước liên tục đề ra các chính sách nhằm gia tăng tính
bình đẳng trong chính trị giữa các dân tộc, đặc biệt là với Nghị quyết số UBTVQH13/2016 khi lập danh sách ứng cử viên làm Đại biểu Quốc hội, phải có ítnhất 165 người trong danh sách là DTTS, bằng với 18% trong tổng số các ứng cửviên của Đại biểu Quốc hội Trong 4 nhiệm kỳ Quốc hội liên tiếp, tỷ lệ đại biểuQuốc hội là người DTTS đã tăng qua các khóa: khóa XIII chiếm 15,6%, cao hơn tỷ
1135/NQ-lệ dân số dân tộc thiểu số trên tổng số dân là 14,35%, khóa XII đạt cao nhất là
Trang 1017,7%, khóa XIV có 86 đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số thuộc 32 dântộc khác nhau (chiếm tỷ lệ 17,3%) Ngoài ra, trong những năm gần đây còn cóchính sách “Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức dân tộc thiểu sốtrong thời kỳ mới” do Bộ Nội vụ chủ trì nhằm nghiên cứu xây dựng, bổ sung chínhsách có tính đặc thù trong tuyển dụng, thăng hạng, và tạo chế độ đối với các viênchức DTTS Thông qua những chính sách trên, các DTTS tại Việt Nam sẽ dầnngày càng có tiếng nói, sự bình đẳng của dân tộc mình trong lĩnh vực chính trị.
Về văn hóa, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: Văn hóa các DTTS là một bộ
phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất và đa dạng Vào ngày
27-7-2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1270/QĐ-TTg phê duyệt Đề án
“Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020” nhằm hỗ trợđúng mục đích bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa của các DTTS, xây dựngcác làng văn hóa – du lịch, góp phần vào việc giữ gìn văn hóa cho các DTTS cũngnhư thúc đẩy kinh tế, tạo việc làm cho họ Ngoài ra, gần đây nhất, Chính phủ đãphát động Dự án “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cácdân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch" gai đoạn 2021-2030 nhằm tăng cường
cơ sở vật chất, trang thiết bị, để tăng cường phát triển du lịch cộng đồng, cũng nhưquảng bá văn hóa của các DTTS Hơn thế nữa, Nhà nước cũng đã đề ra ngày lễ
“Văn hóa các dân tộc Việt Nam” phối hợp với Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch tổchức các hoạt động chào mừng ngày Dân tộc Việt Nam (19/04) mỗi năm và đãđược thành công lớn trong việc truyền bá văn hóa truyền thống của các đồng bàoDTTS Bên cạnh đó, các dân tộc vùng Tây Bắc, Đông Bắc, miền Trung cùngthực hiện giao lưu văn hoá như: ngày Ngày hội Văn hoá dân tộc Hoa, Thái, Chăm,Khmer ; Giao lưu Liên hoan nghệ thuật Hát then - Đàn tính của các dân tộc Tày,Nùng, Thái và nhiều ngày lễ hội khác nhằm củng cố sự đoàn kết giữa các dân tộc,vận động đồng bào các dân tộc giữ gìn và phát huy giá trị di sản và truyền thốngvăn hoá tốt đẹp của các dân tộc; mở các lớp truyền dạy văn hoá truyền thống phivật thể, các nghề thủ công truyền thống của các dân tộc ít người như Bố Y, Ơ Đu,Brâu, Rơ Măm, Chứt, Si La do chính các nghệ nhân truyền dạy lại cho thế hệ trẻsau này Từ đó, giáo dục truyền thống yêu nước, sự tôn vinh bản sắc văn hoá dântộc góp phần củng cố, tăng cường sức mạnh khối Đại đoàn kết các dân tộc
Về giáo dục, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều khuyến khích, ưu tiên cho các
DTTS thiểu số trong thi cử, đặc biệt là tại Khoản 1 và Khoản 7 Điều Thông tư09/2020/TT-BGDĐT Các điều lệ này quy định công dân Việt Nam là DTTS tạikhu vực 1 sẽ được cộng 2 điểm trong bài thi THPT Quốc gia, và các khu vực cònlại sẽ được cộng 1 điểm Bên cạnh đó, Đảng cũng đề ra chính sách miễn, giảm học
Trang 11phí đối với sinh viên, học sinh DTTS Đối với sinh viên DTTS, theo Quyết định số66/2013/QĐ-TTg, các sinh viên này được hỗ trợ bằng 60% mức lương tối thiểuchung và hưởng không quá 10 tháng/năm học/sinh viên Còn đối với học sinh, theoNghị định số 81/2021/NĐ-CP, các trẻ em, học sinh, thuộc đồng bào DTTS sẽ giảm
từ 70% đến 100% tiền học phí tại các trường học công lập trên toàn quốc Phápluật Việt Nam quy định rằng: Nhà nước phải ưu tiên phát triển giáo dục ở miềnnúi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế khó khăn Trongnhững năm qua, Chính phủ đã thực hiện nhiều chương trình, dự án đầu tư pháttriển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở vùng đồng bào DTTS và miền núi như: Chươngtrình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020, Chương trìnhmục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Theo kết quả điều tra của Tổng cụcThống kê và Uỷ ban Dân tộc công bố về tình hình kinh tế - xã hội của 53 dân tộcthiểu số, tính đến ngày 01/08/2015, số lượng người DTTS biết đọc, biết viết đạt79,8%; tỷ lệ người có việc làm đã qua đào tạo từ 15 tuổi trở lên đạt 6,2%; tỷ lệ họcsinh trong độ tuổi đi học, đi học đúng cấp đạt 70,2% Ngoài ra, với các chính sách
cử tuyển nhiều dân tộc thiểu số như các dân tộc Hà Nhì, Cơ Lao, Pà Thẻn, lầnđầu tiên có học sinh được cử tuyển đi học các trường trung cấp, cao đẳng, đại học.Những ưu tiên trên cũng đã thể hiện được phần nào tính bình đẳng về giáo dụcgiữa các dân tộc và phát triển giáo dục ở vùng đồng bào DTTS mà Đảng và Nhànước Việt Nam đang hướng đến
Về y tế, mạng lưới y tế ở vùng DTTS và miền núi tiếp tục phát triển, hệ thống bệnh
viện tỉnh- huyện và trạm y tế xã đã được quan tâm đầu tư Vào năm 2003, Banchấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày12/3/2003 về Công tác dân tộc, trong đó sự nghiệp y tế và chăm sóc sức khoẻ vùngđồng bào DTTS và miền núi được đặc biệt quan tâm Nghị quyết đã đạt được kếtquả tích cực, tính đến năm 2018, cả nước đã có 98,4% số xã của các DTTS có đầy
đủ trạm y tế, cơ sở y tế; 96% số thôn bản có nhân viên y tế, và 76% số xã đạt tiêuchí quốc gia về ý tế xã trong giai đoạn 2011-2020 Ngoài ra, Nhà nước đã hỗ trợmua Bảo hiểm y tế cho đồng bào DTTS ở vùng khó khăn, tỷ lệ bảo hiểm y tế đốivới các đồng bào DTTS ngày càng được cải thiện, tăng từ 8% vào năm 1998 lênđến 80% vào năm 2013 và đặc biệt tại các xã khó khăn đã lên đến 84% Theo quyđịnh, đồng bào DTTS sinh sống ở vùng kinh tế khó khăn, đặc biệt khó khăn đượcnhà nước đóng 100% kinh phí bảo hiểm y tế và không phải cùng chi trả chi phíkhám chữa bệnh bảo hiểm y tế Qua đó, người nghèo, các đồng bào DTTS, trẻ emhay các đối tượng ở khu vực khó khăn ngày càng có thêm cơ hội tiếp cận với cácdịch vụ y tế cơ bản, các dịch vụ chữa bệnh miễn phí Những chính sách này gópphần giảm bớt gánh nặng chi phí khám chữa bệnh cho người DTTS, tạo điều kiện