1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam

86 1,9K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguồn Vốn ODA Với Công Tác Xoá Đói Giảm Nghèo Ở Việt Nam
Người hướng dẫn Cô Giáo Nguyễn Thị Ái Liên - Giảng Viên Bộ Môn Kinh Tế Đầu Tư
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Bước sang thế kỷ 21, thế giới đang có những bước phát triển vượt bậctrong các lĩnh vực khoa học – công nghệ, kinh tế và nhiều lĩnh vực khác Ngàycàng có nhiều phát minh mới, sản phẩm mới xuất hiện phục vụ đời sống conngười, con người vừa là trung tâm vừa là mục tiêu của phát triển và trên thực tếnhững nhu cầu của con người đang được đáp ứng ở mức độ ngày càng cao.Song, trên thế giới hiện nay vẫn còn hàng triệu triệu người đang phải sốngtrong cảnh nghèo đói và không được đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất như:lương thực, thực phẩm, nước sạch, vệ sinh…

Bên cạnh đó, ngày nay loài người cũng đang phải đối mặt với những vấn đềnhức nhối mang tính toàn cầu như dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, chiến tranh,khủng bố v.v mà những vấn đề này không phải riêng của một quốc gia nào vàmột quốc gia riêng biệt cũng không thể giải quyết được Vì vậy, các nước ngàycàng xích lại gần nhau hơn để cùng hợp tác giải quyết vấn đề chung Trong nỗlực chung để xây dựng một thế giới hoà bình, phồn thịnh các nước có nền kinh

tế phát triển đã cam kết hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các nước đang và chậmphát triển nhằm giúp các nước này thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và hội nhậpvới thế giới

Việt Nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, đờisống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn Do đó, để đưa đất nước phát triển đilên và phù hợp với xu thế phát triển của thế giới Đảng, Nhà nước và Chínhphủ Việt Nam đã quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới nhằm phát huy nguồnnội lực và tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của cộng đồng quốc tế

Sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo Nhữngthành tựu đó thể hiện kết quả của sự đổi mới, phát huy cao nguồn nội lực và sự

hỗ trợ tích cực, có hiệu quả của cộng đồng quốc tế Tuy nhiên, Việt Nam vẫnđang là một nước nghèo, thu nhập bình quân đầu người vào loại thấp và vẫncòn hàng triệu người dân hiện đang sống trong cảnh nghèo đói và dễ bị tổn

Trang 2

thương Chính phủ Việt Nam đã từ lâu nhận thức được điều này và coi vấn đềxoá đói giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong qúa trình phát triển kinh tế –

xã hội của đất nước

Để tiếp tục thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững, thực hiện có hiệuquả chính sách xoá đói giảm nghèo Chính phủ Việt Nam đã xây dựng cácchiến lược phát triển, chiến lược huy động các nguồn lực phục vụ cho tăngtrưởng và xoá đói giảm nghèo Trong các nguồn lực có thể huy động cho côngcuộc xoá đói giảm nghèo thì các nguồn lực trong nước giữ vai trò quyết định.Bên cạnh đó, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có vai trò quantrọng là chất xúc tác thúc đẩy công tác xoá đói giảm nghèo

Chính phủ và người dân đã nhận thức được thực trạng nghèo đói và những tácđộng của nó đến quá trình phát triển Chúng ta đã hành động bằng việc xácđịnh các mục tiêu, xây dựng các chiến lược và đã triển khai thực hiện công tácxoá đói giảm nghèo, nhưng tại sao vẫn còn nhiều người dân đang sống trongcảnh nghèo khổ? Những khó khăn, thách thức nào đang đặt ra cho công tác xoáđói giảm nghèo ở Việt Nam? Nguồn lực nào được huy động cho công cuộc xoáđói giảm nghèo? Câu trả lời cho những vấn đề nêu trên là gì?

Với mục đích củng cố, trau dồi kiến thức đã học trong nhà trường vàmong muốn tìm được phần nào lời giải cho những câu hỏi trên Tác giả quyết

định chọn đề tài: “Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam” để thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp của mình Đề tài gồm 3 nội dung

chính sau:

Chương I: Những vấn đề lý luận về đói nghèo và nguồn vốn ODA Chương II: Tình hình thu hút và sử dụng ODA cho xoá đói giảm nghèo

Chương III: Một số giải pháp thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA cho xoá đói giảm nghèo

Xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị ái Liên – giảng viên bộ môn Kinh

tế đầu tư, cùng các thầy cô trong bộ môn đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá

Trang 3

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ NGUỒN VỐN ODA

I NGUỒN VỐN VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA )

1 Khái niệm và nguồn gốc ODA

1.1 Nguồn gốc ra đời của ODA

Quá trình lịch sử của ODA có thể được tóm lược như sau:

Sau đại chiến thế giới lần thứ II các nước công nghiệp phát triển đã thoả thuận

về sự trợ giúp dươí dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưuđãi cho các nước đang phát triển Tổ chức tài chính quốc tế Ngân hàng thế giới(WB) đã được thành lập tại hội nghị về tài chính – tiền tệ tổ chức tháng 7 năm

1944 tại Bretton Woods (Hoa Kỳ) với mục tiêu là thúc đẩy phát kinh tế và tăngtrưởng phúc lợi của các nước với tư cách như là một tổ chức trung gian về tàichính, một ngân hàng thực sự với hoạt động chủ yếu là đi vay theo các điềukiện thương mại bằng cách phát hành trái phiếu để rồi cho vay tài trợ đầu tư tạicác nước

Tiếp đó, tháng 12 năm 1960 tại Pari các nước đã ký thoả thuận thành lập tổchức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) Tổ chức này bao gồm 20 thành viênban đầu đã đóng góp phần quan trọng nhất trong việc cung cấp ODA songphương cũng như đa phương Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nướcOECD đã lập ra các Uỷ ban chuyên môn trong đó có Uỷ ban Hỗ trợ phát triển(DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệuquả đầu tư

Kể từ khi ra đời ODA đã trải qua các giai đoạn phát triển sau:

Trong những năm 1960 tổng khối lượng ODA tăng chậm đến những năm 1970

và 1980 viện trợ từ các nước OECD vẫn tăng liên tục Đến giữa những năm 80khối lượng viện trợ đạt mức gấp đôi đầu thập niên 70 Cuối những năm 1980đến những năm 1990 vẫn tăng nhưng với tỷ lệ thấp Năm 1991 viện trợ phát

Trang 4

triển chính thức đã đạt đến con số đỉnh điểm là 69 tỷ USD theo giá năm 1995.Năm 1996 các nhà tài trợ OECD đã giành 55,114 tỷ USD cho viện trợ bằng0,25% tổng GDP của các nước này, cũng trong năm này tỷ lệ ODA/GDP củacác nước DAC là 0,25% giảm 3,768 tỷ USD so với năm 1995.

Trong những năm cuối của thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21 ODA có xuhướng giảm nhẹ, riêng với Việt Nam kể từ khi nối lại quan hệ với các nước và

tổ chức viện trợ (1993) thì các nước viện trợ vẫn ưu tiên cho Việt Nam ngay cảkhi khối lượng viện trợ trên thế giới giảm xuống

1.2 Khái niệm

Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) bao gồm các khoản viện trợkhông hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ,các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệthống Liên Hợp Quốc và các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang

và chậm phát triển

Các đồng vốn bên ngoài chủ yếu chảy vào các nước đang phát triển và chậmphát triển gồm có: ODA, tín dụng thương mại từ các ngân hàng, đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI), viện trợ cho không của các tổ chức phi Chính phủ(NGO) và tín dụng tư nhân Các dòng vốn quốc tế này có mối quan hệ rất chặtchẽ với nhau Nếu một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủmức cần thiết để cải thiện các cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội thì cũng khó có thểthu hút được các nguồn vốn FDI cũng như vay vốn tín dụng để mở rộng kinhdoanh nhưng nếu chỉ chú ý tìm kiếm nguồn vốn ODA mà không tìm cách thuhút vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác thì không có điều kiện tăngtrưởng nhanh sản xuất, dịch vụ và sẽ không có đủ thu nhập để trả nợ vốn vayODA

2 Đặc điểm của nguồn vốn ODA

2.1 Vốn ODA mang tính ưu đãi

Trang 5

Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài.Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40 năm vàthời gian ân hạn là 10 năm.

Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại (cho không) vàđây cũng là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại Thành tố chokhông được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãisuất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại Sự ưu đãi ở đây là so sánhvới tập quán thương mại quốc tế

Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước đang vàchậm phát triển, vì mục tiêu phát triển Có hai điều kiện cơ bản nhất để cácnước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:

Thứ nhất, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người thấp, nước có

GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệ viện trợ không hoànlại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưu đãi cànglớn

Thứ hai, Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp với chính

sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bênnhận ODA Thông thường các nước cung cấp ODA đều có những chính sách

và ưu tiên riêng của mình tập trung vào những lĩnh vực mà họ quan tâm hay cókhả năng kỹ thuật và tư vấn Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cungcấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể Vì vậy, nắm bắtđược xu hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA

là rất cần thiết

Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trongnhững điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các nước pháttriển sang các nước đang phát triển Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội

và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từphía nước tiếp nhận ODA

2.2 Vốn ODA mang tính ràng buộc

Trang 6

ODA có thể ràng buộc (hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nướcnhận về địa điểm chi tiêu Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều cónhững ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nướcnhận Ví dụ, Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật đều được thực hiện bằngYên Nhật.

Vốn ODA mang yếu tố chính trị: các nước viện trợ nhìn chung đều không quêndành được lợi ích cho mình vừa gây ảnh hưởng chính trị vừa thực hiện xuấtkhẩu hàng hoá và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ Chẳng hạn, Bỉ,Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hoá dịch vụcủa nước mình Canada yêu cầu tới 65% và nhìn chung khoảng 22% viện trợcủa DAC phải được sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ của các quốc gia việntrợ

Kể từ khi ra đời cho đến nay, viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn tạisong song:

Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở các nướcđang phát triển Động cơ nào đã thúc đẩy các nhà tài trợ đề ra mục tiêu này,bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ, giúp

đỡ các nước đang phát triển để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thịtrường đầu tư Viện trợ thường gắn với các điều kiện kinh tế xét về lâu dài, cácnhà tài trợ sẽ có lợi về mặt an ninh, kinh tế, chính trị khi kinh tế các nướcnghèo tăng trưởng Mục tiêu mang tính cá nhân này được kết hợp với tinh thầnnhân đạo, tính cộng đồng Vì một số vấn đề mang tính toàn cầu như sự bùng nổdân số thế giới, bảo vệ môi trường sống, bình đẳng giới, phòng chống dịchbệnh, giả quyết các xung đột sắc tộc, tôn giáo, chống khủng bố v.v đòi hỏi phải

có sự hợp tác, nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế không phân biệt nước giàu,nước nghèo

Mục tiêu thứ hai là tăng cường vị thế chính trị của các nước tài trợ Các nướcphát triển sử dụng ODA như một công cụ chính trị nhằm xác định vị thế và ảnhhưởng của mình tại các nước tiếp nhận ODA Ví dụ, Nhật Bản hiện là nhà tài

Trang 7

trợ hàng đầu thế giới và cũng là nhà tài trợ đã sử dụng ODA như một công cụ

đa năng về chính trị và kinh tế ODA của Nhật không chỉ đưa lại lợi ích chonước nhận mà còn mang lại lợi ích cho chính họ Trong những năm cuối thập

kỷ 90 khi phải đối phó với những suy thoái nặng nề trong khu vực, Nhật Bản

đã quyết định trợ giúp tài chính rất lớn cho các nước Đông Nam á là nơi chiếm

tỷ trọng tương đối lớn về mậu dịch và đầu tư của Nhật Bản, Nhật đã dành 15 tỷUSD cho mậu dịch và đầu tư có nhân nhượng trong vòng 3 năm, các khoản chovay được tính bằng Yên và gắn với các dự án có sông ty của Nhật tham gia.Viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là việc trợ giúp hữu nghị

mà còn là một công cụ lợi hại để thiết lập và duy trì lợi ích kinh tế, chính trịcho các nước tài trợ Những nước cấp tài trợ đòi hỏi nước tiếp nhận phải thayđổi chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của bên tài trợ Khi nhận việntrợ nước nhận viện trợ cần cân nhắc kỹ lưỡng các điều kiện của các nhà tài trợ

vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài Quan hệ tài trợ phảiđẩm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việcnội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi

2.3 ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ

Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánhnặng nợ nần thường chưa xuất hiện Một số nước do không sử dụng hiệu quảODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâmvào tình trạng nợ nần do không có khả năng trả nợ Vấn đề là ở chỗ ODAkhông có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trongkhi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ Do đó, trong khi hoạch địnhchính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn khác để tăng cườngsức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu

3 Phân loại vốn ODA

Nguồn vốn ODA có thể được phân loại theo những tiêu chí sau:

3.1 Phân loại theo tính chất

Theo cách phân loại này, vốn ODA được chia thành:

Trang 8

Viện trợ không hoàn lại gồm các khoản cho không, không phải trả lại

Viện trợ có hoàn lại: Các khoản vay ưu đãi hay tín dụng với điều kiện “mềm”Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hìnhthức tín dụng (có thể ưu đãi hoặc thương mại)

3.2 Phân loại theo mục đích

3.3 Phân loại theo điều kiện

3.4 Phân loại theo đối tượng sử dụng

 Hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụthể Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho khônghoặc vay ưu đãi

Hỗ trợ phi dự án Bao gồm:

Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiềntệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá, hỗ trợ qua nhập khẩu Ngoại tệ hoặc hàng hoá đượcchuyển qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách

Trang 9

 Hỗ trợ trả nợ: Hỗ trợ tài chính trực tiếp nhằm giúp nước nhận tàitrợ thanh toán các khoản nợ hoặc giảm nợ cho nước nhận

Viện trợ chương trình: Là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát vớithời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sửdụng như thế nào

4 Vai trò của vốn ODA

Trong khi nghiên cứu các mô hình phát triển kinh tế, người ta thấy có bốn môhình chiến lược cơ bản Bốn mô hình này có thể khái quát thành 2 dạng: chiếnlược hướng nội (chiến lược thay thế nhập khẩu) và chiến lược hướng ngoại haycòn gọi là chiến lược kinh tế mở Tuỳ vào quan điểm và điều kiện cụ thể củamỗi nước mà có thể lựa chọn hình thức phù hợp Ta có thể nghiên cứu sự pháttriển của các nước dưới đây để có thể so sánh một cách tương đối giưã các hìnhthức khác nhau:

Từ sau năm 1960 Hàn Quốc đã áp dụng chiến lược hướng ngoại triệt để và kếtquả là Hàn Quốc đã nhanh chóng thoát khỏi nền kinh tế trì trệ, thu nhập ngoại

tệ từ xuất khẩu tăng lên nhanh chóng và sau 30 năm đã thoát khỏi cảnh nghèonàn, lạc hậu để trở thành quốc gia phát triển nhanh cả 3 tiêu thức tốc độ tăngtrưởng GDP, giải quyết việc làm và công nghiệp hoá

ấn Độ là nước áp dụng chiến lược hỗn hợp và cũng đạt được cả ba tiêu thứctrên nhưng chậm hơn Hàn Quốc

Myanma áp dụng chiến lược hướng nội nên trở thành một trong những quốcgia có nền ngoại thương kém phát triển, sự nghiệp công nghiệp hoá không có

gì đáng kể

WB tiến hành nghiên cứu 41 nước trên thế giới và chia làm 4 nhóm quốc gia:Hướng nội mạnh, hướng nội vừa phải, hướng ngoại vừa phải và hướng ngoạimạnh Trong 4 nhóm nước này, xét theo 3 tiêu thức tốc độ tăng trưởng GDP,giải quyết việc làm và công nghiệp hoá, WB kết luận rằng các nước hướngngoại mạnh là các nước thành công nhất Trong chiến lược này, các khâu chủ

Trang 10

yếu đối với bên ngoài gồm việc mở rộng ngoại thương, thu hút vốn FDI vàODA Như vậy, nhìn một cách tổng quát thì ODA có một vai trò quan trọngtrong tiến trình phát triển của các nước đang và chậm phát triển Cụ thể là:

4.1 ODA là một nguồn vốn có vai trò quan trọng đối với các nước đang và chậm phát triển

Vốn đầu tư cùng với tài nguyên thiên nhiên, lao động và kỹ thuật tạo thành 4yếu tố vật chất, xã hội Tất cả các nước khi tiến hành công nghiệp hoá đều cầnvốn đầu tư lớn Đó chính là trở ngại lớn để tiến hành công nghiệp hoá đối vớinước nghèo Trong điều kiện hiện nay với những thành tựu mới của khoa học

và công nghệ, các nước có thể tiến nhanh không chỉ bằng khả năng tích luỹtrong nước mà còn kết hợp với tận dụng khả năng của thời đại Bên cạnh nguồnvốn trong nước còn có thể huy động nguồn vốn nước ngoài, nhiều khi với mộtkhối lượng lớn Tuy nhiên vốn trong nước giữ vai trò quyết định, vốn nướcngoài có khả năng thúc đẩy sự phát triển song không phải là yếu tố thúc đẩy sựphát triển

Trong số các nguồn vốn có thể huy động từ bên ngoài ODA có một vai tròquan trọng:

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước ở Châu á thiếu vốn để khôi phục

và phát triển kinh tế Đầu tư vào cơ sở hạ tầng đòi hỏi một lượng vốn lớn, lãisuất thấp, thời gian thu hồi vốn lâu, nhiều rủi ro Vì vậy các nước gặp khó khăntrong việc thu hút vốn FDI vào lĩnh vực này Nhiều nước đã tranh thủ đượcnguồn vốn ODA từ các nước giàu Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, ĐàiLoan đã nhận được viện trợ từ Mỹ với số tiền lên đến 1,482 tỷ USD và số vốnnày đã góp phần rất đáng kể trong quá trình đi lên của Đài Loan Hiện nayNhật Bản là nước viện trợ hàng đầu thế giới, nhưng trước đây Nhật cũng lànước nhận viện trợ Năm 1945 sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Nhật

đã gặp rất nhiều khó khăn Khi đó, Nhật Bản đã được nhận viện trợ từ Hoa Kỳ,các tổ chức của Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế Trong nhữngnăm 50, Nhật Bản đã phục hồi với một tốc độ kinh ngạc, nhiều dự án lớn đã

Trang 11

được thực hiện như dự án đường cao tốc, các dự án xây dựng đập nước… Nềnkinh tế Nhật đã phát triển nhanh chóng với sự giúp đỡ của vốn ODA Đầunhững năm 60 Nhật Bản là nước nhận viện trợ từ WB nhiều thứ hai trên thếgiới Đến năm 1990 Nhật đã trả nợ xong Ngân hàng thế giới.

Do tính chất ưu đãi, vốn ODA thường dành cho đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh

tế xã hội như đường xá, cầu cảng, công trình điện và các lĩnh vực giáo dục, y

tế, phát triển nguồn nhân lực…

Vào đầu những năm 1970, cơ sở hạ tầng của các nước Đông Nam á sau khigiành được độc lập hết sức nghèo nàn, lạc hậu và các quốc gia trong khu vực

đã sớm nhận thấy vai trò quan trọng của việc phát triển các hoạt động giaothông vận tải, thông tin liên lạc… Theo báo cáo của WB, từ năm 1971 đến

1974 tại Philppines vốn chi phí cho phát triển giao thông vận tải chiếm tới 50%tổng số vốn dành cho xây dựng cơ bản và 60% tổng vốn vay ODA được chicho phát triển cơ sở hạ tầng

Nhiều công trình hạ tầng kinh tế xã hội như sân bay, bến cảng, đường cao tốc,trường học, bệnh viện, trung tâm nghiên cứu khoa học tầm cỡ quốc gia ở TháiLan, Singapo, Inđônêxia đã được xây dựng bằng nguồn vốn ODA của NhậtBản, Hoa Kỳ, WB, ADB…

4.2 ODA góp phần tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện mở rộng đầu tư phát triển trong nước

Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước, trướchết họ quan tâm đến khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại nước đó Họ cảnhgiác với những nguy cơ làm tăng phí tổn đầu tư

Một hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh,phương tiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp nănglượng không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư vì những phí tổn

mà họ phải trả cho việc sử dụng những tiện nghi hạ tầng sẽ lên cao, chưa kểđến thiệt hại như hoạt động của nhà máy phải dừng vì mất điện, công trình xâydựng bị bỏ dở vì không có nước

Trang 12

Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là lý do làm cho các nhà đầu tư e ngại, vìnhững chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sự thiếu thốn các dịch vụngân hàng hỗ trợ cho đầu tư sẽ làm cho phí tổn đầu tư gia tăng, dẫn tới hiệuquả đầu tư giảm sút.

Như vậy, đầu tư của Chính phủ vào nâng cấp, cải thiện và xây mới các cơ sở hạtầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần thiết, nhằm làm cho môitrường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn Nhưng vốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở

hạ tầng rất lớn, trong nhiều trường hợp các nước đang phát triển phải dựa vàonguồn vốn ODA để bổ sung cho vốn đầu tư hạn hẹp từ ngân sách nhà nước.Một khi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút dòng vốn FDI.Nguồn vốn ODA của Mỹ, Nhật và một số nước khác chủ yếu được đầu tư đểphát triển cơ sở hạ tầng của các nước Đông á Nhờ cơ sở hạ tầng phát triển màcác nước này có điều kiện thuận lợi trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nướcngoài

Mặt khác, việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điềukiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuấtkinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận

Rõ ràng là ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan trọngcho các nước đang và chậm phát triển, nó còn có tác dụng làm tăng khả năngthu hút vốn từ nguồn FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trongnước, góp phần thực hiện thành công chiến lược hướng ngoại

4.3 ODA giúp tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực

Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nước nhận tài trợ là côngnghệ, kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến Cácnhà tài trợ còn ưu tiên đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực vì họ tin tưởngrằng việc phát triển của một quốc gia quan hệ mật thiết với việc phát triểnnguồn nhân lực Đây mới là những lợi ích căn bản, lâu dài đối với nước nhậntài trợ Nhưng những lợi ích này khó có thể lượng hoá được Vì vậy, ở đây sẽ

Trang 13

lấy hình thức hợp tác kỹ thuật của Nhật Bản để minh hoạ cho vai trò trên củaODA.

Hợp tác kỹ thuật là một bộ phận trong ODA của Nhật Bản và được Chính phủNhật đặc biệt coi trọng Hợp tác kỹ thuật bao gồm hàng loạt các hoạt động rộngrãi từ việc xuất bản và cung cấp sách, tài liệu kỹ thuật bằng nhiều thứ tiếng.Các chương trình hợp tác kỹ thuật do Chính phủ Nhật Bản thực hiện được tiếnhành dưới các hình thức: nhận người sang học tập ở Nhật Bản, gửi các chuyêngia Nhật và cung cấp trang thiết bị, vật liệu, cử các nhân viên tình nguyện từ tổchức những người tình nguyện hợp tác hải ngoại Nhật Bản (JOCV) Cơ quanhợp tác quốc tế Nhật Bản (Japan International Cooperation Agency – JICA)được thành lập tháng 8 năm 1974, là tổ chức duy nhất thực hiện các chươngtrình hợp tác kỹ thuật do Chính phủ Nhật Bản bảo trợ

Việc huấn luyện, đào tạo là một bộ phận của hợp tác kỹ thuật do Chính phủNhật đảm nhận Dạng hợp tác này nhằm đào tạo cán bộ chuyên môn để đónggóp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của các nước có người được huấn luyện,đào tạo Bởi vì việc huấn luyện được thực hiện ở Nhật Bản, các học viên cóđiều kiện để tìm hiểu văn hoá, xã hội và nền kinh tế Nhật Bản Nhờ đó, họ trởlại đất nước mình cùng với những tri thức, kỹ năng thu được qua quá trình đàotạo

Nhật Bản còn thực hiện một chương trình đào tạo gọi là chương trình đào tạo ởnước thứ ba Chương trình đào tạo ở nước thứ ba cơ bản giống với hợp tác kỹthuật theo kiểu dự án Việc quản lý do nước thứ ba tiến hành dựa trên việc kýmột văn bản về nghiên cứu và phát triển… còn Nhật cung cấp viện trợ hoặc cửchuyên gia, chịu phí tổn đào tạo và các phương tiện khác Hệ thống này nhằmthúc đẩy hợp tác kỹ thuật giữa các nước đang phát triển và chuyển giao đầy đủcông nghệ Từ tháng 3/1975 Nhật Bản đã liên tục thực hiện chương trình đàotạo ở nước thứ ba

Việc cử chuyên gia là một hình thức hợp tác kỹ thuật đã cõ lịch sử lâu dài Việcnày được thực hiện theo các ký kết quốc tế giữa Nhật Bản với các nước đang

Trang 14

phát triển hoặc theo yêu cầu của các tổ chức đa phương Việc cử chuyên giađược tiến hành bằng nhiều cách khác nhau Trong mỗi trường hợp, mục đíchchính là chuyển giao hiểu biết, công nghệ cho các nước đang phát triển thôngqua định hướng, điều tra và nghiên cứu Việc cải tiến trình độ công nghệ ở cácnước đang phát triển cuối cùng sẽ góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội ởcác nước nhận viện trợ.

Kể từ khi Nhật Bản bắt đầu chương trình hợp tác kỹ thuật sau chiến tranh thếgiới thứ II, việc cử chuyên gia chủ yếu là hướng vào các nước Châu á Tuynhiên gần đây các nước thuộc những khu vực khác cũng có nhu cầu ngày càngtăng và rong năm taì chính 1982, Châu á nhận được 59,5% tổng số chuyên giaNhật, Trung cận Đông 6,3%, Châu Phi 5,9% và các khu vực Mỹ La Tinh19,7%

Cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập cũng là một bộ phận của chương trình hợptác kỹ thuật

Nhật Bản bắt đầu sự hợp tác thông qua việc cung cấp thiết bị và vật liệu vàonăm tài chính 1964 Trong trường hợp này, cung cấp thiết bị và vật liệu cónghĩa là cung cấp những thiết bị và vật liệu với tư cách là một bộ phận củachương trình hợp tác kỹ thuật Nhưng để phân biệt sự cung cấp đó với sư cungcấp thiết bị và vật liệu trong khuôn khổ viện trợ chung không hoàn lại, tạm gọi

là cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập Việc cung cấp này được kết hợp vớiviệc Nhật Bản cử chuyên gia và đào tạo kỹ thuật tại Nhật đã nâng cao hiệu quảcủa hợp tác kỹ thuật Trong thời gian từ 1964 đến 1987 đã có hơn 00 trườnghợp Nhật cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập với tổng trị giá khoảng 15,7 tỷYên

Nhật Bản còn thực hiện hợp tác kỹ thuật theo thể loại từng dự án Các chươngtrình hợp tác kỹ thuật do Chính phủ Nhật giao cho JICA thực hiện gồm 3 loại:đào tạo kỹ thuật tại Nhật, cử chuyên gia Nhật sang các nước, cung cấp thiết bị

và vật liệu Các hình thức hợp tác kỹ thuật này có thể được thực hiện một cáchđộc lập nhưng thường thì sự kết hợp giữa 3 thể loại này sẽ mang lại hiệu quả

Trang 15

cao hơn và được gọi là hợp tác kỹ thuật theo thể loại từng dự án Mục tiêu củahợp tác kỹ thuật theo thể loại từng dự án là chuyển giao công nghệ cho các kỹ

sư, kỹ thuật viên, nhân viên y tế… của các nước nhận viện trợ bằng cách cho

họ tham gia vào các dự án phát triển thuộc các lĩnh vực cụ thể như nôngnghiệp, lâm nghiệp, y tế… và các hoạt động nghiên cứu liên quan đến các lĩnhvực đó

Qua phân tích hình thức hợp tác kỹ thuật của Nhật Bản cho ta thấy một ví dụsinh động nêu bật vai trò của viện trợ phát triển chính thức trong việc giúp cácnước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại gópphần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá ở các nước này

4.4 ODA giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế

Trong quá trình phát triển các nước đang và chậm phát triển gặp rất nhiều vấn

đề xã hội khó khăn như dân số, việc làm và những vấn đề về kinh tế và quản lýkhác Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia đang cố gắng hoàn thiện cơ cấukinh tế bằng cách phối hợp với Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế và các

tổ chức quốc tế khác thực hiện chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế

Thế giới đã thừa nhận sự cần thiết của loại hình viện trợ này đối với các nướcđang phát triển và Nhật bản cũng rất chú trọng tới loại hình này Từ năm 1988đến năm 1990, Nhật đã dành khỏng 52 tỷ Yên để cấp viện trợ không hoàn lạidưới dạng đồng tài trợ với các tổ chức quốc tế Đồng thời Nhật Bản cũng đãcấp viên trợ không hoàn lại hằm hỗ trợ cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ởChâu Phi và các nước khác Trong 3 năm từ 1987 đến 1989 Nhật đã cấp 61,7 tỷYên để hỗ trợ hoàn thiện cơ cấu kinh tế cho 26 nước Châu Phi Từ năm 1990đến 1992 đã cấp 600 triệu đô la Mỹ cho Mông Cổ, Pêru và các nước khác ởChâu á, Trung và Nam Mỹ Trong giai đoạn 3 năm từ 1993 đến 1995, NhậtBản đã dành một khoản viện trợ tổng cộng khoảng gần 700 triệu USD để hỗ trợđiều chỉnh kinh tế cho các nước đang phát triển

Trang 16

Rõ ràng là ODA có một vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển củacác nước đang phát triển Việc sử dụng vốn ODA một cách có hiệu quả, đúngmục đích sẽ giúp các nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nhanh chóng hộinhập với nền kinh tế thế giới Ngày nay, việc thu hút ODA của các nước nghèođang có một sự canh tranh giữa các nước Vì vậy, sử dụng hiệu quả vốn ODA

và nắm bắt được xu hướng vận động của dòng vốn này là hết sức cần thiết đốivới các nước nhận viện trợ

5 Những xu hướng mới của ODA trên thế giới

Một trong những yếu tố để thu hút được nhiều vốn ODA trong điều kiện

có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nước, đó là nắm bắt được xu thế vận độngcủa dòng vốn này Trong thời đại ngày nay, vốn ODA có những xu thế vậnđộng cơ bản sau:

5.1 Ngày càng có thêm nhiều cam kết quan trọng trong quan hệ hỗ trợ phát triển chính thức

Trong những năm 90 của thế kỷ trước, tại các hội nghị cấp cao quốc tế, các nhàtài trợ, các nước nhận viện trợ đã có những cam kết có ý nghĩa hết sức to lớn:Năm 1995, tại hội nghị cấp cao thế giới về phát triển xã hội, Chính phủ cácnước đã tự nguyện cam kết thực hiện thoả thuận 2020 Các nước viện trợ camkết dành 20% chi tiêu công cộng cho các dịch vụ cơ bản

Tháng 6 năm 1997 tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, cácnước thành viên DAC khẳmg định cam kết dành 0,7% GNP cho viện trợ Mặc

dù từ đó tới nay rất ít nước đạt được mục tiêu này và đã có một số nước giảmkhối lượng viện trợ trong những năm qua song các nước vẫn tiếp tục khẳngđịnh cam kết này trừ Hoa Kỳ

Năm 1996, DAC đã công bố một công trình có tiêu đề “Kiến tạo thế kỷ XXIcống hiến của hợp tác phát triển” Trong công trình này các nước thành viênDAC cam kết phấn đấu đạt một số mục tiêu cụ thể đã được nhất trí tại hội nghịcủa Liên Hợp Quốc Đó là:

Trang 17

Giảm một nửa tỷ lệ những người đang sống trong cảnh nghèo khổ cùng cựcvào năm 2015.

Phổ cập giáo dục tiểu học ở tất cả các nước vào năm 2015

Xoá bỏ sự phân biệt giới tính trong giáo dục tiểu học và trung học vào năm

2005, coi đây là một tiến bộ cho sự bình đẳng giới và tăng quyền lực của phụnữ

Giảm 2/3 tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi

Hoàn thiện hệ thống y tế chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đảm bảo sức khoẻ sinhsản không muộn hơn năm 2015

5.2 Bảo vệ môi trường sinh thái đang là trọng tâm ưu tiên của các nhà tài trợ

Ngày càng có sự nhất trí cao giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ về vấn

đề bảo vệ môi trường Nhật Bản đang gia tăng nỗ lực của mình bằng cách cungcấp viện trợ song phương qua những tổ chức quốc tế có liên quan đến môitrường như Quỹ Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEF), Chương trình phát triểnLiên Hợp Quốc (UNDP)

Bảo vệ môi trường sinh thái đã được bàn tới như là một trọng tâm của cộngđồng các nhà tài trợ taị Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên HợpQuốc tổ chức vào tháng 6 năm 1992

Căn cứ vào những diễn biến gần đây trong lĩnh vực môi trường, ADB đã điềuchỉnh chính sách ưu tiên cho việc bảo vệ môi trường của mình, tập trung giảiquyết những thách thức về môi trường trong thời đại ngày nay, cải thiện môitrường sống vì sự phát triển lâu bền

5.3 Mục tiêu và yêu cầu của các nhà tài trợ ngày càng cụ thể nhưng ngày càng có sự nhất trí cao giữa nước nhận viện trợ và nước viện trợ về một số mục tiêu

Với mỗi khoản ODA cung cấp cho các nước nghèo, các nhà tài trợ đưa ra cácmục tiêu và yêu cầu ngày càng cụ thể hơn Mục tiêu và yêu cầu càng cụ thể thìràng buộc càng chặt chẽ và điều đó cũng đồng nghĩa với việc nhà tài trợ đạt

Trang 18

được mục đích của mình ở mức cao nhất Các mục tiêu đạt được sự nhất trí caogiữa các nhà tài trợ và các nước nhận viện trợ là:

Tạo tiền đề tăng trưởng kinh tế

Xoá đói giảm nghèo

Bảo vệ môi trường

5.4 Nguồn vốn ODA tăng chậm

Năm 1969, DAC đã yêu cầu các nước công nghiệp phát triển dành 0,7% GNPcủa mình cho viện trợ Nghị quyết của Hội nghị cấp cao các nước thuộc DACđược tổ chức vào tháng 12 năm 1988 tiếp tục khẳng định: hàng năm các nướccông nghiệp phát triển cần phải trích 0,7% GNP để cung cấp ODA Liên HợpQuốc còn kêu gọi các nước phát triển phấn đấu đạt tỷ lệ ODA/ GNP là 1%trong tương lai Tuy nhiên, các nước còn cách xa mục tiêu rất nhiều, Nhật Bản

và Hoa Kỳ là hai nhà tài trợ lớn nhất trên thế giới từ trước tới nay chưa bao giờdành tới 0.35% GNP cho ODA Hơn nữa, gần đây nhiều số liệu còn cho thấy

Mỹ còn có xu hướng giảm cung cấp ODA cả về số tuyệt đối lẫn tương đối ĐanMạch, Na uy, Thuỵ Điển, Hà Lan chỉ phấn đấu giữ vững tỷ lệ ODA/ GNP Đức

và Anh chỉ cố gắng duy trì tỷ lệ ODA khiêm tốn từ nhiều năm qua Năm 1997Nhật bản cung cấp một lượng ODA là 9,358 tỷ USD bằng 0,22% GNP, chiếm19,4% tổng ODA của các nước DAC Tiếp theo Pháp cung cấp gần 6,3 tỷUSD, Đức cung cấp khoảng 5,8 tỷ USD Còn Hoa Kỳ giảm cung cấp ODA chỉcòn ở mức gần bằng 1% GNP Đây là một dấu hiệu không mấy khả quan về sựgia tăng viện trợ

Nguồn vốn ODA từ các nước không thuộc DAC dù có tăng lên cũng khó làmthay đổi được tình hình chung Viện trợ của Liên bang Nga cũng phải nhiềunăm nữa mới đạt được mức cao như trước đây Viện trợ của Đài Loan, HànQuốc tuy có tăng đôi chút nhưng khối lượng ODA tuyệt đối đạt được khôngthể làm thay đổi triển vọng về tốc độ gia tăng viện trợ

Cung vốn ODA tăng chậm trước hết là do các nguồn cung cấp ODA chủ yếugặp nhiều khó khăn Trong những năm gần đây, các nước OECD đang phải đấu

Trang 19

tranh để kiểm soát việc thâm hụt ngân sách và kiềm chế việc gia tăng trongviệc chi tiêu của Chính phủ Mặc dù viện trợ cho nước ngoài chỉ chiếm mộtphần rất nhỏ trong ngân sách, nhưng nó là một trong những mục đầu tiên bị cắtgiảm Ngoài ra, trên thế giới dã xuất hiện những quan điểm mới, tiến bộ vềhiệu quả ODA Hiệu quả sử dụng ODA được quan tâm hơn bao giờ hết Bởivậy, thêm một lý do nữa để các nước giàu mở “hầu bao” của mình một cáchthận trọng hơn Hơn nữa, hiện nay ở nhiều nước người dân muốn Chính phủgiảm bớt ngoại viện để tập trung giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội trongnước.

5.5 Cạnh tranh giữa các nước đang phát triển trong việc thu hút vốn ODA đang tăng lên

Trong điều kiện mất cân đối về cung cầu ODA, cạnh tranh gay gắt giữa cácnước, các khu vực về thu hút nguồn vốn này, Việt Nam vẫn đang giành được

sự quan tâm, ưu tiên của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế Vì vậy, Việt Namcần nắm bắt được xu hướng vận động của dòng vốn ODA và cần tranh thủ sựủng hộ của cộng đồng quốc tế giành cho mình để khai thác và sử dụng có hiệuquả nguồn vốn ODA cho sự nghiệp phát triển đất nước

II ĐỊNH NGHĨA VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CHUẨN ĐÓI NGHÈO

1 Định nghĩa về đói nghèo

Trên thế giới hiện có nhiều khái niệm khác nhau về nghèo đói nhưng có mộtđịnh nghĩa chung về đói nghèo và được Việt Nam thừa nhận do Hội nghị chống

đói nghèo khu vực Châu á - Thái Bình Dương đưa ra tháng 9/1993 là: nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu

cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của địa phương.

Tuỳ theo quan niệm, phong tục tập quán và các điều kiện khác mà có các cáchtiếp cận và xác định chuẩn đói nghèo khác nhau Sau đây là hai phương phápxác dịnh chuẩn đói nghèo phổ biến mà Việt Nam áp dụng

Trang 20

2 Các phương pháp tiếp cận chuẩn đói nghèo

2.1 Theo chuẩn đói nghèo quốc tế

Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống

kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mứcsống dân cư ở Việt Nam (năm 1992 – 1993 và năm 1997 – 1998)

Đường đói nghèo ở mức thấp nhất gọi là đường đói nghèo về lương thực, thựcphẩm Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung(bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm).Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được theo chuẩn mà hầu hết cácnước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đãxây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn vềnhu cầu 2100 Kcal/người/ngày Những người có mức chi tiêu dưới mức cầnthiết để đạt được lượng Kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm

Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lươngthực, thực phẩm Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thựcphẩm ta có đường đói nghèo chung

Năm 1993 đường đói nghèo chung có mức chi tiêu là 1,16 triệuđồng/năm/người (cao hơn đường đói nghèo lương thực, thực phẩm 55%), Năm

1998 1,79 triệu đồng/năm/người (cao hơn đường đói nghèo lương thực, thựcphẩm 39%) Dựa trên các ngưỡng nghèo này, tỷ lệ đói nghèo chung năm 1993

là 58% và 1998 là 37,4% còn tỷ lệ đói nghèo lương thực, thực phẩm tương ứng

là 25% và 15%

2.2 Theo chuẩn đói nghèo của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia

Căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính 2001 –

2005 và mức sống thực tế của người dân từng vùng, Bộ Lao động, Thươngbinh và Xã hội Việt Nam đưa ra chuẩn nghèo đói để đưa ra danh sách những

hộ, những xã và vùng cần hỗ trợ từ chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia Năm 1997, Việt Nam đưa ra chuẩn đói nghèo thuộc phạm vi chương trình quốcgia để áp dụng cho thời kỳ 1996 – 2000 như sau: Hộ nghèo là hộ có thu nhập

Trang 21

tuỳ theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau: vùng nông thôn miền núi,hải dảo: dưới 15 kg gạo/người/tháng; vùng nông thôn đồng bằng, trung du:dưới 20 kg gạo/người/tháng; vùng thành thị: dưới 25 kg gạo/người/tháng.Trước những thành tích của công cuộc xoá đói giảm nghèo cũng như tốc

độ tăng trưởng kinh tế và mức sống, từ năm 2001 đã công bố mức chuẩn nghèomới để áp dụng cho thời kỳ 2001 – 2005, theo đó chuẩn nghèo của chươngtrình quốc gia mới được xác định ở mức độ khác nhau tuỳ theo từng vùng Cụ

thể, bình quân thu nhập là: 80 nghìn đồng/người/tháng ở các vùng hải đảo và vùng núi nông thôn; 100 nghìn đồng/người/tháng ở các vùngđồng bằng nông thôn; 150 nghìn đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

III MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO

1 Xoá đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng bền vững

Xoá đói giảm nghèo không chỉ là công việc trước mắt mà còn là nhiệm vụ lâudài Trước mắt là xoá hộ đói, giảm hộ nghèo; lâu dài là xoá sự nghèo,giảmkhoảng cách giàu nghèo, phấn đấu xây dựng một xã hội giàu mạnh, công bằng.Xoá đói giảm nghèo không chỉ là phân phối lại thu nhập một cách thụ động màcòn phải tạo ra động lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động tự vươn lên thoát nghèo.Xoá đói giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởngkinh tế với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan trọng tạo

ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm một lực lượng sảnxuất dồi dào

Do đó, xoá đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu của tăng trưởng (cảtrên góc độ kinh tế và xã hội), đồng thời cũng là một điều kiện cho tăng trưởngnhanh và bền vững Trên phương diện nào đó, xét về ngắn hạn, khi phân phốimột phần đáng kể trong thu nhập xã hội cho chương trình xoá đói giảm nghèothì nguồn lực dành cho tăng trưởng kinh tế có thể bị ảnh hưởng, song xét môtcách toàn diện về dài hạn thì kết quả xoá đói giảm nghèo lại tạo tiền đề chotăng trưởng nhanh và bền vững

Trang 22

2 Tăng trưởng kinh tế là cơ sở quan trọng để xoá đói giảm nghèo

Tăng trưởng chất lượng cao là để giảm nhanh mức nghèo đói Thực tiễn nhữngnăm vừa qua đã chứng minh rằng, nhờ kinh tế tăng trưởng cao Nhà nước cósức mạnh vật chất để triển khai các chương trình hỗ trợ vật chất, tài chính vàcho các xã khó khăn phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội cơ bản Ngườinghèo và cộng đồng nhờ đó có cơ hội vươn lên thoát nghèo Tăng trưởng kinh

tế là điều kiện quan trọng để xoá đói giảm nghèo trên quy mô rộng, không cótăng trưởng mà chỉ thực hiện các chương trình tái phân phối hoặc các biệnpháp giảm nghèo truyền thống thì tác dụng không lớn

Tăng trưởng trên diện rộng với tốc độ cao và bền vững, trước hết chuyển dịch

cơ cấu và đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nghề, tạo cơ hộinhiều hơn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển nhằm tạo ra nhiều việclàm phi nông nghiệp, tăng thu nhập cho người nghèo

Như vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững là một điều kiện hết sức quantrọng để thực hiện xoá đói giảm nghèo trên diện rộng và ngược lại thực hiện vàthực hiện thành công xoá đói giảm nghèo cũng là một tiền đề quan trọng, mộtđộng lực để thực hiện thành công các mục tiêu tăng trưởng kinh tế Thực hiệntốt cả hai mục tiêu chính là góp phần quan trọng để thực hiện thành công chiếnlược và mục tiêu phát triển của đất nước

CHƯƠNG II TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA

CHO XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO

I THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO Ở VIỆT NAM

1 Bối cảnh kinh tế xã hội

1.1 Tình hình phát triển các ngành

Trang 23

Nền kinh tế Việt Nam trong 10 năm (1991 – 2000) dù phải đối mặt vớinhững thách thức hết sức to lớn nhưng đã đạt được những thành tựu đáng tựhào Đạt được những thành tựu to lớn trong những điều kiện khó khăn là dochúng ta biết phát huy nội lực đồng thời, khai thác có hiệu quả sự hỗ trợ củacộng đồng quốc tế Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 10 năm qua là7,5%/năm, tỷ lệ tiết kiệm và thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng So vớinăm 1990, tỷ lệ tiết kiệm trong nước so với GDP năm 2000 gấp 2,5 lần và GDPbình quân đầu người tăng 1,8 lần.

Cơ cấu sản xuất nông nghiệp trên nhiều vùng đã có sự chuyển dịch theo hướngtăng hiệu quả trên một đơn vị diện tích, đặc biệt nghề nuôi trồng và đánh bắtthuỷ sản phát triển khá nhanh Kinh tế nông thôn phát triển đa dạng hơn, nhiềuvùng sản xuất nông sản quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến được hìnhthành, các làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển

b) Về công nghiệp

Ngành công nghiệp phát triển với nhịp độ khá cao, góp phần quan trọng vào ổnđịnh kinh tế, xã hội và xoá đói giảm nghèo Năng lực sản xuất nhiều sản phẩmcông nghiệp tăng khá, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà khảnăng xuất khẩu ngày càng tăng

Cơ cấu các ngành công nghiệp đã có bước chuyển dịch đáng kể, hình thànhmột số sản phẩm mũi nhọn, một số khu công nghiệp, khu chế xuất với nhiều cơ

sở sản xuất có công nghệ hiện đại Cùng với việc phát triển các khu côngnghiệp có quy mô lớn, Chính phủ cũng chú trọng phát triển doanh nghiệp nhỏ

Trang 24

và vừa, phát triển các cơ sở, làng nghề để thu hút thêm lao động và tăng thunhập cho người sản xuất.

c) Về dịch vụ

Các ngành dịch vụ tuy hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn, nhưng chấtlượng đã được nâng lên, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế và phục vụ đờisống dân cư Thị trường trong nước đã thông thoáng hơn với sự tham gia củanhiều thành phần kinh tế

Tổng giá trị dịch vụ tài chính, tín dụng năm 2000 gấp 3,2 lần so với năm 1990,giáo dục đào tạo gấp 2,2 lần, y tế và các hoạt động cứu trợ xã hội gấp 1,7 lần.Ngành giao thông vận tải trong điều kiện còn nhiều khó khăn, song đã đáp ứngkhá tốt về cơ sở hạ tầng cho yêu cầu phát triển kinh tế Giá trị dịch vụ vận tải,kho tàng, thông tin liên lạc tăng 1,8 lần Nhiều tuyến giao thông huyết mạch đãđược đầu tư nâng cấp bảo đảm giao thông và nhu cầu vận tải trong những nămqua Dịch vụ Bưu chính viễn thông phát triển nhanh, mạng lưới viễn thôngtrong nước đã được hiện đại hoá về cơ bản Nhiều phương tiện thông tin hiệnđại đạt tiêu chuẩn quốc tế đã được phát triển, bước đầu đáp ứng nhu cầu thôngtin, thương mại của công chúng Đã hình thành thị trường dịch vụ bảo hiểm với

sự tham gia của các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế trong và ngoàinước Dịch vụ tài chính, ngân hàng có những đổi mới quan trọng Các dịch vụ

tư vấn pháp luật, khoa học và công nghệ đã bước đầu phát triển

1.2 Về thực trạng đời sống nhân dân

Đời sống của nhân dân đã có nhiều cải thiện, các mục tiêu phát triển xã hội vàcải thiện đời sống dân cư ở thành thị và nông thôn nhất là mục tiêu xoá đóigiảm nghèo đạt được những kết qủa rõ rệt Trong 10 năm, qua tuổi thọ bìnhquân tăng từ 64 tuổi vào năm 1990 lên 68 tuổi vào năm 2000; tỷ lệ suy dinhdưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 51,5% xuống còn 33,1%

Tỷ lệ hộ dân nông thôn được dùng nước sạch tăng lên gấp đôi; tỷ lệ nhập họctheo đúng độ tuổi ở bậc tiểu học đạt 95% Tỷ lệ các xã không có hoặc thiếu cơ

sở hạ tầng thiết yếu đã giảm đi rất nhiều (năm 2000, có 88% số xã đã có điện,

Trang 25

95% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã); đời sống dân cư của nhiều vùngđược cải thiện rõ rệt , nhất là đối với nông thôn và các vùng đặc biệt khó khăn.Chỉ số phát triển con người và tiếp cận các dịch vụ xã hội cũng được cải thiện

rõ rệt, mặc dù GDP tính theo đầu người của Việt Nam năm 1999 thứ 167, songchỉ số phát triển con người (HDI) được xếp thứ 101 thuộc loại trung bình trênthế giới với chỉ số 0,682 Năm 2001, báo cáo phát triển con người của UNDPxếp Việt Nam thứ 89 trong tổng số 162 nước về chỉ số phát triển giới (GDI)

1.3 Về cơ chế chính sách

Nhiều cơ chế, chính sách đổi mới kinh tế xã hội đã được thực hiện; nhiều đạoluật về kinh tế đã được ban hành và được sửa đổi phù hợp với yêu cầu thịtrường như: Luật Dân sự, Luật đất đai, Luật lao động Luật Thương mại, LuậtĐầu tư nước ngoài, Luật hải quan, Luật bảo hiểm và các luật về thuế… đã từngbước tạo nên môi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ, an toàn và thuận lợi cho cáchoạt động sản xuất kinh doanh bình đẳng Thể chế kinh tế thị trường hàng hoá,dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trườngkhoa học - công nghệ đang được hình thành và từng bước được hoàn thiện, đã

có tác dụng khuyến khích dân cư, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài bỏvốn đầu tư phát triển sản xuất

1.4 Về chất lượng phát triển

Nền kinh tế Việt Nam phát triển chưa vững chắc Từ năm 1997 do tác động củacuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính khu vực, nhịp độ tăng trưởng kinh tế chậmlại Những năm gần đây tuy đã đạt được mức tăng trưởng cao hơn (năm 2003đạt tốc độ 7,34%) song nền kinh tế Việt Nam còn phải trải qua những khó khăn

to lớn

Chất lượng phát triển còn thấp, hiệu quả của nền kinh tế chưa cao, sức cạnhtranh thấp, nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhiều ngành sản phẩm chưa đủsức cạnh tranh Trong nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn cònchậm, các phương thức canh tác tiên tiến được đưa vào nông thôn chưa nhiều;lao động thiếu việc làm và không có tay nghề còn cao, năng suất lao động còn

Trang 26

thấp; khả năng cạnh tranh hàng hoá còn chưa cao, một số sản phẩm tiêu thụcòn khó khăn, môi trường xuống cấp, tài nguyên bị khai thác quá mức và cạnkiệt.

Sản xuất công nghiệp chưa ổn định, hiệu quả chưa cao Một số ngành côngnghiệp còn nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Nhiều doanhnghiệp trong nước chưa năng động, sức cạnh tranh kém, chưa bám sát các nhucầu thị trường Trình độ công nghệ, tình trạng máy móc, thiết bị lạc hậu chậmđổi mới làm cho chi phí sản xuất cao; việc sắp xếp lại sản xuất, đổi mới doanhnghiệp tiến hành chậm Các ngành dịch vụ phát triển yếu, mạng lưới thươngnghiệp và thị trường vùng nông thôn , miền núi, vùng sâu kém phát triển

1.5 Tồn tại nhiều vấn đề xã hội bức xúc

Lao động và việc làm đang trở thành vấn đề gay gắt, nổi cộm nhất hiện nay;thu nhập và năng suất lao động nhất là trong nông nghiệp quá thấp Khoảngcách thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng gia tăng; trình độ taynghề kém, lao động chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ trọng cao Khoa học côngnghệ chưa thực sự trở thành cơ sở và động lực phát triển sản xuất kinh doanh.Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hóa chậm, không theo quy hoạch nên chưa

đủ sức hút lao động dôi dư trong xã hội

Vấn đề xã hội còn nhiều bức xúc, tệ nạn xã hội hội có xu hướng tiếp tục giatăng; gian lận thương mại chưa giảm; tai nạn giao thông xảy ra nghiêm trọng

và có xu hướng gia tăng; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em còn cao, trên 60% trẻ emtàn tật chưa được điều trị; lao động trẻ em đang là vấn đề bức xúc; trẻ em bịbuôn bán, bị xâm hại, trẻ em lang thang có chiều hướng gia tăng; sự lây lanHIV/AIDS chưa có chiều hướng giảm; khiếu kiện vẫn còn dai dẳng… Đờisống của nhân dân ở một số vùng sâu, vùng xa, vùng thường bị thiên tai còn rấtkhó khăn

Nhìn chung, sau hơn mười năm thực hiện chính sách đổi mới nền kinh tế ViệtNam tuy phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, song nhờ thực hiện tốtcác chính sách và có các biện pháp phù hợp, biết phát huy nội lực, tranh thủ và

Trang 27

khai thác có hiệu quả sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế nên đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng: tốc độ tăng trưởng GDP trong 10 năm từ 1991 – 2000 đạt7,5%/năm, tỷ lệ tiết kiệm và thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng, đờisống nhân dân ngày càng được cải thiện

Mặc dù đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng tình trạng nghèo đói vẫncòn hiện hữu ở nhiều nơi, đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi Thu nhậpcủa phần lớn dân cư vẫn giáp ranh ở mức nghèo và rất dễ bị tổn thương bởithiên tai, bệnh dịch, mất việc làm Do vậy, cần có sự nỗ lực cố gắng của Chínhphủ và mọi tầng lớp nhân dân để đưa đất nước thoát nghèo và bắt kịp sự pháttriển của thế giới

2 Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam

Việt Nam vẫn là nước nghèo trên thế giới và mỗi khu vực khác nhau trên đấtnước tình trạng và tỷ lệ đói nghèo có những đặc điểm mang tính khác biệt Cóthể tóm lược một số đặc điểm cơ bản sau:

2.1 Việt Nam được xếp vào nhóm các nước nghèo của thế giới

Tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam còn khá cao Theo kết quả điều tra mức sống dân

cư của Tổng cục Thống kế thì tỷ lệ đói nghèo chung theo chuẩn quốc tế củaViệt Nam năm 1993 lên đến 57%, năm 1998 giảm còn 37,4% và năm 2003 là27,2% Số liệu tương ứng theo chuẩn nghèo quốc gia là: 20,1% năm 1998; năm

Nguồn: Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1998, 2002

Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam qua các năm

có xu hướng giảm xuống tính theo cả tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế Điều này

Trang 28

thể hiện kết quả của sự nỗ lực của Việt Nam trong công tác xoá đói giảmnghèo, với hàng loạt các chiến lược, chương trình quốc gia liên quan đến xoáđói giảm nghèo và sự hợp tác, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với công cuộcxoá đói giảm nghèo ở Việt Nam

2.2 Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập bấp bênh

Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành công rất lớn trong việc giảm nghèo,nhưng cũng cần thấy rằng những kết quả đạt được là hết sức mong manh

Thu nhập của một bộ phận rất lớn dân cư vẫn còn giáp ranh mức nghèo nên rất

dễ bị tái nghèo khi có những thay đổi về điều kiện bên ngoài như thiên tai,bệnh dịch, khủng hoảng, lạm phát v.v và khi có một sự điều chỉnh nhỏ trongviệc xác định chuẩn nghèo cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo

Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ nông nghiệp, với điều kiện nguồn lựchạn chế về đất đai, vốn, thu nhập của những người nghèo rất bấp bênh và dễ bịtổn thương trước những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng Một số giađình tuy thu nhập ở trên ngưỡng nghèo, nhưng vẫn giáp ranh với ngưỡngnghèo đói, do vậy khi có những dao động về thu nhập cũng có thể khiến họtrượt xuống ngưỡng nghèo Tính mùa vụ trong nông nghiệp cũng tạo nên khókhăn cho người nghèo

Mức độ cải thiện thu nhập của người nghèo chậm hơn nhiều so với mức sốngchung và đặc biệt so với nhóm có mức sống cao Sự gia tăng chênh lệch giữanhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất ( từ 7,3 lần năm 1993 lên 8,9 lần năm1998) cho thấy, tình trạng tụt hậu của người nghèo trong mối tương quan vớingười giàu Mặc dù chỉ số nghèo đói có cải thiện, nhưng mức cải thiện ở nhómngười nghèo chậm hơn so với mức chung Hệ số chênh lệch mức sống giữathành thị và nông thôn rất cao

2.3 Nghèo đói tập trung ở những vùng có điều kiện sống khó khăn

Đa số người nghèo sinh sống trong vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèonàn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như vùng núi, vùng sâu, vùng xa hoặc ởMiền Trung hay Đồng bằng Sông Cửu Long do sự biến động của thời tiết khiến

Trang 29

cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của người dân càng thêm khó khăn.Đặc biệt sự kém phát triển về hạ tầng cơ sở của các vùng nghèo đã làm cho cácvùng này càng bị tách biệt với các vùng khác Năm 2000 khoảng 20 – 30%trong tổng số 1870 xã đặc biệt khó khăn chưa có đường dân sinh đến trung tâmxã; 40% số xã chưa đủ phòng học; 5% số xã chưa có trạm y tế; 55% số xã chưa

có nước sạch; 40% số xã chưa có đường điện đến trung tâm xã; 50% chưa đủcông trình thuỷ lợi nhỏ

Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người trong diện cứutrợ đột xuất hàng năm khá cao, khoảng 1 – 1,5 triệu người

2.4 Nghèo đói tập trung trong khu vực nông thôn

Nghèo đói là một hiện tượng phổ biến ở nông thôn với hơn 90% số ngườinghèo sinh sống ở nông thôn Năm 1999, tỷ lệ đói nghèo đói về lương thực,thực phẩm của thành thị là 4,6% trong khi đó tỷ lệ này ở nông thôn là 15,9%.Trên 80% số người nghèo là nông dân, trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếpcận các nguồn lực trong sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khókhăn do điều kiện địa lý và chất lượng sản phẩm còn thấp, chủng loại nghèonàn Cũng như khu vực miền núi, những người nông dân ít có điều kiện tiếpcận với hệ thống thông tin, và các dịch vụ về hạ tầng cơ sở khác Bảng số liệusau sẽ minh hoạ phần nào sự thiếu thốn trong việc được đáp ứng các dịch vụ về

hạ tầng cơ sở ở vùng nông thôn

Bảng 2: Tiếp cận các dịch vụ cơ bản ở nông thôn

Đơn vị tính: %

Tỷ lệ dân cư ở nông thôn có trung tâm y tế xã 93 97

Tỷ lệ dân cư nông thôn được tiếp cận với nguồn

Trang 30

thắp sáng chính

Tỷ lệ hộ gia đình được nghe đài Tiếng nói Việt

Nguồn: Chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo

Xét về số tương đối thì tỷ lệ số xã ở nông thôn được tiếp cận với các dịch vụ cơbản không phải là thấp nhưng thực tế ở nhiều nơi những dịch vụ này khôngphải tất cả mọi người trong xã đều có điều kiện được hưởng và chất lượng củacác dịch vụ còn rất hạn chế

2.5 Nghèo đói ở khu vực thành thị

Trong khu vực thành thị, tuy tỷ lệ nghèo đói thấp hơn và mức sống trung bìnhcao hơn so với mức sống chung của cả nước, nhưng mức độ cải thiện điều kiệnsống không đồng đều Đa số người nghèo đô thị làm việc trong khu vực kinh tếphi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh

Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chủ sở hữu trong khu vực nhà nước dẫn đến

sự dôi dư lao động, mất việc làm của một bộ phận người lao động ở các khuvực này, làm cho điều kiện sống của họ càng thêm khó khăn hơn

Người nghèo đô thị phần lớn sống ở những nơi có cơ sở hạ tầng thấp kém, khó

có điều kiện tiếp xúc với các điều kiện cơ bản (nước sạch, vệ sinh môi trường,thoát nước…)

Người nghèo đô thị dễ bị tổn thương do sống phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thunhập bằng tiền Họ thường không có hoặc ít có khả năng tiết kiệm và gặp nhiềukhó khăn trong việc vay vốn tạo việc làm

Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá làm tăng số lượng người di cư tự do từcác vùng nông thôn đến các đô thị, chủ yếu là trẻ em và người trong độ tuổi laođộng Hiện tại, chưa có số liệu thống kê về số lượng người di cư tự do nàytrong các báo cáo về nghèo đói ở đô thị Những người này gặp rất nhiều khókhăn trong việc đăng ký hộ khẩu hoặc tạm trú lâu dài, do đó họ khó có thể tìmkiếm được công ăn việc làm và thu nhập ổn định

Trang 31

Bảng 3: Ước tính quy mô và tỷ lệ nghèo đói theo chuẩn nghèo mới

giữa thành thị và nông thôn năm 2000

Số hộ nghèo (Nghìn hộ)

So với số hộ trong vùng (%)

So với tổng số

hộ nghèo cả nước (%)

Nguồn: Chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo

Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy quy mô cũng như tỷ lệ hộ nghèo ở

thành thị thấp hơn rất nhiều so với khu vực nông thôn Điều này phản ánh điều

kiện sống khác nhau giữa nông thôn và thành thị và chênh lệch giàu nghèo giữa

nông thôn và thành thị Đó là hệ quả của sự phát triển không đồng đều do các

điều kiện khách quan cũng như chủ quan của bản thân người dân ở các khu

vực nông thôn và thành thị Vấn đề là, cần phải làm thế nào để giảm được

nghèo đói ở cả nông thôn và thành thị đồng thời thu hẹp khoảng cách về thu

nhập giữa 2 khu vực này nhằm đảm bảo sự công bằng và phát triển bền vững

cho đất nước

2.6 Tỷ lệ nghèo đói khá cao trong các vùng sâu, vùng xa, vùng cao

Đói nghèo mang tính chất vùng rõ rệt Các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa có

tỷ lệ đói nghèo khá cao Có tới 64% số người nghèo tập trung tại các vùng

miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên

Bảng 4: Tỷ lệ nghèo đói theo vùng theo chuẩn quốc tế

Đơn vị tính: %

Nghèo chung

Nghèo lương thực,thực phẩm (2100calo)

Nghèo chung

Nghèo lương thực, thực phẩm (2100 calo)

Trang 32

Nguồn: Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1998, 2002

Ta thấy rằng, nghèo đói vẫn tập trung ở những vùng sâu, vùng xa, vùng núicao Đây là những vùng có điều kiện sống khó khăn, địa lý cách biệt, khả năngtiếp cận với các điều kiện sản xuất và dịch vụ còn nhiều hạn chế, hạ tầng cơ sởrất kém phát triển, điều kiện thiên nhiên hết sức khắc nghiệt và thiên tai xảy rathường xuyên Bên cạnh đó, những vùng địa lý như vùng sâu, vùng xa, vùngnúi cao lại tập trung chủ yếu người dân là người dân tộc thiểu số Mặc dù dân

số ít, chỉ chiếm khoảng 14% tổng số dân cư, song lại chiếm tới khoảng 29%trong tổng số người nghèo Do vậy, tuy được Chính phủ hết sức hỗ trợ nhưngcuộc sống của người dân tộc ít người vẫn gặp nhiều khó khăn và bất cập

Nhìn chung, mức độ giảm nghèo giữa các vùng tuy khác nhau nhưng tỷ lệnghèo lương thực, thực phẩm đều giảm: Vùng đồng bằng Sông Hồng từ 8,5%năm 1998 giảm xuống còn 5,3% năm 2002 Tương tự, Vùng Bắc trung bộ từ19% xuống còn 17,5%; vùng Duyên hải miền trung từ 15,9% xuống còn 9%;Tây nguyên từ 31,5% xuống còn 17,59%; Đông Nam bộ từ 5% xuống còn 3%

và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long giảm từ 11,3% xuống 6,5%

Tốc độ giảm nghèo trong giai đoạn gần đây vẫn tương đối nhanh mặc dù tốc độtăng trưởng kinh tế chậm hơn so với giai đoạn 1993 – 1997 và chi phí cho xoáđói giảm nghèo đòi hỏi ngày càng cao hơn Trong 5 năm 1993 – 1998, tỷ lệnghèo giảm được 19,6%, bình quân 2,8%/năm; trong 4 năm 1999 – 2002, giảmđược 8,5%, trung bình 2,1%/năm Thành tích này trong xoá đói giảm nghèo ởViệt Nam là rất ấn tượng và được cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao Điều này

Trang 33

là một thuận lợi để nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với côngtác xoá đói giảm nghèo trong thời gian tới.

3 Nguyên nhân của nghèo đói

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói bao gồm cả những nguyên nhânkhách quan và cả những nguyên nhân chủ quan Sau đây là một số nguyênnhân chủ yếu ảnh hưởng đến đói nghèo:

3.1 Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn

Có một cái vòng luẩn quẩn mà người nghèo bị cuốn vào, đó là người nghèokhông đủ nguồn lực để đầu tư cho sản xuất Do vậy, họ lại tiếp tục nghèo và dotiếp tục sống trong cảnh nghèo đói nên họ không thể có nguồn lực đầu tư phục

vụ sản xuất để thoát nghèo và họ cứ bị rơi vào cái vòng luẩn quẩn ấy mà khôngbiết khi nào có thể thoát ra được

Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng không có đất đai đang có xu hướngtăng lên, đặc biệt ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Thiếu đất đai ảnh hưởngđến việc đảm bảo an ninh lương thực của người nghèo cũng như khả năng đadạng hoá sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại cây trồng có giá trị cao hơn

Đa số người nghèo sản xuất theo kiểu tự cung, tự cấp Do vẫn sản xuất theophương pháp truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng,vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường và vì vậy đã đưa họ vàovòng luẩn quẩn của đói nghèo

Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có điều kiện tiếp cận với các dịch vụtrong sản xuất nông nghiệp như khuyến nông, khuyến nghư, điện, nước, giốngcây trồng, vật nuôi, phân bón… và nếu có thì giá các dịch vụ này cũng rất caođối với họ, nên đã làm tăng chi phí lên cao dẫn đến giảm thu nhập trên một đơn

vị sản phẩm

Người nghèo cũng không có điều kiện tiếp cận với các nguồn tín dụng Sự hạnchế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân làm cho khả năng đầu tưvào máy móc và áp dụng khoa học công nghệ vào trong sản xuất Trong khuônkhổ Chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo đã có dự án tín dụng cho người

Trang 34

nghèo và thực tế nhiều đôí tượng nghèo đã có điều kiện tiếp xúc với nguồn tíndụng, song vẫn còn rất nhiều đối tượng nghèo đặc biệt là những đối tượng cóhoàn cảnh đặc biệt khó khăn vẫn chưa có khả năng tiếp cận với các nguồn tíndụng trên Hơn nữa, khi đã được vay từ nguồn tín dụng cho người nghèo thìcác đối tượng nghèo sử dụng vốn chưa đúng mục đích hoặc không biết sử sụngnhư thế nào để có hiệu quả Do vậy, nhiều khi làm cho họ lại rơi vào vòng nợnần và không có khả năng trả nợ, tức là đã nghèo lại nghèo hơn.

3.2 Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định

Những người nghèo thường là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơhội tìm được việc làm tốt, ổn định Hệ quả tất yếu của thiếu việc làm và việclàm không ổn định là thu nhập thấp và bấp bênh, từ đó dẫn đến việc không thểđáp ứng được những nhu cầu cơ bản cho bản thân cũng như cho gia đình họ.Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp cũng ảnh hưởng đến việc ra quyết địnhtrong việc kế hoạch hoá gia đình, nuôi dạy con cái và điều này đưa đến hậu quả

là không chỉ riêng bản thân người có trình độ học vấn thấp phải sống trongcảnh nghèo mà thế hệ tương lai của họ cũng không thể thoát nghèo do khôngđược học hành đầy đủ

Số liệu thống kê về trình độ học vấn của người nghèo cho thấy có khoảng 90%người nghèo chỉ có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn Kết quả điều tramức sống cho thấy, trong số người nghèo tỷ lệ số người chưa bao giờ đi họcchiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%, trung học cơ sở chiếm 37% Chiphí giáo dục cho người nghèo còn lớn, chất lượng giáo dục mà người nghèotiếp cận còn thấp gây khó khăn cho người nghèo trong việc vươn lên thoátnghèo Tỷ lệ nghèo giảm xuống khi trình độ giáo dục tăng lên, 80% số ngườinghèo làm việc trong khu vực nông nghiệp có mức thu nhập rất thấp nhưngtrình độ học vấn thấp làm cho khả năng tìm kiếm việc làm trong các khu vựckhác rất khó khăn

3.3 Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Trang 35

Những yếu tố về trình độ học vấn, địa lý… có những mối liên quan chặt chẽvới tình trạng nghèo đói Người nghèo thường là các đối tượng sống ở vùngnông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; là những đồng bào dân tộc ít người vànhững đối tượng này thường có trình độ học vấn thấp nên khả năng hiểu biếtpháp luật và tự giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật của họ là một vấn

đề khó khăn Phần lớn các văn bản pháp luật không đến được với các đối tượngnghèo do họ không có đủ điều kiện để tiếp cận và nếu có thì việc nắm bắt vàhiểu được những quy định trong luật đối với họ cũng là rất khó khăn Do vậy,người nghèo không nắm bắt được pháp luật nên không thể tự bảo vệ mình đượckhi các quyền lợi chính đáng của mình bị xâm hại, đồng thời, việc không nắmbắt được luật pháp cũng gây khó khăn cho người nghèo trong việc sản xuất,kinh doanh

3.4 Các nguyên nhân về nhân khẩu học

Trình độ học vấn thấp nên các hiểu biết về kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻsinh sản của người nghèo là rất hạn chế Điều này thường đưa đến hệ quả lànhững gia đình nghèo thường đông con, số nhân khẩu trong các hộ nghèothường rất đông Đây chính là một đặc điểm nổi bật của các hộ nghèo Theo kếtquả điều tra năm 1998, số con bình quân trên một phụ nữ của nhóm 20% nghèonhất là 3,5 con so với 2,1 con của nhóm 20% giàu nhất Quy mô hộ gia đìnhlớn làm cho số người ăn theo tăng lên tức là thu nhập dành cho 1 nhân khẩu bịchia sẻ và làm cho họ đã nghèo lại càng nghèo thêm Vẫn trong cái vòng luẩnquẩn ấy, khi cuộc sống của họ ở trong cảnh tối tăm, thiếu thốn mọi dịch vụ vàkhông có điều kiện cho con cái học hành tử tế sẽ thường dẫn đến hệ quả là sốnhân khẩu trong gia đình họ lại tiếp tục tăng từ thế hệ này tiếp nối thế hệ khác.Như vậy, đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói

3.5 Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác

Do nguồn thu nhập của các đối tượng nghèo rất thấp và bấp bênh nên họ rất dễ

bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thườngxảy ra đối với cá nhân hay gia đình họ Khi có những biến động xảy ra như

Trang 36

thiên tai, mất mùa, bệnh tật… thì với khả năng kinh tế hạn hẹp, không có tíchluỹ sẽ gây ra những bất ổn trong cuộc sống của người nghèo.

Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh đối với người nghèo cũng rất cao, dokhông có trình độ tay nghề, trình độ quản lý, thiếu hiểu biết pháp luật và thịtrường hạn hẹp nên công việc làm ăn của họ rất dễ gặp những rủi ro bất lợi vàkhi rủi ro xảy ra khả năng đối phó của họ rất kém do thu nhập thấp, tiềm lựckinh tế yếu Do đó, làm cho người nghèo rất dễ bị tổn thương

Theo thống kê hàng năm số người phải cứu trợ đột xuất do thiên tai khoảng từ

1 – 1,2 triệu người và bình quân hàng năm, số hộ tái nghèo trong tổng số hộvừa thoát khỏi nghèo đói vẫn còn lớn, do không ít số hộ đang sống bên ngưỡngđói nghèo Do vậy, việc tìm kiếm các giải pháp giảm nhẹ hậu quả thiên tai vàcác rủi ro khác cho người nghèo cần được coi như là một phần quan trọngtrong quá trình xoá đói giảm nghèo

3.6 Bất bình đẳng giới ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của phụ nữ và trẻ em

Bất bình đẳng giới làm sâu sắc thêm tình trạng nghèo đói trên tất cả các mặt.Ngoài những bất công mà cá nhân phụ nữ và trẻ em gái phải gánh chịu do bấtbình đẳng thì còn có những bất lợi đối với gia đình

Phụ nữ chiếm gần 50% trong tổng số lao động nông nghiệp và chiếm tỷ lệ caotrong số lao động tăng thêm hàng năm trong nông nghiệp Mặc dù vậy, phụ nữchỉ chiếm 25% thành viên trong các khoá khuyến nông Phụ nữ ít có cơ hội tiếpcận với công nghệ, tín dụng và đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánhnặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong gia đình và thường đượctrả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại công việc Tỷ lệ trẻ emgái bị suy dinh dưỡng và được đến trường ít hơn trong khi phụ nữ có một vaitrò quan trọng trong mỗi gia đình và xã hội thì họ lại bị đối xử thiếu công bằng,không được chăm sóc và học hành đầy đủ Điều này sẽ cản trở sự tiến bộ củatoàn xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác xoá đói giảm nghèo

3.7 Những nguyên nhân về bệnh tật, sức khoẻ

Trang 37

Bệnh tật và sức khoẻ yếu cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng đóinghèo trầm trọng Vấn đề bệnh tật và sức khoẻ kém ảnh hưởng trực tiếp đếnthu nhập và chi tiêu của người nghèo Hệ quả của việc ốm đau, bệnh tật là: họmất đi thu nhập từ lao động, đồng thời phải gánh chịu chi phí khám chữa bệnhrất cao trong khi không tạo ra được thu nhập Do vậy, chi phí khám chữa bệnh

là gánh nặng đối với người nghèo và đẩy họ đến chỗ vay mượn, cầm cố tài sản

để có tiền trang trải chi phí, từ đó dẫn đến nợ nần và đẩy họ lún sâu hơn vàocảnh nghèo đói Thêm vào đó, người nghèo thường không được đáp ứng đủnhu cầu về dinh dưỡng, thuốc men và các điều kiện chăm sóc sức khoẻ khácnên nguy cơ bị mắc bệnh lại càng cao

Theo số liệu điều tra năm 1998, số ngày ốm bình quân của nhóm 20% ngườinghèo là 3,1 ngày/năm so với 2,4 ngày/năm của nhóm 20% giàu nhất Trongthời kỳ 1993 – 1997, tình trạng ốm đau của nhóm người giàu đã giảm 30%,trong khi tình trạng của nhóm người nghèo vẫn giữ nguyên

Vì vậy, cải thiện điều kiện sức khoẻ cho người nghèo là yếu tố hết sức quantrọng để người nghèo thoát nghèo, tuy rằng đây là việc không phải là dễ dàngnhưng cần có sự giúp đỡ, cố gắng của Chính phủ và toàn xã hội

3.8 Nguyên nhân từ việc thay đổi chính sách vĩ mô

Tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau.Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định là điều kiện thuận lợi để xoá đóigiảm nghèo Tuy nhiên, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao thì cần có những sựthay đổi trong chính sách vĩ mô như tự do hoá thương mại, cải cách doanhnghệp nhà nước… và điều này đưa đến những tác động tiêu cực đến ngườinghèo

Cải cách nền kinh tế, tự do hoá thương mại tạo ra những động lực khuyếnkhích nền kinh tế và các doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên, một số ngànhcông nghiệp thu hút nhiều lao động chưa được chú trọng, các doanh nghiệp vừa

và nhỏ có khả năng tạo việc làm chưa được quan tâm và tạo điều kiện pháttriển dẫn đến khả năng cạnh tranh yếu và có thể dẫn tới phá sản các doanh

Trang 38

nghiệp tức là đẩy công nhân vào cảnh thất nghiệp, việc này đồng nghĩa với việcđưa họ gia nhập đội ngũ người nghèo vì khả năng tích luỹ của đối tượng này làrất thấp.

Cải cách các doanh nghiệp nhà nước và các khó khăn tài chính của các doanhnghiệp nhà nước đã dẫn tới việc mất đi hàng triệu việc làm Số công nhân bịmất việc làm gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm mới nên bịrơi vào cảnh nghèo đói Hơn nữa, những đối tượng đó phần lớn lại là phụ nữ vàngười lớn tuổi nên khả năng bị tổn thương của họ là rất cao và mức độ rấtnghiêm trọng

Chuyển đổi cơ cấu đầu tư mang lại hiệu quả tích cực, song vẫn còn nhiều bấthợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp trong khi khu vựcnày vẫn rất cần được đầu tư nhiều Bên cạnh đó, việc đầu tư vào công nghiệpmới chỉ chú trọng vào các ngành mũi nhọn, các mặt hàng thay thế nhập khẩu,chưa chú trọng đầu tư vào các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động, chưachú ý khuyến khích kịp thời phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiềuchính sách trợ cấp không đúng đối tượng làm ảnh hưởng xấu đến sự hình thànhthị trường nông thôn, thị trường vùng sâu, vùng xa

Bên cạnh đó, sự tăng trưởng kinh tế giúp xoá đói giảm nghèo trên diện rộng,song việc cải thiện tình trạng của người nghèo lại phụ thuộc vào loại hình tăngtrưởng kinh tế Việc phân phối lợi ích trong các nhóm dân cư bao gồm cả cácnhóm có thu nhập phụ thuộc vào đặc tính của tăng trưởng Phân tích tình hìnhbiến đổi về thu nhập của các nhóm dân cư cho thấy, người giàu hưởng lợi từtăng trưởng kinh tế nhiều hơn và kết quả là làm gia tăng khoảng cách giàunghèo

Ta thấy rằng, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói Những yếu tố đónhư là những cái răng của một cái bánh xích lớn gắn kết chặt chẽ với nhau, ảnhhưởng lẫn nhau, một sự thay đổi nhỏ trong một răng nào đó có ảnh hưởng lớnđến cả bánh xích Người nghèo chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố được ví nhưnhững chiếc răng trong cái bánh răng và họ bị cuốn vào trong vòng quay của

Trang 39

cái bánh răng ấy Để thoát ra được khỏi cái vòng quay bất tận ấy người nghèocần có sự trợ giúp của cả cộng đồng về cả tinh thần và vật chất Chính phủ ViệtNam đã nhận thức được điều này và đã có những sự huy động rất nhiều nguồnlực phục vụ cho công tác xoá đói giảm nghèo Trong các nguồn lực huy độngcho xoá đói giảm nghèo, nguồn vốn ODA có một vai trò quan trọng Vậy thìtrên thực tế chúng ta đã huy động và sử dụng nguồn vốn này như thế nào, sauđây là một số những nhìn nhận về tình hình huy động và sử dụng vốn ODA choxoá đói giảm nghèo trong thời gian gần đây.

II NGUỒN VỐN ODA VÀ CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO

1 Khuôn khổ pháp lý của việc thu hút và sử dụng vốn ODA

Nhận thức rằng ODA là một nguồn lực có ý nghĩa quan trọng từ bên ngoài,Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng công tác quản lý và sử dụng nguồn lực này.Ngay từ hội nghị đầu tiên các nhà tài trợ dành cho Việt Nam (tháng 11 năm1993), Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố quan điểm của mình về vấn đề quản lý

và sử dụng ODA “Điều quan trọng là nguồn vốn từ bên ngoài phải sử dụng cóhiệu quả, Chính phủ nhận trách nhiệm điều phối và sử dụng vay, viện trợ nướcngoài với nhận thức sâu sắc rằng nhân dân Việt Nam là người gánh chịu cái giáphải trả cho sự thất bại nếu nguồn vốn này không được sử dụng có hiệu quả”.Trước năm 1993, việc quản lý và sử dụng ODA được điều tiết bởi từng quyếtđịnh riêng lẻ của Chính phủ đối với từng chương trình, dự án ODA và từng nhàtài trợ cụ thể Để quản lý vay và trả nợ nước ngoài một cách có hệ thống, Chínhphủ ban hành Nghị định số 58/CP ngày 30 – 8 – 1993 về quản lý và trả nợnước ngoài, Nghị định số 20/CP ngày 20 – 4 –1994 về quản lý nguồn vốn hỗtrợ phát triển chính thức – ODA Đây là hai văn bản pháp lý cao nhất củaChính phủ trong lĩnh vực quản lý nợ nước ngoài nói chung và ODA nói riêng.Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và yêu cầu đổi mới quản lý năm 1997 – 1999,Chính phủ ban hành Nghị định 87/1997/NĐ-CP này 5 tháng 8 năm 1997 thaythế nghị định số 20/CP và Nghị định số 90/1998/NĐ-CP ngày 7 tháng 11 năm

1998 thay thế cho Nghị định số 58/CP về quy chế vay và trả nợ nước ngoài, đã

Trang 40

góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phân công rõ trách nhiệm giữacác cơ quan tổng hợp của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và tổ chứckinh tế trong việc quản lý và sử dụng vay nước ngoài Bên cạnh đó, việc hướngdẫn các Nghị định nói trên của Chính phủ, các bộ ngành liên quan đã chủ trìxây dựng và ban hành các quy chế, thông tư hướng dẫn thực hiện như: Thông

tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư số 15/1997/TT-BKH ngày 24 tháng 10 năm

1997 hướng dẫn thực hiện Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triểnchính thức(Ban hành kèm theo Nghị định số 87/CP ngày 5 tháng 8 năm 1997của Chính phủ); Thông tư liên tịch Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước số81/1998/TTLT-BTC-NHNN ngày 17 tháng 06 năm 1998 hướng dẫn quy trình,thủ tục và quản lý việc rút vốn đối với nguồn hỗ trợ phát triển chính thức Bướcđầu đã tạo điều kiện phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan liên quan

để thực hiện tốt một số nhiệm vụ cơ bản như: đàm phán và ký kết các hiệp địnhvay nợ, xây dựng chế độ tài chính…

Để hoàn thiện hơn nữa cơ chế quản lý, ngày 4 – 5 – 2001, Chính phủ đã banhành Nghị định số 17/2001/NĐ-CP về việc ban hành quy chế quản lý và sửdụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức thay thế cho Nghị định 87/CP và banhành kèm theo Nghị định này là thông tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư số06/2001/TT-BKH ngày 20 tháng 9 năm 2001 hướng dẫn thực hiện quy chếquản lý cà sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và thông tư liên tịch

Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Tài chính số 02/2003/TTLT-BKH-BTC ngày 17tháng 3 năm 2003 hướng dẫn lập kế hoạch tài chính đối với các chương trình,

dự án sử dụng nguồn vốn ODA Các văn bản này đã tạo ra một hành lang pháp

lý trong quản lý và sử dụng vay nợ nước ngoài nhằm đảm bảo sự phối hợp chặtchẽ, đồng bộ giữa các cơ quan có liên quan trong việc khai thác vốn vay nướcngoài, nâng cao trách nhiệm của người sử dụng vốn ODA trong việc trả nợ.Đây cũng chính là điều kiện quan trọng nhằm tạo sự tin tưởng đối với cộngđồng các nhà tài trợ quốc tế cho Việt Nam

2 Các nhà tài trợ và mục tiêu ưu tiên ở Việt Nam

Ngày đăng: 20/12/2012, 09:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5: Cam kết ODA qua các năm Năm Vốn cam kết (tỷ USD) Tăng (giảm) so với - Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Bảng 5 Cam kết ODA qua các năm Năm Vốn cam kết (tỷ USD) Tăng (giảm) so với (Trang 43)
Bảng 6: Giá trị vốn ODA theo hiệp định ký kết (1993 – 2002) Năm Vốn ký kết - Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Bảng 6 Giá trị vốn ODA theo hiệp định ký kết (1993 – 2002) Năm Vốn ký kết (Trang 45)
Bảng 7: Vốn ODA đã ký kết thành hiệp định theo nhà tài trợ  (1993 – 6/2002) - Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Bảng 7 Vốn ODA đã ký kết thành hiệp định theo nhà tài trợ (1993 – 6/2002) (Trang 46)
Bảng 9: Cơ cấu giá trị hiệp định ký kết theo ngành năm 2003 - Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Bảng 9 Cơ cấu giá trị hiệp định ký kết theo ngành năm 2003 (Trang 49)
Bảng 11: Giải ngân ODA thời kỳ 1993 - 2003 Năm Vốn ODA cam kết - Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Bảng 11 Giải ngân ODA thời kỳ 1993 - 2003 Năm Vốn ODA cam kết (Trang 50)
Bảng 13: Danh mục chương trình, dự án ODA trong nông nghiệp - Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Bảng 13 Danh mục chương trình, dự án ODA trong nông nghiệp (Trang 54)
Bảng 15: Một số chương trình, dự án ODA trong giáo dục - Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Bảng 15 Một số chương trình, dự án ODA trong giáo dục (Trang 58)
Bảng 17: Nhu cầu chi cho mục tiêu liên quan đến xoá đói giảm nghèo - Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Bảng 17 Nhu cầu chi cho mục tiêu liên quan đến xoá đói giảm nghèo (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w