Đề tài : “Nghiên cứu sự phát sinh gây hại của sâu miệng nhai thuộc Bộ cánh vẩy ( Lepidoptera) hại đậu rau vụ Xuõn Hố 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội” 1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.2.1 Mục đích MỤC LỤC Trang MỤC LỤC i DANH MỤC CÁC BẢNG iv DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ v 1. MỞ ĐẦU 1 1.1. Đặt vấn đề 1 1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài 4 1.2.1 Mục đích 4 1.2.2. Yêu cầu 4 1.2.3. ý nghĩa của đề tài 4 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5 2.1.Cơ sở khoa học của đề tài 5 2.2. Nghiên cứu ngoài nước 5 2.2.1. Những nghiên cứu về sâu hại đậu rau. 5 2.2.2. Những nghiên cứu về thiên địch của sâu hại đậu rau 6 2.2.3. Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ 7 2.3. Nghiên cứu trong nước 8 2.3.1. Những nghiên cứu về sâu hại đậu rau 8 2.3.2. Những nghiên cứu về thiên địch của sâu hại đậu rau 10 2.3.3. Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ 11 2.3.4. Những nghiên cứu về sâu đục quả đậu 13 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15 3.1. Vật liệu nghiên cứu 15 3.2. Đối tượng nghiên cứu 15 3.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15 3.4. Dụng cụ nghiên cứu 15 3.5. Nội dung nghiên cứu 16 3.6. Phương pháp nghiên cứu 16 3.6.1. Điều tra thành phần sâu hại đậu rau và thiên địch của chúng 16 3.6.2. Phương pháp nghiên cứu đánh giá mức độ gây hại của Maruca vitrata: 17 3.6.3. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sâu đục quả Maruca vitrata Fabr. 17 3.7. Khảo sát hiệu lực của thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng 18 3.8. Các chỉ tiêu theo dõi 19 3.9. Hiệu lực của thuốc BVTV đến sâu đục quả đậu trong phòng 21 3.10. Tính toán , xử lý số liệu 22 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23 4.1. Thành phần sâu hại đậu rau vụ xuân hè 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội. 23 4.2. Thành phần và mức độ phổ biến của thiên địch trên đậu rau vụ Xuân Hè 2011 tại Gia Lâm , Hà Nội 28 4.3.Một số nghiên cứu về sâu đục quả Maruca vitrata Fabr. 32 4.3.1. Phân bố và phổ kí chủ của Maruca vitrata Fabr. 32 4.3.2. Đặc điểm hình thái của sâu đục quả Maruca vitrata Fabr. 34 4.3.3. Một số đặc điểm sinh học của sâu đục quả Maruca vitrata Fabr. 36 4.3.4. Tỷ lệ giới tính của sâu đục quả M. vitrata trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng vụ Xuân Hè 2011 41 4.4. Diễn biến mật độ của sâu đục quả đậu (Maruca vitrata Fabr.) và một số loài sâu hại chính 42 4.4.1. Diễn biến mật độ và tỷ lệ hại của sâu đục quả M.vitrata trên đậu đũa trà sớm và trà chính vụ vụ Xuân hè 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội. 42 4.5. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với sâu hại sâu đục quả (Maruca vitrata Fabr.) 49 4.5.1. Ảnh hưởng của thuốc BVTV trong việc trừ sâu đục quả (Maruca vitrata Fabr. ) đậu đũa vụ Xuân Hè 2011 ở ngoài đồng ruộng Gia lâm, Hà Nội. 49 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54 5.1. KẾT LUẬN 54 5.2. ĐỀ NGHỊ 55 Điều tra thu thập thành phần sâu hại chính hại đậu rau và thiên địch của chúng vụ Xuân Hè 2011 tại vùng Gia Lâm, Hà Nội. Nghiờn cứu sự phát sinh gây hại của sâu hại chính, từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ một cách hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế và môi trường, góp phần thúc đẩy sản xuất đậu rau an toàn vùng Gia Lâm, Hà Nội.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-CHU THANH KHIẾT
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT SINH GÂY HẠI CỦA SÂU MIỆNG NHAI THUỘC BỘ CÁNH VẨY
(LEPIDOPTERA) HẠI ĐẬU RAU VỤ XUÂN HÈ 2011
TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI VÀ PHỤ CẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 60 62 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN ĐÌNH CHIẾN
Trang 2HÀ NỘI - 2011
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ v
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 4
1.2.1 Mục đích 4
1.2.2 Yêu cầu 4
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài 4
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.2 Nghiờn cứu ngoài nước 5
2.2.1 Những nghiên cứu về sâu hại đậu rau 5
2.2.2 Những nghiên cứu về thiên địch của sâu hại đậu rau 6
2.2.3 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ 7
2.3 Nghiờn cứu trong nước 8
2.3.1 Những nghiên cứu về sâu hại đậu rau 8
2.3.2 Những nghiên cứu về thiên địch của sâu hại đậu rau 10
2.3.3 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ 11
2.3.4 Những nghiên cứu về sâu đục quả đậu 13
3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Vật liệu nghiên cứu 15
3.2 Đối tượng nghiên cứu 15
3.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
Trang 43.4 Dụng cụ nghiên cứu 15
3.5 Nội dung nghiên cứu 16
3.6 Phương pháp nghiên cứu 16
3.6.1 Điều tra thành phần sâu hại đậu rau và thiên địch của chúng 16
3.6.2 Phương pháp nghiên cứu đánh giá mức độ gây hại của Maruca vitrata: 17
3.6.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sâu đục quả Maruca vitrata Fabr 17
3.7 Khảo sát hiệu lực của thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng 18
3.8 Các chỉ tiêu theo dõi 19
3.9 Hiệu lực của thuốc BVTV đến sâu đục quả đậu trong phòng 21
3.10 Tính toán , xử lý số liệu 22
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Thành phần sâu hại đậu rau vụ xuõn hố 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội 23
4.2 Thành phần và mức độ phổ biến của thiên địch trên đậu rau vụ Xuõn Hố 2011 tại Gia Lâm , Hà Nội 28
4.3.Một số nghiên cứu về sâu đục quả Maruca vitrata Fabr 32
4.3.1 Phân bố và phổ kí chủ của Maruca vitrata Fabr 32
4.3.2 Đặc điểm hình thái của sâu đục quả Maruca vitrata Fabr 34
4.3.3 Một số đặc điểm sinh học của sâu đục quả Maruca vitrata Fabr 36
4.3.4 Tỷ lệ giới tính của sâu đục quả M vitrata trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng vụ Xuõn Hố 2011 41
4.4 Diễn biến mật độ của sâu đục quả đậu (Maruca vitrata Fabr.) và một số loài sâu hại chính 42
Trang 54.4.1 Diễn biến mật độ và tỷ lệ hại của sâu đục quả M.vitrata trên đậu
đũa trà sớm và trà chính vụ vụ Xuõn hố 2011 tại Gia Lâm, Hà
Nội 42
4.5 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với sâu hại sâu đục quả (Maruca vitrata Fabr.) 49
4.5.1 Ảnh hưởng của thuốc BVTV trong việc trừ sâu đục quả (Maruca vitrata Fabr ) đậu đũa vụ Xuõn Hố 2011 ở ngoài đồng ruộng Gia lâm, Hà Nội 49
5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 KẾT LUẬN 53
5.2 ĐỀ NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Thành phần sâu hại trên đậu rau vụ Xuõn Hố 2011 tại Gia Lâm, Hà
Nội 24
Bảng 4.2 Thành phần và mức độ phổ biến của thiên địch trên đậu rau 29
Bảng 4.3 Tỷ lệ các loài côn trùng bắt mồi trên đậu rau 31
trong vụ xuõn hè 2011 tại Gia Lâm – Hà Nội 31
Bảng 4.4 Cỏc cõy kớ chủ họ đậu của sâu đục quả Maruca vitrata Fabr vụ Xuõn Hè 2011 tại Gia Lâm , Hà Nội 33
Bảng 4.5 Kích thước các pha phát dục của sâu đục quả M vitrata 35
Bảng 4.6 Thời gian các phát dục của sâu đục quả M vitrata 37
Bảng 4.7 Vị trí hoá nhộng của sâu đục quả M vitrata 39
Bảng 4.8 Tỷ lệ giới tính của sâu đục quả M vitrata trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng vụ Xuõn hố 2011 41
Bảng 4.9 Diễn biến mật độ và tỷ lệ hại của sâu đục quả M vitrata trên đậu đũa trà sớm và trà chính vụ vụ Xuõn hố 2011 tại Gia Lâm , Hà Nội 43
Bảng 4.10 Diễn biến mật độ và tỷ lệ hại của sâu đục quả M vitrata trên một số giống đậu đũa vụ Xuõn hố 2011 tại Gia Lâm , Hà Nội 46
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến tỷ lệ quả đậu đũa bị hại bởi sâu đục quả Maruca .48
Bảng 4.12 Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV trừ sâu đục quả Maruca vitrata Fabr vụ Xuõn hố 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội 50
Bảng 4.13 Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV trừ sâu đục quả Maruca vitrata Fabr trong phòng thí nghiệm 51
Trang 7DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Trang
Hình 4.1 : Đồ thị diễn biến mật độ sâu đục quả M.vitrata hại đậu đũa trờn cỏc trà sớm và trà chính vụ vụ Xuõn hố 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội 44Hình 4.2 Diễn biến sâu đục quả M vitrata hại đậu đũa trên giống đậu đũa địa phương quả ngắn và Trung Quốc quả dài vụ Xuõn Hố 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội 47
Trang 81 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Đậu rau thuộc họ đậu (Fabales), có rất nhiều loài, chủ yếu là cõy thân thảo phân bố khắp nơi trên thế giới.Trong số hàng chục nghìn loài cây họ đậu
đã biết chỉ có khoảng vài chục loài phổ biến làm thức ăn cho con người
Ở nước ta, nghề trồng rau ra đời rất sớm trước cả nghề trồng lúa nước Rau có nhiều loại : Rau ăn lá, rau ăn thân củ và rau ăn quả Trong rau ăn quả thì đậu rau là nhóm rau cao cấp có hàm lượng protit là 5-6% và chứa một số axit amin, vitamin rất quan trọng ( như methionine, cystine, lysine, vitamin A,C,B1…) Chính vì vậy, nhóm đậu rau đang được quan tâm phát triển ( Mai Thị Phương Anh và cộng sự, 1996)
Những loại đậu rau trồng phổ biến ở nước ta là: đậu đũa, đậu trạch, đậu
bở, đậu cove, đậu ván, đậu Hà Lan… và mới gần đây xuất hiện thêm giống đậu tương rau Các loài đậu rau này chủ yếu thuộc 2 họ : Họ đậu
Leguminoceae và họ cánh bướm Papillionaceae Căn cứ vào chiều cao cây
đậu rau chia làm 2 nhóm : Đậu lùn Phaseolus Vulgaris var humilis Alef và đậu leo Phaseolus Vulgaris L Năng suất đậu rau còn thấp chưa ổn định
Đậu rau còn là nguồn nguyên liệu của công nghiệp chế biến, nguyên liệu của công nghiệp đồ hộp thực phẩm Ngoài ra trồng đậu rau có ý nghĩa vô cùng quan trọng khác là luân canh cõy trồng, cải tạo đất và cung cấp rau thời
kỳ trái vụ
Cõy họ đậu là cây có ưu thế lớn về mặt trồng trọt Đây là loại cây trồng ngắn ngày, thích hợp với trồng xen, trồng gối và cho năng suất đáng kể Một đặc điểm khác biệt của cây họ đậu là khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần
để biến nitơ tự do của không khí thành nitơ cây có thể sử dụng được vì vậy cây họ đậu được xem là nguồn đạm sinh học quớ giỏ và rẻ tiền
Trang 9Trong hàng loạt các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng đậu
đỗ như điều kiện khí hậu, kỹ thuật trồng trọt, sâu bệnh… Yếu tố chính hạn chế năng suất đậu rau là sâu hại, điển hình là một số loại sâu hại chính như :
sâu đục quả Maruca sp., ruồi đục lá Liriomyza sp… Theo thống kê ở nhiều
nước trồng đậu đỗ, thiệt hại do sâu bệnh gây ra có thể từ 53% - 98% nếu không tiến hành các biện pháp phòng trừ
Trong số đó, loài gây hại nghiêm trọng nhất là sâu đục quả Maruca
vitrata Fabr., tiếp đến là sâu khoang Spodoptera litura ăn gặm phiến lá và
sõu xỏm Agrotis ypsilon gặm cắn cây con
Sâu đục quả Maruca vitrata Fabr gây hại trên cả phần lá, nụ hoa và
quả, dẫn đến làm giảm năng suất từ 10% - 70% Tỷ lệ quả đậu rau ( đậu đũa, đậu trạch, đậu cove ) bị hại bởi sâu đục quả Maruca testulalis thường dao động từ 11.5% - 36.7% có trường hợp tới 89% ( Hoàng Anh Cung, 1996) Một khó khăn lớn đối với công tác phòng trừ loài sâu hại này là chúng thường đục sâu vào trong các bộ phận của cây và ẩn ấp trong đó, đặc biệt là
ở nụ và quả
Để bảo vệ cây đậu rau, nông dân đó dựng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó chủ yếu dựa vào biện pháp hóa học Nhưng một trong 4 chỉ tiêu cơ bản của rau an toàn là không có hoặc có dư lượng thuốc hóa học thấp hơn mức cho phép Muốn vậy, phải sử dụng thuốc hóa học hợp lý trên rau nói chung và trên đậu rau nói riêng Cơ sở quan trọng là những hiểu biết về thành phần sâu hại, đặc điểm sinh học, quy luật phát sinh gây hại của những sâu hại chính và ý nghĩa của các biện pháp phi hóa học trong phòng chống sâu hại trên đậu rau Những vấn đề nghiên cứu cũn ớt, chưa phổ cập và chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác phòng chống sâu hại đậu rau
Huyện Gia Lâm là một huyện ngoại thành thủ đô Hà Nội với nghề trồng rau đó cú từ rất lâu đời, đã và đang đem lại thu nhập đáng kể cho hàng
Trang 10ngàn hộ nông dân nhưng cũng không tránh khỏi tình trạng nêu trên Để khắc phục điều đó các quy trình sản xuất rau an toàn đã và đang được triển khai ở nhiều vùng trồng rau của huyện Gia Lâm như Đặng Xá, Văn Đức, Lệ Chi, Đông Dư…
Huyện Gia Lâm đang chuyển dịch mạnh cơ cấu cây trồng, giảm diện tích cây lúa, chuyển từ cây trồng có giá trị kinh tế thấp sang cây trồng có giá trị kinh tế cao
Trong các công thức luân canh thì công thức luân canh các loại rau có hiệu quả kinh tế cao nhất Ở huyện Gia Lâm với công thức luân canh Cải bắp (thu đông) – đậu trạch (đụng xuõn) – dưa chuột (xuõn hố) hoặc cải bắp (thu đông) – cà chua (đụng xuõn) – đậu đũa (xuõn hố) cho thu nhập cao Cây đậu rau có vị trí quan trọng trong cơ cấu cây rau, có giá trị thu nhập cao và cải tạo đất tốt Tuy nhiên, diện tích cây đậu rau còn thấp, chưa phát huy được tiềm năng và lợi thế, tiêu thụ khó khăn, giá trị thu nhập không ổn định Cản trở lớn nhất là nông dân sử dụng nhiều lần thuốc trong một vụ để trừ sâu đục quả, ruồi đục lá, bọ trĩ, rệp…, không đảm bảo thời gian cách ly Đặc biệt, đậu đỗ được người sử dụng ưa chuộng, nhưng do vấn đề dư lượng thuốc BVTV trong sản phẩm dẫn đến tình trạng diện tích cây đậu đỗ có chiều hướng giảm
Cho tới nay, ở huyện Gia Lâm hầu như rất ít công trình nghiên cứu về sâu hại đậu rau Vì vậy, việc nghiên cứu sâu hại đậu rau và biện pháp phòng trừ để giúp cho công tác dự tính dự báo, chỉ đạo phòng trừ sâu hại, hướng dẫn tập huấn nông dân trồng đậu rau an toàn và năng suất cao là vấn đề cần được quan tâm
Xuất phát từ thực tế đó, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Đình
Chiến, chỳng tụi đã tiến hành nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu sự phát sinh gây hại của sâu miệng nhai thuộc Bộ cánh vẩy ( Lepidoptera) hại đậu rau
vụ Xuõn Hố 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội”
Trang 111.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Điều tra thu thập thành phần sâu hại chính hại đậu rau và thiên địch của chúng vụ Xuân Hè 2011 tại vùng Gia Lâm, Hà Nội Nghiờn cứu sự phát sinh gây hại của sâu hại chính, từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ một cách hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế và môi trường, góp phần thúc đẩy sản xuất đậu rau an toàn vùng Gia Lâm, Hà Nội
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học cơ bản của sâu đục quả đậu ( Maruca
vitrata Fabr.).
- Khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu đục quả đậu ( Maruca vitrata Fabr.)
hại đậu rau của một số loại thuốc bảo vệ thực vật ( hóa học và sinh học ) và đề xuất biện pháp phòng trừ
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học của đề tài: nghiên cứu về đặc điểm sinh học và thiên địch của sâu hại đậu rau và đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại đậu rau đạt hiệu quả và đảm bảo sản phẩm an toàn
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Hiểu thêm về hiện trạng sâu hại đậu rau tại Gia Lâm, Hà nội
Hiểu thêm về việc sử dụng thuốc BVTV trong việc phòng trừ sâu hại đậu rau vùng Gia lâm, Hà nội
Trang 122 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của nước ta đang đà tăng trưởng
và phát triển, nhu cầu về rau, hoa quả tươi trong bữa ăn hàng ngày và hàng hóa xuất khẩu ngày càng tăng lên Trong đó đậu rau giữ vị trí hàng đầu trong các chủng loại rau có sản phẩm chế biến xuất khẩu và khối lượng tăng dần hàng năm Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng nên trong sản xuất có nhiều giống rau quả có năng suất và chất lượng, không ngừng tăng diện tích
và hệ số quay vòng của đất, đầu tư thâm canh cao nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích nờn đó tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh, đặc biệt là các loài sâu đục quả đậu phát triển với mật độ cao vì vậy việc phòng chống chúng trở nên rất khó khăn
So với các loài dịch hại tương đối nguy hiểm như sâu xanh, sâu tơ, sâu khoang, rệp muội, bọ trĩ, nhện… hại rau thỡ sõu đục quả được coi là nguy hiểm hơn bởi chỳng cú phổ ký chủ rộng, mật độ quần thể lớn, sinh sản nhanh, đặc biệt là tính chống thuốc của loài dịch hại này rất lớn nên việc phòng trừ thuốc hóa học thường không hiệu quả cao
Để góp phần cho công tác Bảo vệ thực vật trờn cõy rau đặc biệt là cây đậu rau đạt hiệu quả cao hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về thành phần
sâu hại trên đậu rau, diễn biến mật độ sâu đục quả Maruca vitrata Fabr trong quá trình sinh trưởng của cây, đặc tính sinh học của sâu đục quả Maruca
vitrata Fabr và thực nghiệm một số biện pháp phòng trừ để đề xuất biện pháp
phòng chống hiệu quả phù hợp
2.2 Nghiờn cứu ngoài nước
2.2.1 Những nghiên cứu về sâu hại đậu rau.
Nhóm đậu rau là những cây trồng quan trọng ở nhiều nước trên thế giới, có tác dụng cung cấp một lượng thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cho
Trang 13con người, được coi là nguồn cung cấp protein cho các quốc gia đang phát triển (Gethi và Khaemba, 1985; Alghali, 1991) và có tác dụng cải tạo đất rất tốt cho cây trồng như lỳa, ngụ… Tuy nhiên việc trồng cây đậu rau cũng gặp phải không ít khó khăn, trong đó phải kể đến sự có mặt và gây hại của nhiều loài dịch hại (chủ yếu là côn trùng gây hại).
Theo Bohec J Le (1982), ở Phỏp đó phát hiện được 20 loài sâu hại đậu cove Theo kết quả điều tra của các nhà khoa học ở vùng Đông Nam Á và Nam Á cho thấy trên đậu đũa có 10 loài sâu hại chính Theo Waterhouse (1998), trên đậu cove trồng vùng Đông Nam Á đã phát hiện được 13 loài sâu hại thuộc 3 bộ côn trùng Cũng theo ông ở tài liệu này, ở vùng Đông Nam Á
đã ghi nhận có 30 loài sâu hại trên đậu đũa thuộc 6 bộ côn trùng và số lượng này ở từng nước như sau : Campuchia và Myanma mỗi nước có 11 loài, Indonexia 15 loài, Brunei 5 loài ( ít nhất ), Malaysia 26 loài, Lào 10 loài, Singapore 17 loài và Thái Lan 20 loài Ở Ghana đã xác định được 7 loài sâu hại chớnh trờn đậu đũa trong tổng số hơn 150 loài
Tại Malaysia đã xác định được có 11 loài sâu hại chính, trong đó có 6
loài quan trọng là: Heliothis armigera, Maruca vitrata Fabr., Ophiomyia
phaseoh, Chromatomyia horticola (Gour), Anomis flava (Fabr) và Callosubruchus chinensis (L.); gây hại phổ biến và quan trọng trên nhiều loại
rau, trong đó cú nhúm cõy đậu ăn quả Theo Spencer (1973), hiện nay có nhiều thực phẩm ( kể cả đậu đũa, đậu trạch, đậu cove ) bị ruồi đục lá hại rất
nặng, phần lớn các loài ruồi đục lá thuộc giống Liriomyza, Phytomyza,
Chroniatomyia ( Diptera : Agromyzidae ).
2.2.2 Những nghiên cứu về thiên địch của sâu hại đậu rau
Cho đến nay trên thế giới đã phát hiện được hơn 40 loài ký sinh trên những loài Liriomyza quan trọng (Lasalle,1999) Ở Indonesia đã phát hiện được 10 loài ký sinh trên Liriomyza spp, ở Malaysia là 9 loài Tỷ lệ ký sinh
Trang 14chung đối với ruồi đục lỏ trờn đậu đũa và đậu cove ở Indonesia rất cao, đạt tương ứng là 35,3 -80% và 51,7 -91,1% Tỷ lệ này ở Malaysia đã quan sát được thaaos hơn nhiều và cao lắm cũng chỉ đạt 41% ( Rauf, 2001; Sivapragasam và CTV, 1999) Có khá nhiều công bố về thành phần thiên địch và vai trò của chúng trong hạn chề số lượng sâu đục quả đậu Đến nay
đã phát hiện được 57 loài thiên địch trờn sõu đục quả đậu Chúng gồm 33 loài
ký sinh, 19 loài bắt mồi ăn thịt và 5 loài vật gây bệnh (Sharma,1998) Một số
ký sinh trứng (Anagrut sp., Aphelinoidea sp.) cũng góp phần hạn chế số lượng rầy xanh ở Brazil (Olivera và CTV, 1982)
2.2.3 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ
Trong công tác phòng chống sâu đục quả đậu, thành phần các loài kẻ thù
tự nhiên của loài sâu hại này cũng được nghiên cứu từ lâu Lateef và Reedy (1984) đã thu thập được 16 loài kí sinh sâu đục quả đậu ở Icrisat trong đó có
14 loài ong kí sinh thuộc bộ Hymenoptera, 2 loài còn lại thuộc bộ Diptera
Đối với các thí nghiệm trong phòng đã cho thấy loài Trichogrammatoisea sp
đó kí sinh trên hơn 70% số lượng trứng thí nghiệm Các kết quả nghiên cứu
cũng cho thấy 3 loài ong kí sinh : Dohchogenidea sp., Phanerotoma
leucobasis Kriechbaumer và Braunsia knegeri Enderlein (Hymenoptera :
Braconidae) là 3 loài có khả năng kí sinh cao tiêu biểu cho tập đoàn kí sinh
trờn sõu non sâu đục quả M vitrata Fabr.
Các loại thuốc hóa học đã sử dụng để trừ sâu đục quả thuộc nhiều nhóm : Chlo hữu cơ, lân hưu cơ, cacbamat, pyrethroit (Amatoibi, 1995) Ở Trung Quốc , vào các năm 1978 – 1979, người ta đã sử dụng thuốc ĐVP để phun cho cây đậu với mức 2-3 lần/ 1 vụ khi mật độ sâu non và trứng ở trên hoa lên đến 40%, đã thu được kết quả tốt
Tóm lại, trong công tác phòng trừ sâu hại nói chung và sâu hại đậu rau
Trang 15cao nhất, mà cần phải có sự chủ động phối hợp các biện pháp đó dựa trên sự hiểu biết về mối quan hệ và tác động qua lại giữa 3 yếu tố : Cây trồng – sâu hại – môi trường mới đem lại kết quả, việc áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng Ở Mỹ, kết quả thu được qua quá trình thử nghiệm chương trình phòng trừ tổng hợp trờn cõy đậu đỗ là rất khả quan Điều này đã mang lại một phương thức phòng trừ sâu đục quả đậu đỗ một cách tích cực và chủ động.
2.3 Nghiờn cứu trong nước
2.3.1 Những nghiên cứu về sâu hại đậu rau
Ở Việt Nam, cây đậu rau giữ một vai trò nhất định trong hệ thống luân canh cây trồng và nó càng có ý nghĩa hơn đối với cỏc vựng chyờn canh cây rau màu Do nhu cầu sử dụng rau xanh của người Việt Nam ngày càng tăng cùng với sự phát triển của xã hội, cây đậu rau có ý nghĩa trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng rau các thời kỳ rau giáp vụ Tuy nhiên việc đảm bảo chất lượng rau và an toàn cho người sử dụng vẫn chưa được quan tâm đúng mực
Ở các khu vực trồng đậu đỗ chuyên canh thì vấn đề năng suất được đặt lên hàng đầu đối với bà con nông dân Việc sử dụng thuốc trừ sâu vẫn tỏ ra hết sức tùy tiện Điều này chứng tỏ rằng những nghiên cứu về sâu hại đậu rau nói chung và sâu đục quả đậu nói riêng ở Việt Nam chưa được quan tâm nhiều Trong danh mục “ Côn trùng hại đậu đỗ ” theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng năm 1967 – 1968 đã ghi nhận có 39 loài sâu hại, trong đó có 5 loài
thu thập được trên đậu đũa và đậu cove, đó là bọ xít ve (Coptosoma
subaencus (Westwood), bọ xít xanh vai vàng (Nezara torquata (Fabricius),
ruồi đục thân (Ophiomiya sp.), bọ xít xanh cánh gụ (Plautia crossota (Dallas)
và sâu đo xanh (Plusia eriosoma (Doubleday).
Hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở mức điều tra về sự phân bố và phổ kí chủ của loài sâu hại này cũn cỏc kết quả nghiên cứu về
Trang 16đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng được Nguyễn Quý Dương công bố vào năm 1997.
Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng của Viện BVTV năm
1967 – 1968, loài sâu hại này có mặt ở hầu hết các tỉnh trong cả nước như: Bắc Thái, Hà Giang, Hà Nội, Hà Tây, Lào Cai, Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Bỡnh,
… Ngoài sự gây hại trờn cỏc cây trồng thuộc họ đậu như lạc, đậu tương, đậu
đen, đậu xanh, điền thanh, sâu đục quả đậu M testulahs còn xuất hiện trên một
số cây trồng khác như lúa, khoai lang, cao lương, vụng, dõu, chố, cao su, rau cải,
bí ngô, cà pháo, cam, quit, mơ, mận, bạc hà,… Trên cay đậu rau, một số loài sâu hại chính cũng đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu
Theo Hoàng Anh Cung và cộng sự (1996), khi nghiên cứu sử dụng thuốc hợp lý trên rau đã ghi nhận được 5 loài sâu hại đậu ăn quả, đó là : Sõu
xỏm (Agrotis ypsilon Rott), rệp đậu (Aphis laburni Kalt), sâu đục quả đậu (Maruca vitrata Geyer), bọ phấn ( Bemisia myricae ) và sâu khoang (Spodoptera litura Fab.).
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhung (2000), khi nghiên cứu
về sâu hại trờn cõy đậu rau, đã xác định có 39 loài sâu hại ở ngoại thành Hà Nội và phụ cận, trong đó phổ biến một số loài quan trọng như : Sâu đục quả
(Maruca vitrata Fabr.), ruồi đục lá đậu (Liriomyza sativae Blanchard), rệp đậu màu đen (Aphis craccivora) Nhện đỏ 2 chấm (Tetranychus cinnabarinus Boisd), nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus Bank), sâu khoang (Spodoptera litura Fab.), sâu cuốn lá (Hedylepta indicate Fabricius).
Trong vụ xuân 2004 tại Gia Lâm – Hà Nội, Đặng Thi Dung (2004), đã ghi nhận 41 loài sâu hại trên đậu rau, trong đó có 4 loài sâu hại chính là sâu
cuốn lá đậu tương ( Hedylepta indicate (Fabricius), sâu đục quả ( Maruca
vitrata Fabr.), ruồi đục lá đậu ( Liriomyza sativae ( Blanchard), sâu khoang
Trang 172.3.2 Những nghiên cứu về thiên địch của sâu hại đậu rau
Trước năm 2000, đã có nhiều công bố về thiên địch của sâu hại trên những cây trồng chính ở Việt Nam, tuy nhiên không có công bố nào chuyên
về thiên địch đậu rau Từ năm 2000 đến nay, đó cú một số tac sgiar nghiên cứu về thiên địch của sâu hại đậu rau và thu được một số kết quả
Nguyễn Thị Nhung và cộng sự (2000), khi nghiên cứu sâu hại đậu rau ở vùng rau ngoại thành Hà Nội và phụ cận đã đưa ra kết luận, thành phần và mật độ thiên địch trên đậu trạch, đậu đũa, đậu cove là tương tự nhau và rất nghèo nàn, qua điều tra ghi nhận được 3 loài bọ rùa (Bọ rùa đỏ, bọ rùa chữ nhân, bọ rùa 6 chấm), một loài ruồi ăn rệp, và vài loài nhện lớn, bọ cánh cứng cánh ngắn, bọ ba khoang, chúng tồn tại trên đồng ruộng với mật độ thấp (< 1 con /m2 ) còn vào tháng 6, 7, 10, 11 mật độ cao hơn 3 con / m2
Trong thời gian 1996 – 2001, Phạm Văn Lầm và cộng sự (2002) thu thập được 40 loài thiên địch của sâu hại trờn nhóm cõy đậu rau, nhưng mới xác định được tên khoa học của 30 loài ( trong 30 loài này có 13 loài thuộc bộ hai cánh, bộ nhện có 3 loài, và 2 loài virus gây bệnh cho sâu hại) Trong số các loài thu thập và xác định được tên, chỉ có 4 loài bắt gặp ở mức độ trung bình
là bọ rùa 6 chấm, bọ rùa đỏ và 2 loài ruồi ăn rệp Phần lớn thiên địch xác định được đều là các loài côn trùng bắt mồi Tuy nhiên mức độ phổ biến không cao, họ bọ rùa ghi nhận 8 loài, nhưng mật độ các loài bọ rùa là thấp, vì vậy chưa thấy rõ vai trò hoạt động hữu ích của các loài côn trùng bắt mồi này, nguyên nhân hiện tượng này có lẽ là do việc dùng thuốc húa học chưa hợp lý.Tác giả Phạm Thị Vượng (1996) cho biết, tại Nghệ An, Hà Nội, Hà Bắc
ký sinh sâu non sâu khoang, ở cả 3 địa phương tỷ lệ sâu non sâu khoang bị ký sinh đều rất thấp, tỷ lệ ký sinh cao nhất vào tháng 5/1994 là 4,91% (tại Hà Nội), 4,39% (tại Nghệ An) và 2,98% (tại Hà Bắc)
Trang 18Theo Đặng Thị Dung (2004), khi nghiên cứu thành phần côn trùng ký sinh của 4 loài sâu hại chớnh trờn đậu rau (sâu cuốn lỏ, sõu đục quả, sâu khoang, ruồi đục lỏ) đó phát hiện ra 14 loài côn trùng ký sinh, trong đó 12 loài thuộc bộ cánh màng, 2 loài thuộc bộ hai cánh Tỷ lệ sâu hại bị ký sinh là khá cao, sâu cuốn lá bị ký sinh từ 8,6% - 27%, sâu đục quả 4% - 6,8%, ruồi đục lá 32,2% - 46,1%.
Cùng với nhóm côn trùng bắt mồi sâu hại đậu rau là nhóm nhện lớn bắt mồi Chỳng cú vai trò lớn trong việc hạn chế số lượng của nhiều loài sâu hại trên đậu đỗ Tuy nhiên, những nghiên cứu về nhứng nhúm thiờn địch này trên đậu đũa cũn quỏ ớt mới chỉ được công bố trong những năm gần đây
Trần Đình Chiến (2002) đã cho biết trên đậu tương có khoảng hơn chục loài nhện bắt mồi thuộc 8 họ Trong đó họ có số loài nhiều nhất là họ Salticidae (4 loài), họ Tetragnathidae ( 3 loài ), Họ Aranneidae ( 3 loài ), họ Oxyopidae (2 loài), họ Lycosidae (2 loài) và họ nhện càng cua Thomisidae (1 loài)
Có thể nói lực lượng kẻ thù tự nhiên của sâu hại đậu đũa trên đồng ruộng
ở nước ta vô cùng phong phú, nú đó góp phần không nhỏ trong việc hạn chế
sự phát sinh gây hại của sâu hại đậu đũa Tuy vậy, ở nước ta để phũng sõu hại đậu rau, biện pháp hóa học cũng đã được áp dụng rộng rãi và phổ biến
2.3.3 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ
Ở cỏc vựng trồng đậu đỗ của nước ta việc sử dụng thuốc hóa học được xem như là công cụ chủ yếu để phòng trừ sâu đục quả đậu Rất nhiều loại thuốc được khuyến caos ử dụng trên đậu đỗ như: Cidim 50 LD, Dipterex 80WP, Sherpa 25EC…
Hoàng Anh Cung và ctv (1996) đã khảo sát 8 loại thuốc đối với sâu đục quả đậu đỗ và đã chọn ra 2 loại thuốc có hiệu lực cáo nhất đối với sâu này là
Trang 19các loại thuộc để phòng trừ sâu đục quả đậu đỗ như : Sagomycin 20EC+ Sát trùng dan 95BTN, Cymerin 10EC + Nettoxin 95WP, Rigan + Sec Sài Gũn… với liều lượng 30ml hỗn hợp thuốc + 10 lít nước phun cho 360 m2.
Trong vụ xuân vào thời điểm trước khi cây ra hoa được phun với thời gian 5 – 7 ngày 1 lần, tổng số lần phun khoảng 8 – 10 lần trong vụ xuõn hố
số lần phun nhiều hơn, mật độ phun cũng dày hơn 7 – 10 lần vào thời kỳ ra hoa, 3 – 5 ngày ở giai đoạn quả Việc phun thuốc như vậy không đảm bảo thời gian cách lý và không an toàn cho người tiêu dùng
Nguyễn Thị Nhung và ctv (1996) đã tiến hành khảo sát các loại thuốc có hiệu lực trừ sâu cao và ít độc hại để sử dụng trong sản xuất rau Kết quả thu được là trờn cõy đậu đũa cho thấy có 2 loại thuốc được khuyến cáo nên sử dụng là Sherpa 25EC và Sumicidin 20EC 0,1% phun 3 lần / vụ khoảng cách 5 ngày phun 1 lần sau khi hình thành quả
Việc sử dụng thuốc hóa học một cách quá mức đã làm cho thành phần
ký sinh nhộng trong sinh quần đậu rau nghèo hơn so với sinh quần đồng lúa, đồng thời gây nên sự xuất hiện chậm trễ của ký sinh và bắt mồi trong sinh quần ruộng đậu ( Bùi Tuấn Việt, 1993)
Theo Trần Đình Chiến (2002) trong một vụ đậu tương phun 4 lần thuốc trừ sâu sẽ ảnh hưởng đến mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi, ảnh hưởng lớn
đến mật độ bọ rùa Menochilus sexmaculatus Fabr., 1 lần phun thuốc đã ảnh hưởng tới mật độ quần thể bọ chõn chạy Chlaenius bioculatus.
Hiện nay một số nước trồng đậu trên thế giới người ta áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) Ở Mỹ đã áp dụng tổng hợp các biện pháp như luân canh cây trồng, sử dụng các chế phẩm sinh học, dùng thuốc hóa học ở liều lượng thấp để bảo vệ thiên địch và ký sinh tự nhiên
Trong hệ thống phòng trừ tổng hợp thì biện pháp đấu tranh sinh học giữ vai trò chủ đạo và có tầm quan trọng nhiều mặt Sử dụng các loài kẻ thù tự
Trang 20nhiên không những điều hòa được mật độ chủng quần sâu hại, giữ được cân bằng sinh vật trong tự nhiên mà còn giảm ô nhiễm môi trường và bảo vệ được sức khỏe cộng đồng.
2.3.4 Những nghiên cứu về sâu đục quả đậu
Theo Phạm Văn Lầm và cộng sự (1999) cho thấy sâu đục quả M.vitrata
bị một số ong kí sinh ( chưa giám định ) khống chế nhưng tỷ lệ kí sinh thấp, chỉ từ 4,3% - 14,7% Nguyễn Thị Nhung (2001) cho rằng, khả năng khống chế số lượng sâu đục quả của thiên địch không cao, thành phần kí sinh trờn sõu đục quả đậu quá nghèo nàn, chưa phát hiện được kí sinh trứng và nhộng, mới phát hiện được 2 loài kí sinh sâu non, tỷ lệ kí sinh nói chung rất thấp Ở
vụ đậu đũa xuõn hố tỷ lệ kí sinh cao hơn ( đạt cao nhất 12,8%) Nguyễn Quý Dương (1997) đã thu được 2 loài ong kí sinh sâu non thuộc họ
Ichneumonidae nhưng mức độ xuất hiện và kí sinh thấp Ở Việt Nam, các
nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu hại đậu rau còn rất hạn chế, các tài liệu đề cập tới một số biện pháp phòng trừ sâu hại đậu rau như biện pháp canh tác, biện pháp giống chống chịu hya biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại cũn quỏ ớt, biện pháp sinh học đã được tác giả Nguyễn Văn Cảm (1996
công bố Tác giả cho rằng có thể sử dụng chế phẩm Bacillus thuringensis để phòng trừ sâu đục quả đậu M vitrata tuy nhiên hiệu quả kém hơn sử dụng
thuốc háo học
Ở cỏc vựng trồng đậu đỗ của nước ta việc sử dụng thuốc hóa học được xem như là một công cụ chủ yếu để phòng trừ sâu đục quả đậu Rất nhiều các loại thuốc đã được khuyến cáo sử dụng trên đậu rau như : Cidim 50 ND, Dipterex 80WP, Monitor 70ND, Padan 95WP, Polytrin 40EC, Sherpa 25EC, Sumicidin 20EC Hoàng Anh cung và ctv (1996) đã khảo sát hiệu lực của 8 loại thuốc đối với loài sâu này là Sherpa 25EC và Sumicidin 20EC Nguyễn
Trang 21trừ sâu cao và ít độc hại để sử dụng trong sản xuất đậu rau Kết quả thu được trờn cõy đậu xanh và cây đậu đũa cho thấy có 2 loại thuốc được khuyến cáo nên sử dụng là Sherpa và Sumicidin 0,1% phun 3 lần/1 vụ và khoảng cách là
5 ngày phun một lần sau khi hình thành quả
Theo Khuất Đăng Long và Phạm Thị Hoa ( Viện sinh thái và tài nguyên
sinh vật ) hai loài sâu đục quả Maruca vitrata Fabricius và Etiella zinckenella
Treitschke vẫn được thống kê như là sâu hại chủ yếu vào giai đoạn hoa và quả của cây họ đậu (2009)
Để tạo điều kiện và khuyến khích việc mở rộng và phát triển sản xuất cây đậu rau Ở cỏc vựng trồng trong cả nước đặc biệt là xây dựng các điểm trồng rau chuyên canh, việc nghiên cứu chi tiết và chính xác về đặc điểm sinh học, đặc tính sinh thái, sự phân bố và tập tính gây hại của sâu đục quả đậu và thiên địch của chúng sẽ là cơ sở vững chắc cho việc lựa chọn các biện pháp phòng chống sâu hại hợp lý và có hiệu quả kinh tế cao
Trang 223 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
- Cây trồng : Các loại đậu rau ( đậu đũa, đậu cove, đậu tương rau…)
đang trồng phổ biến ở vùng nghiên cứu
- Một số loại thuốc BVTV hóa học và sinh học : Cypermethrin,
Baythroid, Abamectin, Xentari ( Bt ), NPV hay Metarhizium anispliae.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại sâu hại đậu rau và thiên địch của chúng.
- Sâu đục quả đậu ( Maruca vitrata Fabr.)
3.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Dụng cụ thu bắt : Vợt, ống hút, túi nilon, khay, hộp đựng mẫu
- Dụng cụ nuôi sinh học : Chậu trồng cây, hộp nuụi sõu, lồng lưới, đĩa petri, tủ định ôn
- Dụng cụ thí nghiệm : panh, dao, kéo, kính lúp cầm tay, bông, ống đong, bình phun thuốc
Dụng cụ theo dõi : Sổ ghi chép, bút, nhiệt ẩm kế
Trang 233.5 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra xác định thành phần sâu hại đậu rau và thiên địch của chúng
vụ Xuõn Hố 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội
- Điều tra diễn biến mật độ của một số loài sâu hại chớnh ( sõu đục quả đậu, ruồi đục lá ) ở các giai đoạn sinh trưởng của cây ( cây con, ra hoa, thu hoạch quả rộ ) trờn cỏc loại đậu rau, thời vụ trồng
- Nuôi sinh học sâu đục quả đậu ( Maruca vitrata Fabr )
- Khảo nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc BVTV trừ sâu đục quả hại đậu rau trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng
3.6 Phương pháp nghiên cứu
3.6.1 Điều tra thành phần sâu hại đậu rau và thiên địch của chúng
- Lịch điều tra : Điều tra định kỳ 7 ngày / 1 lần ( từ khi gieo trồng cho tới khi thu hoạch )
- Phương pháp điều tra : Điều tra 5 điểm chộo gúc, điều tra theo phương pháp nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật ( TCN2006) Quá trình điều tra chúng tôi tiến hành quan sát bằng mắt để phát hiện thu thập mẫu sâu hại ở các pha trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành
Thu mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên trên đồng ruộng, mỗi tuần điều tra một lần trùng với các ngày điều tra diễn biến mật độ và tỷ lệ hại của loài sâu hại chính
Bắt đầu theo dõi từ pha trứng, nuôi từ pha trứng đẻ cùng thời điểm, tiếp đến pha sâu non ( các tuổi ), nhộng và trưởng thành đẻ quả trứng đầu tiên
- Điểm điều tra : Mỗi yếu tố điều tra 10 điểm ngẫu nhiên phân bố trên hai đường chéo goc, mỗi điểm điều tra 10 cây, điểm điều tra phải cách bờ ít nhất 2m
- Phương pháp lấy mẫu:
Trang 24+ Đối với sâu tuổi nhỏ điều tra trực tiếp trờn cỏc bộ phận của cây.
+ Sâu tuổi lớn bóc quả bị sâu hại để điều tra
+ Đếm tổng số quả và số quả bị hại ở từng điểm điều tra
- Chỉ tiêu theo dõi :
+ Mật độ sâu ( con/100 nụ, quả )
Kinagold 23 ECVitashield 40EC)Công thức 2: Không phun
Thu hoạch quả theo thực tế
Theo dõi khối lượng quả và khối lượng quả bị đục bởi Maruca ở từng công thức, từng đợt thu hoạch
3.6.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sâu đục quả Maruca
vitrata Fabr.
- Theo dừi các pha phát dục ( trứng, sâu non, nhộng, trưởng thành ) của
sâu đục quả Maruca vitrata Fabr.
- Phương phỏp nuụi tập thể sâu đục quả:
Trang 25Cây được trồng trong chậu nhựa tới giai đoạn sinh trưởng thích hợp cho
sự gây hại của sâu đục quả Đặt câu vào lồng nuụi sõu, chuyển trưởng thành sâu đục quả ( thu bắt được trên ruộng ) vào trong lồng nuụi sõu để chúng đẻ trứng lờn cỏc bộ phận thích hợp của cây Tiếp tục theo dõi trứng nở, các pha phát dục khác của sâu đục quả tới khi kết thúc vòng đời
- Phương pháp nuôi cá thể sâu đục quả:
Ngắt các bộ phận của cây đậu rau đã nhiễm trứng sâu đục quả đặt vào hộp petri, giữ ẩm bộ phận của cây bằng cách cuốn bông thẩm nước Tiếp tục theo dõi thời gian phát dục các pha tới khi kết thúc vòng đời
Tiến hành thu thập các pha phát dục về phũng nuụi đến khi chúng hoàn thành phát dục hoặc từ chúng ra ký sinh Khi có ký sinh, giữ làm mẫu và định loại loài
3.7 Khảo sát hiệu lực của thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng
- Thí nghiệm trong phòng:
Thí nghiệm gồm 4 công thức, với 3 loại thuốc trừ sâu hóa học và sinh học 3 nhóm hoạt chất Cypermethrin, Abamectin, BT và đối chứng, Mỗi công thức nhắc lại 3 lần
Thu thập sâu non ngoài đồng , thả 30 con vào 1 chậu cây đậu cove lùn đang có quả xanh và được phun ướt đều mặt lá, quả bằng các loại thuốc khảo nghiệm Phun thuốc theo liều lượng khuyến cáo ghi trên bao bì
Theo dõi số lượng sâu chết sau phun 3 giờ, 24 giờ, 48 giờ
- Thí nghiệm ngoài đồng :
Bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ ( RCB ) gồm 4 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần Phun thuốc theo liều lượng khuyến cáo Theo dõi mật độ sâu đục quả trước khi phun và sau phun 1, 3, 7 ngày
Trang 26Sơ đồ bố trí thí nghiệm
+ Công thức 1 : Thuốc Arrivo 10EC (Hoạt chất Cypermethrin)
+ Công thức 2 : Thuốc Alfatin 1,8EC ( Hoạt chất Abamectin )
+ Công thức 3 : Thuốc VBT USA ( Hoạt chất Bacillus thuringiensis )
+ Công thức 4 : Đối chứng ( Không phun )
+ Tổng diện tích khu thí nghiệm: 500m2
+ Diện tớch ô thí nghiệm : 5m x 5m = 25m2
3.8 Các chỉ tiêu theo dõi
- Mức độ bắt gặp (%) = Số điểm có sâu hoặc thiên địch x 100
Tổng số điểm điều tra
Trang 27- Tần xuất xuất hiện (% ) = Số lần điều tra bắt gặp đối tượng x 100
Tổng số điểm điều tra
- Mức độ xuất hiện :
- : Rất ít ( < 5% số lần bắt gặp )
+ : Ít ( 5 – 25% số lần bắt gặp )
++ : Trung bình ( 26 – 50% số lần bắt gặp ) +++ : Nhiều ( > 50% số lần bắt gặp )
* : Sâu hại chính
- Mật độ sâu hại chính và thiên địch :
Mật độ (con/100 quả) = Tổng số sâu điều tra được
100 quả điều tra
Tỷ lệ quả bị sâu đục quả đậu hại
Tỷ lệ quả bị hại (%) = Tổng số quả bị hại x 100
Tổng số quả điều tra
- Kích thước trung bình của cơ thể:
Trang 28
N
X n 1 + n 2 + + n i
=
Trong đó : X là thời gian sống trung bình
n1, n2, , ni là thời gian sống trung bình của từng cá thể
N là tổng số cá thể theo dõi
- Thời gian phát dục trung bình của một cá thể
n
n X
X = ∑ i i
Trong đó : Xi : Thời gian phát dục của cá thể thứ i
ni : Số cá thể chuyển pha trong ngày thứ i
Ca : Số cá thể sống ở công thức đối chứng sau khi phun thuốc+ Ngoài đồng ruộng
Tính theo công thức : Henderson – Tilton
- Hiệu lực E (%) = (1- Cb x Ta ) x 100
Ca x Tb
Trong đó : Ca : Số cá thể sống ở công thức đối chứng sau xử lý
Trang 29Cb : Số cá thể sống ở công thức đối chứng trước xử lý
Trang 304 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thành phần sâu hại đậu rau vụ xuõn hố 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội.
Trước đây đó cú một số công trình nghiên cứu về thành phần sâu hại đậu rau Trờn cỏc cây họ đậu khác nhau sẽ có những loài sâu hại chính cũng khác nhau Các chỉ tiêu mà chúng ta theo dõi có thể thay đổi tuỳ theo sự thay đổi của các yếu tố sinh thái (khí hậu thời tiết, giống đậu, kỹ thuật canh tác, đặc biệt là sự tác động của thuốc hoá học) Vì vậy, chúng tôi đã tìm hiểu các chỉ tiêu trên trong vụ Xuân Hè 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội Kết quả điều tra, thu thập các loài sâu hại trên đậu rau được ghi lại ở bảng 1
Số liệu bảng 4.1 cho thấy, trong điều kiện vụ xuõn hố 2011 tại Gia Lâm,
Hà Nội, trờn cõy đậu rau xuất hiện 29 loài sâu hại thuộc 8 bộ và 18 họ côn trùng Trong đó Bộ cánh vảy (Lepidoptera) và Bộ cánh cứng (Coleoptera) có nhiều loài nhất, trong đó Bộ cánh vảy (Lepidoptera) gồm 8 loài thuộc 4 họ côn trùng, Bộ cánh cứng (Coleoptera) gồm 7 loài thuộc 4 họ côn trùng, Bộ cánh nửa (Hemiptera) có 5 loài thuộc 3 họ, Bộ hai cánh có 1 loài thuộc 1 họ,
Bộ cánh thẳng có 3 loài thuộc 2 họ và Bộ cánh đều có 3 loài thuộc 3 họ, Bộ cánh tơ có 1 loài và 1 họ và Bộ Nhện gồm 1 loài thuộc 1 họ
Trong số các loài sâu hại thu được thỡ cú 2 loài sâu hại chủ yếu nhất đó
là sâu đục quả Maruca vitrata Fabr và ruồi đục lá Liriomyza sativae Blanch
nhưng chủ yếu gây thiệt hại nặng nhất và trực tiếp nhất
+ Sâu đục quả Maruca vitrata Fabr là loài có tác động gây hại nặng
nhất cho đậu đũa Chúng không những đục vào quả, ăn hạt làm giảm năng suất mà ngay khi cây trồng đang ở giai đoạn sinh trưởng cũng bị phá hại ở các
bộ phận còn non như chồi ngọn, đỉnh sinh trưởng và thậm chí ở cành (Nguyễn Quý Dương, 1997)
Trang 31Bảng 4.1 Thành phần sâu hại trên đậu rau vụ Xuõn Hố 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội
phổ biến
Trang 3211 Cào cào nhỏ Atractomorpha chinensis Bolivar. Acrididae +
Trang 3322 Bọ nhảy sọc thẳng Medythia suturalis Mots. Chrysomelidae +
25 Câu cấu xanh nhỏ Platymycterus sieversi Reitter. Curculionidae +
27 Bọ rùa 28 chấm Epilachna vigintioctopunctata Fabr. Coccinellidae +
Ghi chú: (+++): Rất phổ biến (- ): Rất ít phổ biến
(++ ): Phổ biến (*): Sâu hại chính
(+): Ít phổ biến
Trang 34Tuy nhiên quả vẫn là thức ăn ưa thích nhất của chúng Khi cây đậu ra nụ và hoa thỡ chỳng chuyển sang gây hại trờn cỏc bộ phận này Quá trình điều tra chúng tôi thấy rằng, loài sâu đục quả Maruca vitrata có thể gây hại từ 30 đến hơn 50% số quả trong điều kiện không phun thuốc Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đây cả ở trong nước và ngoài nước Taylor (1974) từ những nghiên cứu thực địa cho thấy sâu đục quả có thể xuất hiện và gây hại sớm từ trước khi cây đậu đũa ra hoa và sống trờn bỳp, ngọn, thân cây và ở cả chồi Khi cây đậu ra hoa thỡ sõu non chủ yếu sống trên hoa và nụ hoa, khi có quả sâu non tấn công đục vào quả Nguyễn Quý Dương (1997) cho thấy sâu đục quả có thể xuất hiện và gây hại sớm từ trước khi cây đậu đũa ra hoa và sống trờn bỳp, ngọn, thân cây, ở các chồi Khi cây đậu ra hoa thỡ sõu non chủ yếu sống trên hoa và nụ hoa, khi có quả sâu non tấn công đục vào quả Nguyễn Quý Dương (1997) cho thấy sâu đục quả ( Maruca vitrata) xuất hiện và gây hại trờn cõy đậu đũa với mật độ cao nhất là 2,85 con/cõy vào thời kỳ cây ra hoa, quả non và tỷ lệ hại cao nhất là 32,72 % ở giai đoạn quả chắc.
Ruồi đục lá những năm gần đây đã trở thành một trong những loài gây
thiệt hại khá lớn đến năng suất đậu đũa Ấu trùng của ruồi đục lá Liriomyza
sativa Blanh tạo ra những vết đục ngoằn ngoèo trong lá, khởi điểm là những
đường rất hẹp sau đó lớn dần, mầm cây cũng có thể bị hại, (một số loài có thể hại trên cả thân cây
Trứng của ruồi đục lá đẻ ngay phía trong nhu mô lá và 2 – 5 ngày trứng
sẻ nở tuỳ vào nhiệt độ, rất khó phát hiện trong nhu mô lá bằng mắt thường Sâu non ăn chủ yếu nhu mô lá và phát triển trong thịt lá qua 3 tuổi, sâu non mới nở không mầu,sau đó chuyển sang màu vàng cam hơi xanh và đến tuổi 3 thì có màu vàng cam thời gian phát triển khác nhau, tuỳ vào nhiệt độ và thức
ăn, thường kéo dài từ 4 đến 7 ngày ở nhiệt độ >240C, nếu nhiệt độ > 300C thỡ sõu non chết nhanh chóng theo nhiệt độ
Theo nghiên cứu của Hội Bảo Vệ Thực Vật Nhật Bản, truởng thành chích lỗ trờn lỏ bằng ống đẻ trứng, hút nhựa hoặc đẻ trứng vào trong lá để lại
Trang 35vết thương trắng mờ kích thước 0,13 – 0,15mm, vết đẻ trứng có kích thước bé hơn 0,05mm và có kích thước tương đối đồng nhất Chúng chỉ châm vào các lá bánh tẻ (khụng chớch vào lá non), trưởng thành đực không có ống đẻ trứng nên phải nhờ vào lỗ châm của con cái để lấy thức ăn Sâu non ăn nhu mô lá tạo ra đường đục lớn có màu trắng, xung quanh lỏ vựng bị đen ướt, chúng đục thành những đường ngoằn ngoèo, đường này lớn dần khi ấu trùng đẫy sức.
Thiệt hại do ruồi đục lá, làm rụng lá phía trên gây nên hiện tượng cháy quả, rám nắng, giảm khả năng quang hợp của cây do đó khả năng tích luỹ dinh dưỡng của cõy kộm ảnh hưởng lớn đến năng suất
Những giai đoạn nhất định thì bọ xít xanh, sâu khoang cũng có sự gây hại đáng kể cho hoa và quả, đặc biệt là bọ xít xanh, chúng thường xuất hiện với số lượng lớn, khi đú chỳng bỏm kớn trờn bề mặt quả và chớch hỳt dịch quả làm quả
bị teo quắt lại, héo và rụng Ngoài những loài sâu hại ở trên thỡ cũn một số loài sâu hại khác như sâu cuốn lá, rệp đậu cũng là những loài sâu hại quan trọng gây hại trờn cõy đậu rau Hầu hết các loài sâu hại đều xuất hiện vào thời kỳ cây đậu chuẩn bị ra hoa và tồn tại đến cuối vụ Tuy nhiên có một số loài xuất hiện sớm
và tồn tại trong cả vụ như sâu đục quả, sâu khoang Một số loài chỉ xuất hiện ở những giai đoạn nhất định như bọ xít xanh, bọ xít đen, ruồi đục lá
4.2 Thành phần và mức độ phổ biến của thiên địch trên đậu rau vụ Xuõn Hố 2011 tại Gia Lâm , Hà Nội
Bên cạnh các loài sâu hại luôn luôn tồn tại một lực lượng đối địch với chúng đó là thiên địch Cũng như sâu hại, thiên địch cũng rất phong phú nhưng có ý nghĩa nhất vẫn là các loài côn trùng bắt mồi và các loài nhện lớn bắt mồi ăn thịt, đặc biệt là đối với những loài sâu hại có kích thước nhỏ để đánh giá vai trò của côn trùng bắt mồi trên đậu rau, chúng tôi tiến hành điều tra thành phần và mức độ phổ biến của côn trùng bắt mồi trên đậu rau trong
vụ Xuõn hố 2011 tại Gia Lâm, Hà Nội Kết quả điều tra được ghi nhận tại bảng 4.2
Trang 36Bảng 4.2 Thành phần và mức độ phổ biến của thiên địch trên đậu rau
vụ Xuõn Hố 2011 tại Gia Lâm , Hà Nội
6 Cánh cộc nâu chân đen Paederus tamulus Erichson. Staphylinidae +
9 Bọ 3 khoang 4 chấm trắng Ophionea indica Thunbr. Carabidae +
10 Chân chạy viền trắng Chlaenius circumdatus Brulle. Carabidae
Trang 37III BỘ CÁNH NỬA HEMIPTERA
14 Bọ xít xanh nhỏ bắt mồi Campylomma obscuuisicups H. Anthocoridae ++
20 Nhện linh miêu vân xiên trắng Oxyopes javanus Thorell. Oxyapidae
21 Nhện sói vân hình đinh ba Lycosidae pseudoannulata (Boes et Str.) Lycosidae
Ghi chú : +++: Rất phổ biến
++: Phổ biến
Trang 38Kết quả bảng 4.2 cho thấy trong những năm gần đây thành phần kẻ thù tự nhiên (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại đậu rau có xu hướng tăng dần
Qua thời gian điều tra chúng tôi thu thập được 18 loài côn trùng thuộc 8
họ của 4 bộ khác nhau và bộ nhện lớn bắt mồi thu được 5 loài thuộc 5 họ Trong quần thể côn trùng bắt mồi này, bộ cánh cứng (Coleoptera) có số lượng loài xuất hiện phong phú nhất có 10 loài (chiếm 43,48 %), thuộc 3 họ (Carabidae, Coccinellidae, Staphylidae) (chiếm 23,08%), tiếp đến là bộ cánh nửa (Hemiptera) có 5 loài (chiếm 21,74%), thuộc 3 họ (Athocoridae, Reduviidae và Pentatomidae) (chiếm 23,08%), bộ hai cánh (Diptera) có 1 loài (chiếm 4,34%), thuộc 1 họ (Syrphidae) (chiếm 7,69 %), bộ chuồn chuồn kim (Conagrionidae) có 1 loài (chiếm 4,34%), thuộc 1 họ (chiếm 7,69%), cuối cùng là bộ nhện lớn chúng tôi thu thập được loài (chiếm 21,74%), thuộc 5 họ (chiếm 38,46%)
Bảng 4.3 Tỷ lệ các loài côn trùng bắt mồi trên đậu rau
trong vụ xuõn hè 2011 tại Gia Lâm – Hà Nội
Trong số các loài côn trùng bắt mồi thu thập được thì họ bọ rùa
(Coccinellidae) là loài có số lượng nhiều nhất (5 loài), thứ 2 là họ
(carabidae) cũng có 3 loài, ngoài ra thì 4 họ (Staphylinidae, Syrphidae,
Trang 39Anthocotidae, Reduviidae ) có 2 loài, có 1 họ ( Pentatomidae )có 1 loài
Những loài có mức độ phổ biến cao, có ý nghĩa là loài bọ rùa 6 vằn
(Melochilus sexmaculatus), bọ rùa đỏ (Micraspis discolor), 2 loài ruồi ăn rệp (Episyphus balteatus và Ischiodon scutellaris), bọ xít đen bắt mồi (O sauteri)
và bọ xít xanh nhỏ bắt mồi (Campylomma chinensis).
4.3.Một số nghiên cứu về sâu đục quả Maruca vitrata Fabr.
4.3.1 Phân bố và phổ kí chủ của Maruca vitrata Fabr.
Ở Việt Nam sâu đục quả Maruca vitrata Fabr gây ra tổn thất lớn về
năng suất cũng như giá trị thuơng phẩm của cỏc cõy thuộc họ đậu, đặc biệt là đậu rau Chúng phát sinh và gây hại tất cả những khu vực trồng cây họ đậu Theo kết quả nghiên cứu của Viện Bảo Vệ Thực Vật năm 1967 – 1968, sâu đục quả đã có mặt hầu hết các tỉnh trong cả nước như: lạng Sơn, Hà Tây, Hải Hưng, Thanh Hoá, Nghệ An…
Sâu đục quả đậu Maruca vitrata Fabr phân bố rất rộng trên thế giới
Theo nghiên cứu Phelp và Oostihuizen (1958), Williams (1943), Posslow (1968) và nhiều tác giả khác cho thấy chúng xuất hiện ở toàn bộ các châu lục như: Châu Mĩ, Châu Phi, Châu Úc đặc biệt là các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới
Theo kết quả điều tra tại khu vực Yên Phong - Bắc Ninh cho thấy phổ
kí chủ của loài sâu này là rất rộng, tất cả các cây họ đậu đều là kí chủ của nó như: Đậu đũa, đậu cụve, đậu cụbơ, đậu trạch, đậu cụve leo, đậu ván, lạc Vị trí sinh sống và gây hại là hoa và quả
Theo kết quả điều tra cơ bản dịch hại của Viện Bảo Vệ Thực Vật (1967 – 1968), ngoài sự gây hại trên cây trồng họ đậu thỡ sõu đục quả còn gây hại trờn cỏc cây trồng khác như cà chua, khoai lang, su hào, cam, thuốc lỏ…Nhưng sự gây hại là không đáng kể
Trang 40Theo Akinfewa (1975), chúng gây hại trên 35 loài cây khác nhau thuộc
20 giống và 60 họ thực vật khác nhau, trong đó tập trung chủ yếu vào họ cánh
bướm (Papilionacaea) Taylor (1967) cũng đã điều tra được 33 loài cây bị
gây hại bởi loài M testulalis Sharma et al (1999), cho rằng chúng gây hại trên 20 loại cây trồng, thuộc 6 họ thực vật, trong đó chủ yếu thuộc họ cánh
bướm Theo kết quả nghiên cứu về loài sâu đục quả M vitrata ở Châu Phi của
Zebitz.C và cộng sự cho thấy loài sâu này có mặt trên 60 loài kí chủ lại được tìm thấy ở xung quanh khu vực trồng đậu ở 3 địa điểm Lema, Tokpa/Ayou và IITA Trong đó có 39 loài thuộc họ Fabaceae, 7 loài thuộc họ Caesalpinaceae,
3 loài thuộc họ Asteraceae, họ Rubiacaea và họ Rosaceae mỗi họ có 2 loài, các họ Convolvulaceae, Solanaceae, Anacardiaceae, Sapotaceae, Meliaceae, Bignoniaceae và Malvaceae mỗi họ một loài (Zebitz, Zenz, Koch, 1999)
Bảng 4.4 Cỏc cõy kớ chủ họ đậu của sâu đục quả Maruca vitrata Fabr
vụ Xuõn Hè 2011 tại Gia Lâm , Hà Nội