Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty lắp máy và thí nghiệm cơ điện
Trang 1MỞ ĐẦU
Những năm qua, Nhà nước ta đã thực hiện trao quyền chủ động rộng rãi tronghoạt động sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệpNhà nước, nhằm giúp cho các doanh nghiệp từng bước thích ứng với cơ chế thịtrường, thích ứng được với xu thế hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ trong khu vực vàtrên thế giới Tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp, cũng chính là góp phầnquan trọng vào việc tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đất nước Tuy nhiên,cùng với việc tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp Nhànước phải đối mặt với nhiều vấn đề thực sự khó khăn như: giải quyết công ăn việclàm cho người lao động, quản lý và sử dụng vốn kinh doanh
Ngày nay, quản lý vốn là một trong những vấn đề được các doanh nghiệpquan tâm hàng đầu Vốn không chỉ là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại, dành thắnglợi trong cạnh tranh, mà còn là phương tiện giúp chủ sở hữu tăng trưởng về giá trị, làđiều kiện tiên quyết cho các doanh nghiệp khẳng định được mình trong cơ chế mới.Đốvới hầu hết các doanh nghiệp hiện nay, sử dụng vốn một cách hiệu quả là mộttrong những bài toán khó đang cần tìm lời giải
Công ty Lắp máy và Thí nghiệm cơ điện thuộc Tổng công ty Lắp máy Việtnam cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó Công ty là một doanh nghiệp Nhà nước,hoạt động trong lĩnh vực xây dựng Tuy nhiên, do đặc thù của công việc nên phầnlớn vốn của Công ty là vốn lưu động Hiện tại, Công ty đang có kế hoạch mở rộnghơn nữa hoạt động sản xuất kinh doanh, khuếch trương thị trường cả trong và ngoàinước Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đang được ban lãnh đạoCông ty quan tâm hàng đầu
Xuất phát từ những suy nghĩ trên, sau một thời gian thực tập tại Công ty lắp
máy và thí nghiệm cơ điện, em quyết định chọn “ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
lưu động tại Công ty lắp máy và thí nghiệm cơ điện" làm đề tài tốt nghiệp.
1
Trang 2Chuyên đề tập trung vào việc phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng tại Công ty trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2002 Trên cơ sở đó, đưa ramột số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sư dụng vốn lưu động của Công ty trongthời gian tới.
Chuyên đề gồm ba chương sau:
Chương I : Công ty lắp máy& thí nghiệm cơ điện và những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty.
Chương II: Thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động của Công ty lắp máy và thí nghiệm cơ điện trong thời gian qua.
Phần III: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở công ty Lắp máy và thí nghiệm cơ điện.
Do trình độ còn hạn chế, thời gian thực hiện có hạn nên chuyên đề không thểtránh khỏi những khiếm khuyết Vì vậy, em rất mong nhận được sự quan tâm, góp ýcủa các thầy cô giáo, các cô chú, anh chị trong công ty và tất cả các bạn để em hoànthành chuyên đề đạt chất lượng tốt hơn
Trang 3CHƯƠNG 1
CÔNG TY LẮP MÁY VÀ THÍ NGHIỆM CƠ ĐIỆN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
TẠI CÔNG TY.
1.1 Tổng quan về Công ty.
1.1.1 Quá trình hình thành
Công ty Lắp máy và Thí nghiệm cơ điện là một Doanh nghiệp Nhà nước
thuộc Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam Công ty được thành lập theo quyết định /giấy phép số: 014A/BXD-TCLĐ ngày 27/01/1993 của Bộ xây dựng Trụ sở chínhcủa Công ty: 124 Minh Khai, quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội
Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản theochế độ quản lý kinh tế hiện hành (Giấy phép hành nghề số 16/BX-DSXD do Bộ xâydựng cấp ngày 06/05/1993, giấy phép kinh doanh số 108853 do trọng tài kinh tế HàNội cấp ngày 17/06/1993.)
Tiền thân của Công ty là Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật và lắp máy, được
thành lập ngày 19/01/1980 Nhiệm vụ chính của Trung tâm tập trung vào các hoạtđộng nghiên cứu kỹ thuật, thí nghiệm phục vụ cho hoạt động của các đơn vị làmnhiệm vụ lắp ráp, xây dựng thuộc Tổng công ty lắp máy
Năm 1993, theo xu hướng đổi mới và nhu cầu phát triển nền kinh tế đất nước,
Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật và lắp máy đã được đổi tên thành Xí nghiệp lắp máy và thí nghiệm cơ điện thuộc liên hiệp lắp máy Việt Nam (LILAMA) Nhiệm
vụ của Xí nghiệp không chỉ nghiên cứu kỹ thuật mà còn mở rộng sang nhiều lĩnhvực khác như: lắp máy điện nước và các thiết bị công nghệ; nhận thầu thi công cáccông trình công nghiệp, dân dụng; sản xuất kinh doanh vật tư, vật liệu và thiết bịphục vụ nhu cầu của các đơn vị xây dựng trong Tổng công ty và của thị trường
3
Trang 4Đầu năm 1996, theo Nghị định 338/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay làChính Phủ) về tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, Xí nghiệp được đổi
tên thành Công ty lắp máy và thí nghiệm cơ điện trực thuộc Tổng công ty lắp máy
- Thi công các loại móng thông thường
- Xây lắp các kết cấu công trình
- Lắp đặt thiết bị cơ, điện nước; thiết bị phòng cháy, chữa cháy; đường dây
và trạm biến áp điện
- Hoàn thiện xây dựng và trang trí nội thất công trình
- Thi công lắp đặt thiết bị và kết cấu công trình công nghiệp và dân dụng có
quy mô vừa và nhỏ
- Xây lắp đường dây và trạm biến áp điện tới 35KV
- Gia công chế tạo, lắp đặt kết cấu, phụ kiện phi tiêu chuẩn bằng kim loại,
các loại đường ống áp lực, các loại bồn bể chịu áp lực thuộc các loại công trình
+ Thí nghiệm kiểm tra chất lượng:
- Nhận thầu kiểm tra, hiệu chỉnh và thí nghiệm các thiết bị và hệ thống thiết
bị được lắp đặt và các chỉ tiêu cơ - nhiệt - điện - áp lực - liên kết - khả năng chịu tải
- Thí nghiệm, kiểm tra hiệu chỉnh hệ thống thiết bị điện, điều khiển, hệ
thống truyền dẫn điện từ 35KV đến 500KV
Trang 5- Kiểm tra chất lượng mối hàn bằng phương pháp không phá hủy (X quang,
tia gama, siêu âm, thử từ tính)
+ Liên doanh liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước phù hợp với luậtpháp và chính sách của Nhà Nước và sự phân cấp, ủy quyền của Tổng Công ty Lắpmáy Việt Nam
Có thể thấy rằng Công ty Lắp máy và Thí nghiệm cơ điện là doanh nghiệpkinh doanh đa ngành, đầu tư vào nhiều lĩnh vực với nhiều phương thức khác nhau
1.1.3 Nhiệm vụ chủ yếu và cơ cấu tổ chức.
1.1.3.1 Nhiệm vụ chủ yếu
Để góp phần vào quá trình CNH, HĐH, đưa đất nước bước qua giai đoạn quá
độ tiến thẳng lên CNXH như Nghị quyết Trung ương (khoá VII) của Đảng cộng sảnViệt Nam đã đề ra, Công ty lắp máy và thí nghiệm cơ điện đã xác định rõ hiệm vụcủa mình như sau:
- Đi sâu nghiên cứu thị trường, ổn định và duy trì cũ, mở rộng thị trường
mới, nhất là thị trường ở các tỉnh phía Bắc
- Đào tạo và đào tạo lại để nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao
động trong Công ty, thực hiện phân phối theo lao động, tạo công ăn việc làm vàchăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên
- Tăng cường đầu tư theo chiều sâu với mục tiêu không ngừng nâng cao
chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động
- Thực hiện đa dạng hoá sản phẩm nhằm mở rộng thị trường và đáp ứng
nhu cầu của khách hàng Ngoài lĩnh vực truyền thống của công ty là lắp đặt thiết bị
cơ khí, điện, đo lường, điều khiển công ty sẽ chú trọng hơn tới việc phát triển lĩnhvực chế tạo các kết cấu thép và thiết bị phi tiêu chuẩn, thi công xây dựng các côngtrình Đặc biệt chú trọng và mở rộng công tác thí nghiệm điện và kiểm tra mối hànbằng phương pháp không phá huỷ
5
Trang 6PHÒNG KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
CÁC ĐỘI THI
CÔNG LẮP MÁY CÁC ĐỘI THI CÔNG THÍ CÁC ĐỘI THI CÔNG NDT
NGHIÊM ĐIỆN
PHÒNG TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH
Tổ thi
công Tổ thi công Tổ thi công Tổ thi công Tổ thi công Tổ thi công Tổ thi công Tổ thi công Tổ thi công
Trang 71.1.4 Kết quả sản xuất kinh doanh
Bảng1: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Doanh thu của Công ty biến động rất lớn qua các năm, so với năm 2000 năm
2001 giảm 2286.335 triệu đồng (21.475%) Năm 2002 so với năm 2001 tăng
7
Trang 8339.235 triệu đồng (4.058%) Nguyên nhân giảm là do: năm 2001 là ảnh hưởngnhiều bởi những biến động trên thị trường xây dựng nên Công ty gặp không ít khókhăn trong giai đoạn này Điển hình là những biến động của thị trường vật liệu xâydựng Thực tế thị trường vật liệu xây dựng trong nước đã phát triển, nhưng do sựphát triển quá sôi động của thị trường xây dựng nên đã đẩy giá nguyên vật liệu lêncao, có nhiều loại nguyên vật liệu giá đã tăng tới 20% so với năm 2000 (*)1
Về lợi nhuận
Lợi nhuận sau thuế của Công ty biến động rất lớn cùng với sự biến động củadoanh số So với năm 2000 thì lợi nhuận sau thuế năm 2001 giảm 177.121 triệuđồng (39.918%) Nhưng sang năm 2002, nhờ có sự nỗ lực không ngừng của tập thểcán bộ công nhân viên trong toàn Công ty mà lợi nhuận sau thuế của Công ty đãtăng lên Năm 2002 so với năm 2001, số tiền tăng lên là 26.116 triệu đồng (9.796%)
Về quản lý vốn
Tổng vốn tương đối ổn định qua các năm, năm 2000 là 11227.813 triệu đồngsang năm 2001 tổng vốn là 10893.141 triệu đồng Tuy có giảm chút ít nhưng khôngđáng kể, lượng giảm tuyệt đối là 334.672 triệu đồng (2.980%) Năm 2002 tăng sonăm 2001 là 356.197 triệu đồng (3.69%) Nguyên nhân vốn giảm chủ yếu là dotrong quá trình hoạt động Công ty đã tiến hành thanh toán dần nợ dài hạn cho ngânhàng, thay vào đó là huy động nguồn tín dụng ngắn hạn nhưng số lượng chưa được
là bao Tổng vốn giảm do chủ yếu là vốn cố định giảm mạnh, trong khi đó thì vốnlưu động tăng chậm, mặc dù vốn lưu động chiếm đa phần trong tổng nguồn vốn
Về số nhân sự
Tổng số lao động hàng năm của Công ty giao động trên dưới 300 người, trong
đó chiếm hơn một nửa là lao động thuê ngoài theo mùa vụ Cụ thể, tổng số lao động
1(*) 1 Giá xi măng tăng 9,4%, cát xây dựng tăng 23%, đá đổ bê tông tăng 17%, gạch
xây dựng loại A tăng 7,1%: Tác giả Nguyên Quân “ Lệch pha trong huy động đầu tư xây dựng
Trang 9năm 2000 là 300 người, năm 2001 là 230 người và năm 2002 là 296 người Năm
2001 so với năm 2000 là 70 người (23,334%), nguyên nhân của việc giảm đột xuấtnày là do tình hình khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty: việclàm ít, hợp đồng ký nhưng chưa thực hiện Điều này bắt buộc Công ty phải giảmmột số lao động thời vụ ở những đơn vị, bộ phận không cần thiết nhằm đảm bảohoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty có hiệu quả Sang năm 2002 tình hìnhbình ổn trở lại, Công ty lại thuê thêm lao động, lượng lao động của Công ty lại tănglên 66 người (28.695%) so với năm 2001
Về thu nhập cán bộ công nhân viên Công ty
Về thu nhập bình quân, qua các năm 2000, 2001 và 2002 biến động khôngđáng kể, thu nhập bình quân đầu người duy trì ở mức tương đối cao (1-1.2 triệuđồng/ người /tháng) Cụ thể, năm 2001 tăng lên so với năm 2000 là 380000 đồng/người/ năm (2.569 %), nhưng đến năm 2002 lại giảm so với năm 2001 là 414000đồng/ người/năm (2.729%), thêm vào đó, Công ty luôn thực hiện trả lương đúng hạncho người lao động Mức thu nhập bình quân đầu người như trên là tương đối caonhưng để đảm bảo cho người lao động dồn hết tâm huyết của họ vào công việc thìCông ty nên có những chính sách thoả đáng làm đòn bẩy thúc đẩy người lao động.Một khi người lao động tâm huyết với nghề thì sự đi lên của của Công ty là điều tấtyếu
Về thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước
Do gặp những khó khăn chung trên nên cùng với sự giảm sút của doanh số thì
số thuế mà Công ty đóng góp vào ngân sách nhà nước cũng bị giảm đáng kể Tổng
số thuế nộp ngân sách năm 2000 là 685.711 triệu đồng, các năm 2001 và 2001 con
số này giảm xuống chỉ còn tương ứng là 531.862 và 325.798 triệu đồng Như vậy, từnăm 2000 đến 2002 tổng số thuế nộp ngân sách của Công ty giảm tổng cộng gần 360triệu đồng
9
Trang 10Với quy mô như hiện nay, tuy chỉ là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng với lựclượng lao động bình quân khoảng 300 người mỗi năm công ty tạo ra giá trị trên dưới
10 tỷ đồng Thu nhập của cán bộ công nhân viên trong công ty ổn định ( 1- 1,2 triệuđồng/ tháng ) và có xu hướng ngày càng tăng, đời sống cán bộ công nhân viên trongcông ty ngày càng được cải thiện, luôn hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với ngân sáchNhà nước Đảm bảo hoàn thành kế hoạch của công ty và kế hoạch của Tổng Công tygiao cho Tóm lại, tất cả những gì được trình bày trên đây phần nào cho thấy: Công
ty lắp máy và thí nghiệm cơ điện đã có sự lớn mạnh lớn mạnh không ngừng trongnhững năm qua Hiện nay, công ty đang là một đơn vị làm ăn tương đối hiệu quả, có
uy tín với khách hàng và đầy triển vọng phát triển trong tương lai về lĩnh vực hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình
1.2 Một số nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty 1.2.1 Lĩnh vực kinh doanh và sản phẩm
Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, do đó cơ cấu vốn vàtài sản của Công ty mang đặc trưng chung của ngành xây dựng Thông thường, đốivới một doanh nghiệp xây dựng vốn chủ yếu là vốn lưu động (vốn vật tư, tiền trảlương, trả lãi vay ) Giá trị vốn lưu động của Công ty phụ thuộc vào quy mô côngtrình mà Công ty thi công và do đó nhu cầu của vốn lưu động thay đổi theo giá trịcông trình Mặt khác, như chúng ta đã biết, một công trình xây dựng thường có thờigian thi công kéo dài trên một năm, Công ty phải huy động vốn ngắn hạn nhiều đợtlàm tăng chi phí vốn và tăng giá thành công trình Trong ngành xây dựng, việc tiêuthụ sản phẩm theo giá dự toán hoặc thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) nên tínhchất không được thể hiện rõ (vì đã quy định giá cả, người mua, người bán tham giahợp đồng xây dựng) Thêm vào đó, trong đấu thầu công ty phải chịu sức ép lớn từnhiều đối thủ cạnh tranh trong ngành về giá thầu, tiến độ, công nghệ điều này lạigián tiếp tác động đến dự toán vốn của công ty
Trang 11Sản phẩm xây lắp là các công trình xây dựng, vật kiến trúc có quy mô lớn,kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, có thời gian thi công kéo dài, đặc điểm nàyđòi hỏi việc tổ chức quản lý và hạch toán vốn lưu động cũng nhất thiết phải lập dựtoán, trong quá trình xây lắp phải thường xuyên so sánh với dự toán thiết kế và thicông, lấy đó làm thước đo Mặt khác sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất do đóphương tiện đi lại, thiết bị thi công, người lao động phải di chuyển theo địa điểm đặtsản phẩm, đặc điểm này làm cho các đối tác quản lý, sử dụng vốn vật tư và khấu haorất phức tạp lại còn chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết dễ mất mát
hư hỏng
1.2.2 Nguyên vật liệu
Trong xây dựng cơ bản, nguyên vật liệu thường chiếm 70-80% giá trị côngtrình, do đó lượng vốn nói chung, vốn lưu động nói riêng phần lớn nằm trong giá trịnguyên vật liệu Vì vậy, sử dụng và dự trữ nguyên vật liệu sẽ ảnh hưởng trực tiếpđến hiệu quả sử dụng vốn lưu động Đặc điểm của nguyên vật liệu được sử dụngthường xuyên là khối lượng lớn, đa dạng về chủng loại nên khó dự trữ Thôngthường công ty chọn một số nhà cung cấp cố định nhằm đảm bảo nguồn cung ứngnguyên vật liệu ổn định đáp ứng tiến độ thi công, đồng thời có được nguồn tín dụngđáng kể trong kinh doanh
Hiện nay, Nhà nước đã ban hành các quy chế kiểm định chất lượng công trìnhđòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng nguyên vật liệu theo đúng tiêu chuẩn quyđịnh Việc mua sắm nguyên vật liệu cho từng công trình được khoán gọn cho từng
tổ đội, Công ty chỉ đưa ra các tiêu chuẩn chất lượng Việc làm này tương đối hợp lý
và linh hoạt vì nó gắn trách nhiệm của các đội thi công với chất lượng công trìnhvừa giảm thiểu chi phí phát sinh Tuy nhiên, nếu không có sự quản lý tích cực củaCông ty có thể dẫn đến những tiêu cực
1.2.3 Khách hàng
11
Trang 12Khách hàng của Công ty tương đối đa dạng bao gồm các doanh nghiệp, cácchủ đầu tư là doanh nghiệp xây dựng nhà nước và tư nhân Mỗi khách hàng có khảnăng tài chính khác nhau và yêu cầu về tiến độ cũng khác nhau do đó, các điều kiệnthanh toán cũng khác nhau Có khách hàng sẵn sàng ứng trước một phần giá trị côngtrình, có khách hàng chỉ chấp nhận thanh toán khi bàn giao công trình Đối với từngloại khách hàng như thế công ty phải có những kế hoạch huy động và sử dụng vốnphù hợp.
1.2.4 Nguồn cung cấp tín dụng
Công ty có hai nguồn cung cấp tín dụng chính là: Ngân hàng, nhà cung cấpvật tư Đối với ngân hàng, Công ty phải chịu sức ép lớn về chi phí vốn và thời điểmđến hạn Tuy nhiên, với chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất của Nhà nước hiệnnay, các thủ tục vay vốn đã được giảm thiểu đáng kể do đó Công ty có nhiều điềukiện huy động vốn từ nguồn này
Cũng như các doanh nghiệp xây dựng khác, tín dụng nhà cung cấp có vai tròquan trọng và có tầm ảnh hưởng lớn đến sử dụng vốn trong Công ty Tín dụng nhàcung cấp có thời hạn ngắn ( thường là dưới một năm ) nhưng lại có tính chất thườngxuyên, liên tục như là một nguồn cung dài hạn Qua loại tín dụng này, Công ty vừađảm bảo nguồn cung ứng nguyên vật liệu ổn định, vừa lợi dụng nguồn vốn củangười khác để kinh doanh Có thể nói, trong cơ chế thị trường doanh nghiệp nàocàng lợi dụng tốt nguồn vốn của người khác thì hiệu quả kinh doanh càng cao Nóicách khác, doanh nghiệp nào thực hiện tốt chính sách chiếm dụng vốn thì doanhnghiệp đó có hiệu quả kinh doanh cao hơn
1.2.5 Các chủ trương, chính sách của Nhà nước
Các chính sách vĩ mô của Nhà nước có tác dụng rất lớn đến sử dụng vốn nóichung và vốn lưu động nói riêng
Trang 13Về chính sách thuế: Hiện nay Nhà nước ta đã áp dụng phổ biến tính thuế VATtránh cho các doanh nghiệp phải chịu các khoản thuế chồng chéo, tuy nhiên đối vớimột doanh nghiệp xây dựng thì việc Nhà nước khống chế thời gian thu thuế trongkhi không khống chế thời gian thanh toán của chủ đầu tư với nhà thầu sẽ gây bất lợicho các doanh nghiệp xây dựng nói chung và Công ty nói riêng.
Về chính sách trong ngành xây dựng: Nhà nước bắt buộc các nhà thầu xâydựng sau khi hoàn thành công trình bàn giao phải để lại 5% giá trị công trình bảohành trong một năm mà giá trị này lại không được tính lãi, điều này gây thiệt hại choCông ty, vì một lượng vốn khá lớn bị ứ đọng tại các công trình làm giảm vòng quayvốn lưu động, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động
13
Trang 14CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÔNG TY LẮP MÁY VÀ THÍ NGHIỆM CƠ ĐIỆN TRONG THỜI GIAN QUA 2.1 Công tác quản lý vốn lưu động của Công ty
Trước khi xem xét các nội dung quản lý vốn lưu động, ta cần chú ý tới kết cấutài sản, nguồn vốn của Công ty trong thời gian vừa qua để thấy được khái quát tìnhhình tài sản, nguồn vốn trong Công ty Kết cấu tài sản nguồn vốn của Công ty đượcthể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Kết cấu tài sản, nguồn vốn của Công ty
Trang 152.Nguồn vốn chủ sở
Nguồn: Bảng cân đối kế toán các năm từ 2000 đến 2002
15
Trang 16Như vậy, qua xem xét kết cấu nguồn vốn, tài sản của Công ty chúng ta thấy cónhững đặc điểm: Các chỉ tiêu đều có sự tăng trưởng, có sự tích luỹ mở rộng vốn vàtài sản sau mỗi năm Công ty đã thực hiện tốt mục tiêu tăng trưởng, phát triển vốn vàtài sản.
Vốn lưu động chiếm một tỷ trọng lớn và ngày càng có xu hướng tăng cao:năm 2000 tỷ lệ này là 82%, tăng lên 87% vào năm 2001 và đến năm 2002 đã lên tới92% Điều này có thể giải thích là do đặc trưng chung của ngành xây dựng có giá trịtài tài sản lưu động luân chuyển chiếm tỷ trọng lớn, hơn nữa công ty chỉ mới đi vàohoạt động nên trong những năm đầu mức độ tích luỹ tài sản cố định thấp là đươngnhiên
Qua phân tích trên chúng ta nhận thấy: cơ cấu vốn của Công ty là hợp lý,Công ty đã đầu tư vào đúng lĩnh vực kinh doanh của mình bằng cách đầu tư chủ yếuvào vốn lưu động và giảm tỷ lệ đầu tư vào vốn cố định Tuy nhiên, trong khuôn khổ
đề tài này hiệu quả sử dụng vốn lưu động mới là vấn đề chúng ta quan tâm hơn cả
Để có cơ sở cho việc quản lý vốn lưu động một cách hiệu quả chúng ta lần lượt xemxét các nội dung dưới đây:
Trang 17Việc xem xét nguồn hình thành vốn lưu động của Công ty đóng một vai tròquan trọng trong công tác quản lý vốn lưu động nói riêng và quản lý vốn nói chung.Tuỳ thuộc vào khả năng tài chính của doanh nghiệp, đặc điểm ngành nghề kinhdoanh mà mỗi doanh nghiệp có nhiều kênh huy động vốn khác nhau Tuy nhiên,trên góc độ nguồn hình thành thì vốn lưu động nói riêng và vốn doanh nghiệp nóichung của mỗi doanh nghiệp thường được hình thành từ hai nguồn chính là: vốn đivay và vốn chủ sở hữu Kết cấu nguồn vốn lưu động của Công ty được thể hiện quabảng sau:
Bảng 3: Nguồn vốn lưu động của Công ty.
Trang 18và vốn chủ sở hữu Trong đó nguồn vốn vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn và
có xu hướng gia tăng Năm 2000, vốn lưu động của Công ty là 9251,302 triệu đồngtrong đó vốn chủ sở hữu là 2560,402 triệu đồng tương ứng 28% trong tổng vốn lưuđộng, số vốn vay là 6660,900 triệu đồng tương ứng 72% Đến năm 2001, vốn chủgiảm chỉ còn 26% tương ứng với 2454,3 triệu đồng trong khi đó vốn vay tăng lênchiếm 73,8% tương ứng với số tiền là 6966,5 triệu đồng Năm 2001 nhu cầu vốn lưuđộng của Công ty tăng cao trong khi quy mô, cơ cấu, hình thức huy động vốn ngắnhạn của Công ty không được mở rộng nhiều Chính vì vậy, mà Công ty đã bị thiếuhụt trong nguồn tài trợ vốn ngắn hạn, buộc Công ty phải chủ trương tăng vốn chủ sởhữu để có thể đáp ứng được vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh củaCông ty Mặc dù vốn lưu động của Công ty năm 2002 tăng khá cao nhưng tỷ lệ vốnvay lại có phần giảm sút trong tổng vốn lưu động Năm 2002, vốn chủ sở hữu chiếmtới 32,2% tương ứng với số tiền là 3336,7 triệu đồng trong khi đó vốn vay chỉ chiếm67,5% tương ứng với số tiền là 6994,6 triệu đồng Thêm vào đó, kể từ năm 2001Công ty đã sử dụng một phần nhỏ vốn vay trung và dài hạn để tài trợ cho vốn lưuđộng Tuy lượng sử dụng không lớn, nhưng nếu Công ty không có biện pháp cân đốiđiều hoà thì sẽ gây lãng phí nguồn vốn này, vì thông thường chi phí cho việc huyđộng vốn vay trung và dài hạn là cao hơn nhiều so với vốn vay ngắn hạn
Những vấn đề cần quan tâm trong việc huy động vốn của Công ty: Trong điềukiện nền kinh tế hiện nay, không một doanh nghiệp nào có đủ vốn để tự kinh doanh,
mà đều phải đi huy động từ nhiều nguồn khác nhau, có như vậy mới nâng cao được
Trang 19hiệu quả sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường Với nguồn tài trợ cho vốn lưuđộng của Công ty chủ yếu là đi vay và chiếm dụng như hiện nay cũng là một dấuhiệu tốt, vì nguồn vốn này thủ tục đơn giản, dễ huy động, chi phí thấp Tuy nhiên,Công ty cần hết sức quan tâm đến việc quản lý và sử dụng nguồn vốn này, vì ngoàiviệc mang lại một lợi ích to lớn thì nguồn vốn này cũng chứa đựng những rủi ro rấtlớn, do vậy nếu Công ty không quản lý tốt rất dễ dẫn tới mất khả năng thanh toán,tăng hệ số nợ, giảm lợi nhuận dẫn đến giảm hiệu quả trong kinh doanh.
2.1.2 Cơ cấu vốn lưu động
Xem xét cơ cấu vốn lưu động trong Công ty sẽ giúp chúng ta thấy được kháiquát hơn về vốn lưu động và có định hướng chính xác cho công tác quản lý từng yếu
tố của vốn lưu động Cơ cấu vốn lưu động của Công ty thể hiện qua bảng sau:
Năm 2000, vốn lưu động từ các khoản phải thu chiếm tỷ trọng cao nhất là74,701% tương ứng với số tiền là 6910,867 triệu đồng, tiếp theo là các vốn lưu độngdưới dạng hàng hoá tồn kho chiếm 18,121% tương ứng với số tiền là 1676,441 triệuđồng, tài sản lưu động khác chiếm 6,98% tương ứng với số tiền là 645, 695 triệuđồng, lượng tiền mặt không đáng kể
Sang năm 2001, vốn lưu động từ các khoản phải thu tuy có phần giảm sútnhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất là 64,938% tương ứng với số tiền là 6130,083triệu đồng, vốn lưu động dưới dạng vật tư hàng hoá tồn kho tăng lên 20,181% tươngứng với số tiền 1905,064 triệu đồng, tăng đáng kể nhất là các loại tài sản lưu độngkhác 13,190 % tương ứng với số tiền là 1245,112 triệu đồng, cũng trong năm nàylượng vốn lưu động bằng tiền mặt cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể là 1,689% tươngứng với số tiền là 159,513 triệu đồng
Năm 2002, vốn lưu động dưới dạng các khoản phải thu và tiền mặt có xuhướng tăng trở lại trong khi đó vốn lưu động dưới dạng vật tư hàng hoá tồn kho vàtài sản lưu động khác có xu hướng giảm Tỷ trọng vốn lưu động dưới dạng các
19
Trang 20khoản phải thu chiếm tới 79,150% tương ứng với số tiền là 8201,907 triệu đồng,vốn lưu động dưới dạng vật tư hàng hoá tồn kho chiếm 14,512% tương ứng với sốtiền là 1503,856 triệu đồng, tài sản lưu động khác chiếm 4,497% tương ứng với sốtiền là 466,074 triệu đồng, các khoản vốn lưu động bằng tiền mặt chiếm 1,838%tương ứng với số tiền là 190,544 triệu đồng.
Để có thể thấy rõ hơn cơ cấu vốn lưu động chúng ta có thể xem xét qua biểu
đồ cơ cấu vốn lưu động của Công ty dưới đây:
Trang 22Qua các số liệu trên đây cho ta thấy: mặc dù vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớnnhưng đa phần lại nằm ở vật tư hàng tồn kho và các khoản phải thu của khách hàng.Điều này sẽ có tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của công ty trên các mặt sau:
- Tỷ trọng phải thu lớn điều này chứng tỏ Công ty đã bị giảm một lượng vốnđưa vào kinh doanh do bị khách hàng chiếm dụng Trong điều kiện vốn chủ sở hữu
bị hạn chế, vốn đi vay là chủ yếu chắc chắn Công ty sẽ gặp bất lợi Vì vậy, Công tycần có biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác thu hồi công nợ tránh tìnhtrạng nợ dây dưa, khó đòi của khách hàng để từ đó tăng hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng của Công ty
- Lượng tồn kho lớn chứng tỏ Công ty bị ứ động một lượng vốn lớn làm chậmvòng quay vốn lưu động
- Vốn bằng tiền tuy chiếm tỷ trọng rất nhỏ (1,6-1,8% ) nhưng lại có xu hướngtăng lên Vốn bằng tiền tăng sẽ làm tăng khả năng thanh toán tức thời của Công ty.Tuy nhiên, xét về mặt hiệu quả thì đây là một dấu hiệu không tốt bởi vì tỷ lệ sinh lờitrực tiếp của vốn lưu động bằng tiền sẽ trở nên thấp Do vậy, Công ty không nên để
tỷ trọng vốn bằng tiền tăng nhiều quá, vì điều này đồng nghĩa với tình trạng ứ đọngvốn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong kinh doanh
- Nguồn vốn lưu động khác chủ yếu được dùng để tài trợ cho các khoản tạmứng, văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ, phục vụ quản lý và lại có xu hướng giảmdần Đây là một dấu hiệu tốt, vì trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gaygắt, các doanh nghiệp chỉ thành công khi tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm,
mà một yếu tố quan trọng để hạ giá thành chính là tiết kiệm chi phí ngoài sản xuấtnhư các khoản chi văn phòng, tiếp khách, quản lý Do đó, trong những năm tới Công
ty cần tiếp tục giảm các khoản chi phí này, tránh lãng phí vốn trong kinh doanh, sẽgóp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty
Trang 23Tóm lại, tỷ trọng vốn lưu động dưới dạng các khoản phải thu và hàng tồn kholớn (trên 80%) Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng của Công ty Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động thì Công
ty cần phải tập trung vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng chính các khoản phải thu
và vật tư hàng hoá tồn kho Trong những năm tới, việc đầu tiên là Công ty phải cảithiện cơ cấu nguồn vốn lưu động theo hướng hợp lý hơn
2.1.3 Quy mô vốn lưu động
Xem xét quy mô vốn lưu động trong Công ty sẽ giúp chúng ta thấy được tổng quan về vốn lưu động và là cơ sở cho việc định hướng chính xác cho công tác quản lý vốn lưu động Quy mô vốn lưu động của Công ty được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 5: Quy mô vốn lưu động của Công ty
Đơn vị: Triệu đồngNăm
và các khoản tài sản lưu động khác Việc tăng vốn lưu động dưới các hình thức nàycũng phần nào phản ánh một năm tài chính khó khăn của Công ty Năm 2002, Công
23
Trang 24ty có những biện pháp điều chỉnh thích hợp, những khó khăn phần nào đã được khắcphục nên vốn lưu động của Công ty có xu hướng sáng sủa hơn so với năm 2001.Năm 2002 so với năm 2001 lượng tăng tuyệt đối là 922,669 triệu đồng tương ứngvới tốc độ tăng là 9,74%, quan trọng hơn lượng tăng này lại tập trung chủ yếu vàotiền mặt và các khoản phải thu, trong khi đó các khoản tồn kho và tài sản lao độngkhác giảm một cách đáng kể Để có thể thấy rõ hơn quy mô vốn lưu động của Công
ty trong những năm qua chúng ta quan sát biểu đồ dưới đây:
Mặc dù quy mô vốn lưu động của Công ty không ngừng được mở rộng nhưngvẫn chưa đáp ứng được vốn lưu động cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty
Số liệu dưới đây cho ta thấy mức độ đáp ứng nhu cầu vốn lưu động cho hoạt độngsản xuất kinh doanh và thực tế đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên tạiCông ty trong những năm qua:
Bảng 6: Vốn lưu động thường xuyên của Công ty
Đơn vị : triệu đồng
Trang 252 Tài sản cố định 1976.511 1453.419 886.947
3 VLĐ thường
Nguồn: Báo cáo tài chính các năm từ 2000 đến 2002
Chúng ta thấy, vốn lưu động thường xuyên của Công ty luôn trong tình trạng
âm, tức là Công ty có nguy cơ mất cân bằng thanh toán Nói cách khác, nguồn vốndài hạn không đủ để đáp ứng nhu cầu cho đầu tư dài hạn do đó Công ty phải sử dụngvốn ngắn hạn đầu tư vào TSCĐ Như vậy, nguồn vốn dài hạn thiếu để tài trợ cho tàisản cố định, phản ánh khả năng tài chính của công ty là không được tốt, Công tyluôn thiếu một lượng vốn lưu động thường xuyên để đảm bảo cho hoạt động kinhdoanh của mình diễn ra ổn định và an toàn Tuy nhiên, nếu xét trên góc độ đầu tư tathấy nhu cầu và quy mô đầu tư vào tài sản cố định của công ty rất cao không tươngxứng với quy mô và sự tăng trưởng của nguồn vốn dài hạn, điều này thể hiện rất rõ
25
Trang 26trên biểu là cột TSCĐ luôn ở mức rất cao Lượng vốn lưu động thường xuyên quáthấp (luôn ở mức âm) chứng tỏ công ty đã có quá ít các nguồn dài hạn để trang trảicho các sử dụng dài hạn, thay vào đó Công ty phải sử dụng các khoản ngắn hạn dẫnđến khó khăn về vốn lưu động Để rõ hơn chúng ta phân tích thêm nhu cầu vốn lưuđộng thường xuyên của công ty thông qua bảng nhu cầu vốn lưu động dưới đây.
Bảng 8: Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên của Công ty
Đơn vị: triệu đồng Năm
Nguồn: Báo cáo tài chính các năm từ 2000 đến 2002
Ta thấy rằng, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên của Công ty từ năm 2000đến năm 2002 đều ở mức dương hay tồn kho và các khoản phải thu vượt quá nợngắn hạn Tuy nhiên, mức chênh lệch này không cao lắm năm, năm 2000 là1770,169 triệu, đến năm 2002 là trên 2554,318 triệu đồng Điều này chứng tỏ chỉmột phần rất nhỏ tài sản lưu động của Công ty đã được trang trải bằng các nguồn tàitrợ dài hạn, dù có bất hợp lý nhưng vẫn đảm bảo nhiệm vụ kinh doanh của Công ty.Mặc dù vậy, Công ty vẫn cần có biện pháp giảm hàng tồn kho thu hồi các khoản nợcủa khách hàng để bổ sung vào vốn kinh doanh hoặc đầu tư vào tài sản cố định
2.1.4 Bảo toàn và phát triển vốn lưu động
Bảo toàn vốn lưu động mang tính sống còn đối với mỗi doanh nghiệp Doanhnghiệp bảo toàn vốn lưu động là đảm bảo cho vốn cuối kỳ mua đủ một lượng vật tưhàng hoá tương đương với đầu kỳ ngay cả khi giá cả tăng lên
Trang 27Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, vấn đề bảo toàn vốnlại càng có ý nghĩa đối với hoạt động của Công ty Chính vì vậy, Công ty luôn xácđịnh rõ và thực hiện triệt để các biện pháp bảo toàn vốn nhằm đáp ứng được nhu cầusản xuất kinh doanh của Công ty và đối phó được những biến động của thị trường,các biện pháp bảo toàn vốn lưu động mà Công ty thường áp dụng là:
- Định kỳ 3 tháng tiến hành kiểm kê đánh giá lại toàn bộ vật tư, hàng hoá
- Những vật tư, hàng hóa tồn đọng không thể sử dụng được chủ động giảiquyết nhanh để thu hồi lượng vốn lưu động bị mất
- Tìm biện pháp để loại trừ thua lỗ trong kinh doanh như: áp dụng côngnghệ mới, tăng vòng quay của vốn lưu động
Nhờ áp dụng triệt để các biện pháp bảo toàn vốn và bảo toàn vốn lưu động màCông ty đã thực hiện tốt mục tiêu tăng trưởng, có sự tích luỹ mở rộng tổng nguồnvốn và vốn lưu động sau mỗi năm Cho nên, trong những năm qua tình trạng thiếuvốn kéo dài không xảy ra, lượng vốn lưu động cuối kỳ luôn đủ để có thể trang bị đầy
đủ các loại nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, nhân công cho hoạt động sản xuấtkinh doanh Không những thế, Công ty còn thực hiện tốt công tác phát triển vốn lưuđộng, quy mô vốn lưu động không ngừng được mở rộng cùng với mở rộng tổng vốnkinh doanh Cụ thể: năm 2001 do mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trên thị trường xâydựng nhưng quy mô vốn lưu động vẫn không ngừng tăng cao so với năm 2000,lượng tăng tuyệt đối là 188,420 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ 2,037% Sang năm
2002 con số này còn cao hơn nhiều, năm 2002 so với năm 2001, lượng tăng tuyệtđối là 922,669 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng là 9,74%
2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được
từ hoạt động sản xuất kinh doanh với số vốn lưu động đầu tư cho hoạt động củadoanh nghiệp trong kỳ Với việc cụ thể hoá kết quả kinh doanh và sử dụng vốn lưu
27
Trang 28động bằng các chỉ tiêu sát thực, doanh nghiệp sẽ đánh giá được hiệu quả sử dụngvốn lưu động một cách đúng đắn và khách quan
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động luôn gắn liền với lợi ích và hiệu quả sử dụngvốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc quản lý và sử dụng vốnlưu động kém hiệu quả sẽ làm tốc độ luân chuyển vốn chậm, hiệu quả sử dụng vốnthấp, nghiêm trọng hơn là dẫn đến thất thoát vốn, ảnh hưởng đến quá trình tái sảnxuất, quy mô vốn giảm, làm chu kỳ sản xuất sau thu hẹp hơn so với chu kỳ trước,tình trạng trên nếu kéo dài liên tục thì chắc chắn doanh nghiệp không thể đứng vữngđược trên thị trường Để tìm hiểu xem hiện nay Công ty đã sử dụng vốn lưu động cóhiệu quả hay chưa chúng ta tiến hành xem xét một số khía cạnh sau:
2.2.1 Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động
Hiệu quả vốn lưu động được biểu hiện trước hết ở tốc độ luân chuyển vốn lưuđộng nhanh hay chậm, việc nâng cao tốc độ luân chuyển vốn lưu động có ý nghĩa tolớn Nó chính là điều kiện cơ bản để tăng thu nhập, lợi nhuận, tiết kiệm vốn lưuđộng và cũng là nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệp Tốc độ luân chuyển vốn lưuđộng được thể hiện bằng hai chỉ tiêu cơ bản là số vòng luân chuyển và thời giantrung bình một vòng luân chuyển
Số vòng luân chuyển vốn lưu động.
Trong đó: V là số vòng luân chuyển của vốn lưu động trong kỳ
VLĐBQ là số vốn lưu động bình quân trong kỳ
Số vòng luân chuyển vốn lưu động phản ánh số lần luân chuyển vốn lưu độngtrong một thời kỳ nhất định thường tính trong một năm Nói cách khác, chỉ tiêu nàycho biết 1 đồng vốn lưu động được đưa vào sản xuất kinh doanh sẽ tạo được bao
V = Doanh thu thuần (trong kỳ) VLĐBQ
Trang 29nhiêu đồng doanh thu Số lần luân chuyển càng lớn thì hiệu suất sử dụng vốn lưuđộng của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Thời gian trung bình một vòng luân chuyển.
Trong đó: T thời gian trung bình một vòng luân chuyển vốn lưu động
Số ngày trung bình của một vòng luân chuyển vốn lưu động phản ánh số ngày
để thực hiện một vòng quay vốn lưu động, thời gian một vòng luân chuyển vốn lưuđộng càng ngắn thì càng tốt và ngược lại
Tại Công ty lắp máy và thí nghiệm cơ điện tốc độ luân chuyển vốn lưu động được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 9: Tốc độ luân chuyển vốn lưu động của Công ty
Năm
Vốn LĐBQ (triệu đồng) 9251.302 9439.722 10362.391Doanh thu thuần (triệu đồng) 10646.420 8360.085 8699.32
Trang 30Qua số liệu ở bảng 9 cho thấy, năm 2000 số vòng chu chuyển vốn lưu độngcủa Công ty là 1,150 vòng tương đương với độ dài một vòng luân chuyển là 313ngày Năm 2001, vốn lưu động của Công ty quay được 0,886 vòng tương ứng với độdài một vòng luân chuyển là 407 ngày Tức là năm 2001 so với năm 2000 số vòngluân chuyển giảm 0,264 vòng tương đương với việc tăng độ dài một vòng luânchuyển là 94 ngày Năm 2002, số vòng luân chuyển của vốn lưu động là 0,839 vòngtương ứng với độ dài một vòng luân chuyển là 429 ngày Như vậy, năm 2002 so vớinăm 2001 số vòng luân chuyển giảm 0,47 vòng tương đương với việc độ dài mộtvòng luân chuyển tăng 22 ngày
Trong ba năm số vòng luân chuyển vốn lưu động không cao và có xu hướnggiảm, mức cao nhất chỉ đạt 1,15 vòng trên một năm, cùng với đó là độ dài một vòngluân chuyển tăng, mức thấp nhất là 313 ngày (10,4 tháng) Hơn nữa, Công ty sửdụng một lượng lớn vốn lưu động là vốn đi vay vì vậy, chi phí vốn trong trường hợpnày sẽ rất lớn và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh củaCông ty
Việc tốc độ luân chuyển vốn lưu động của Công ty có chiều hướng xấu đitrong giai đoạn này là do tốc độ tăng của vốn lưu động cao hơn rất nhiều so với tốc
độ tăng của doanh thu Bởi vì, mặc dù năm 2001 Công ty đã mở rộng sản xuất kinhdoanh, đầu tư thêm vốn lưu động, song tốc độ đầu tư vào vốn lưu động tăng nhanhhơn giá vốn hàng bán, việc tăng nhanh hơn này đã làm cho doanh thu tăng chậm hơntốc độ tăng của vốn lưu động, điều này đồng nghĩa với số ngày của một vòng quayvốn lưu động trở nên dài hơn cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, việc số vòng luânchuyển như trên xét về góc độ khách quan có thể chấp nhận được Bởi lẽ, năm 2001
là năm mà thị trường xây dựng phát triển mạnh mẽ, giá nguyên vật liệu trên thịtrường biến động mạnh, có những loại nguyên vật liệu giá tăng tới 20%, trong khinhững hợp đồng của Công ty được ký kết khi giá nguyên vật liệu còn thấp hoặc chưa
Trang 31tăng cao, bên cạnh đó trong năm 2001 Công ty ký kết được nhiều hợp đồng hơn, nêntại thời điểm cuối niên độ vẫn còn nhiều công trình và hạng mục công trình chưađược hoàn thành và bàn giao vì lẽ đó mà tài khoản lưu kho còn cao.
Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty một cáchtoàn diện hơn ta cần kết hợp với kết quả phân tích nhóm chỉ tiêu sức sinh lời của vốnlưu động Từ đó có những biện pháp tốt hơn trong quản lý và sử dụng vốn lưu động,tránh lãng phí, giảm chi phí, tăng lợi nhuận và hiệu quả sử dụng vốn lưu động, hiệuquả kinh doanh, đảm bảo tăng trưởng và phát triển của vốn trên cơ sở có hệ số sinhlời cao
2.2.2 Sức sinh lời của vốn lưu động
Đây là nhóm chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng, làkết quả tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộphận cấu thành vốn lưu động Sức sinh lời được phản ánh qua hai chỉ tiêu: hệ số sinhlời và hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động
Hệ số sinh lời của vốn lưu động
Trong đó: HSL : Hệ số sinh lời vốn lưu động
VLĐbq : Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Hệ số sinh lời của vốn lưu động hay còn gọi là mức doanh lợi vốn lưu độngphản ánh một đồng vốn lưu động đưa vào sản xuất kinh doanh có thể tạo ra baonhiêu đồng lợi nhuận Hệ số sinh lời vốn lưu động càng cao thì hiệu quả sử dụng vốnlưu động càng có hiệu quả và ngược lại
Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động:
Trang 32Trong đú: HĐN là hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động
Chỉ tiờu này phản ỏnh số vốn lưu động cần cú để đạt được một đồng doanhthu Hệ số này tỷ lệ nghịch với chỉ tiờu sức sản xuất của vốn lưu động nờn càng nhỏthỡ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại
Tại Cụng ty lắp mỏy và thớ nghiệm cơ điện, thực tế sức sinh lời của vốn lưuđộng trong những năm qua được thể hiện qua bảng sau đõy:
Bảng10 : Sức sinh lời của vốn lưu động của Cụng ty
Năm
Vốn LĐBQ (triệu đồng) 9251.302 9439.722 10362.391Doanh thu thuần (triệu đồng) 10646.42 8360.085 8699.32
Nguồn: Báo cáo tài chính các năm từ 2000 đến 2002
Từ kết quả phân tích hai chỉ tiêu trên ta thấy, cả hệ số sinhlời và hệ số đảm nhiệm vốn lu động đều không lấy gì làm khảquan: hệ số sinh lời thì liên tục giảm, trong khi đó hệ số đảmnhiệm lại liên tục tăng Nói cách khác, càng ngày vốn lu động củaCông ty sử dụng càng kém hiệu quả Vì vậy, trong thời gian tớiCông ty cần quan tâm hơn tới công tác quản lý và sử dụng vốn lu
động của mình, tránh tình trạng lãng phí vốn lu động
Trang 33Ngoài hai chỉ tiêu phản ánh tốc độ chu chuyển và sức sinhlời của vốn lu động, để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu độngmột cách toàn diện hơn chúng ta cần phải xem xét một số chỉtiêu hoạt động sau đây:
2.2.3.1Các chỉ số về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của Công ty tốt hay xấu ảnh hởng trựctiếp tới hiệu quả hoạt động của Công ty Bởi vậy, để đánh giáhiệu quả sử dụng vốn lu động không thể không đánh giá tìnhhình và khả năng thanh toán Khả năng thanh toán của Công ty đ-
ợc thể hiện qua một số chỉ tiêu nh khả năng thanh toán chung, khảnăng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán chung:
Trong đú: CR là hệ số thanh toỏn chung
TSLĐBQ là tài sản lưu động bỡnh quõn
Hệ số thanh toỏn chung phản ỏnh mối quan hệ giữa tài sản lưu động và cỏckhoản nợ ngắn hạn Hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệpđược đảm bảo thanh toỏn bằng bao nhiờu đồng tài sản lưu động Hệ số thanh toỏnchung cao sẽ phản ỏnh khả năng thanh toỏn cỏc khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp
là tốt Tuy nhiờn, khụng phải hệ số này càng cao là càng tốt, vỡ khi đú cú một lượngtài sản lưu động lớn bị tồn trữ, làm việc sử dụng tài sản lưu động khụng hiệu quả, vỡ
bộ phận này khụng sinh lời Do đú, tớnh hợp lý của hệ số thanh toỏn chung cũn phụthuộc vào từng ngành nghề, gúc độ của người phõn tớch cụ thể Thụng thường tỷ sốnày chấp nhận được nếu lớn hơn hoặc bằng 2
33
CR = TSLĐBQ Tổng nợ ngắn hạn
Trang 34 Hệ số thanh toán nhanh:
Trong đó: QR là hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh đo lường mức độ đáp ứng nhanh của vốn lưu độngtrước các khoản nợ ngắn hạn Hệ số phản ánh khả năng thanh toán bằng tiền và cácphương tiện có thể chuyển hoá nhanh thành tiền của doanh nghiệp
Cũng như hệ số thanh toán chung, độ lớn hay nhỏ của hệ số này còn tuỳ thuộcvào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể thì mới có thể kết luận là tích cực hay khôngtích cực Tuy nhiên nếu hệ số này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp phải khó khăntrong việc thanh toán công nợ Thông thường nếu hệ số này lớn hơn hoặc bằng 1 làrất tốt, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán nhanh và ngược lại
Hệ số thanh toán tức thời:
Hệ số này phản ánh khả năng chi trả tức thời của doanh nghiệp đối với cáckhoản nợ khẩn cấp đòi hỏi phải thanh toán ngay Nếu hệ số này cao thì doanh nghiệp
có khả năng thanh toán rất nhanh và ngược lại Nhưng nếu hệ số này quá lớn chứng
tỏ doanh nghiệp có quá nhiều vốn nhàn rỗi, lãng phí dẫn đến không hiệu quả, nhưngnếu chỉ tiêu này mà quá thấp thì khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp là chưatốt Tuy nhiên, khó có thể nói cao hay thấp ở mức nào là tốt và không tốt Vì nó cònphụ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh hoặc góc độ của người phân tích Thông thường,nếu hệ số này lớn hơn hoặc bằng 1 tức là doanh nghiệp có khả năng thanh toán tứcthời tốt
Hệ số thanh toán tức thời = Tiền mặt
Tổng nợ ngắn hạn
= TSLĐBQ - Hàng lưu kho Tổng nợ ngắn hạn
QR
Trang 35Thực tế khả năng thanh toán ở Công ty Lắp máy và Thí nghiệm cơ điện nhữngnăm qua được mô tả ở bảng sau đây:
Bảng 11: Khả năng thanh toán của Công ty.
Nguồn: Báo cáo tài chính các năm từ 2000 đến 2002Các số liệu bảng 11cho ta thấy: khả năng thanh toán của công ty là tốt Chỉ tiêu khả năng thanh toán chung các năm đều lớn hơn 1 và có xu hướng tăng Cụ thể,
hệ số thanh toán chung các năm 2000, năm 2001, năm 2002 lần lượt là 1,357; 1,362
và 1,449 Có nghĩa là trong các năm này, một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo lần lượt là 1,357; 1,362 và 1,449 đồng tài sản lưu động Các con số này chứng tỏ tức cáckhoản nợ của Công ty hoàn toàn có thể được thanh toán bằng tài sản của Công ty, nếu tình trạng xấu xảy công ty không phải sử dụng tài sản cố định để thanh toán nợ Trong ngắn hạn, Công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ bằng chính tài sản lưu động mà không phải thanh lý tài sản cố định
35
Trang 36Hệ số khả năng thanh toán nhanh cũng ở mức cao, hệ số khả năng thanh toánnhanh các năm 2000, 2001, 2002 lần lượt là 1,111; 1,087 và 1,239 điều này có nghĩa
là trong các năm này, một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo lần lượt là 1,111; 1,087
và 1,239 đồng tài sản lưu động dưới dạng tiền và các phương tiện có thể chuyển hoánhanh thành tiền của doanh nghiệp Các hệ số này đều lớn hơn 1 vì vậy, đối với cáckhoản nợ khẩn cấp đòi hỏi phải thanh toán ngay thì công ty vẫn có khả năng đảmbảo Mặc dù chỉ số thanh toán nhanh năm 2001 có phần thấp hơn năm 2000 và năm
2002 những vẫn đảm bảo đều lớn hơn 1 Khả năng thanh toán nhanh của năm 2001giảm so với năm 2000 là do lượng tồn kho tăng lên, đồng thời do giá trị sản lượngcủa công ty tăng cao trong năm 2001 nên nhu cầu về vốn lưu động cho công trìnhđòi hỏi công ty phải đẩy mạnh vay nợ
Hệ số khả năng thanh toán tức thời các năm 2000, 2001, 2002 lần lượt là0,003; 0,023 và 0,027 điều này có nghĩa là trong các năm này, một đồng nợ ngắnhạn được đảm bảo lần lượt là 0,003; 0,023 và 0,027 đồng tài sản lưu động dướidạng tiền mặt Các hệ số này đều rất nhỏ, điều đó có nghĩa là khả năng chi trả nợngắn hạn bằng tiền mặt của Công ty là rất kém, nó cũng chứng tỏ phần vốn bằng tiềnchiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng tài sản lưu động của Công ty Vì vậy, khi phát sinhnhu cầu về tiền mặt với số lượng lớn Công ty sẽ không còn cách nào khác là phải đivay ngắn hạn với lãi suất cao, dẫn tới tăng chi phí về vốn Thực tế này đang xảy ravới hầu hết các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng Bởi vì, đối với mộtdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng đòi hỏi thời gian thi công kéo dài,lượng dự trữ nguyên vật liệu sẽ lớn do đó vốn kinh doanh tập trung vào nguyên vậtliệu dự trữ và giá trị công trình dở dang, vốn tiền mặt chiếm tỷ trọng nhỏ
2.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả các bộ phận cấu thành vốn
lưu động