Nghiên cứu phân loại họ bông (Malvaceae juss.) ở Việt Nam
Trang 1Bộ Giáo dục và đào tạo Viện khoa học
Và công nghệ việt nam
Viện sinh thái vμ tμi nguyên sinh vật
-*** -
Đỗ Thị Xuyến
Nghiên cứu phân loại
họ Bông (Malvaceae Juss.) ở Việt Nam
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 62 42 20 01
Tóm tắt Luận án tiến sĩ sinh học
Hà Nội – 2008
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Vũ Xuân Phương
Phản biện 1: GS TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn
Nơi công tác: Đại học Quốc gia Hà Nội
Phản biện 2: PGS TSKH Trần Công Khánh
Nơi công tác: Trường Đại học Dược Hà Nội
Phản biện 3: PGS TS Trần Văn Ba
Nơi công tác: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Luận án sẽ được bản vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước họp tại Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật vào hồi 9 giờ ngày 20 tháng 5 năm 2008
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia
Thư viện Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
GS TSKH Nguyễn Tiến Bân
Trang 3Danh mục các công trình của tác giả
1 Đỗ Thị Xuyến, Nguyễn Khắc Khôi, 2002: “Đặc điểm và phân bố của các loài cây thuốc họ Bông ở Việt Nam”, Tạp chí Dược liệu 5(7): 133-
4 Đỗ Thị Xuyến, Nguyễn Khắc Khôi, 2004: “Nhận biết loài Cối xay được
sử dụng làm thuốc trong chi Abutilon Mill (Malvaceae) ở Việt Nam”, Tạp chí Dược liệu 2(9): 37-39
5 Đỗ Thị Xuyến, 2004: “Hệ thống phân loại họ Bông (Malvaceae Juss.) ở Việt Nam”, Tạp chí Sinh học, 26(4A): 23-26 Hà Nội
6 Đỗ Thị Xuyến, Nguyễn Khắc Khôi, 2004: “Một số kết quả nghiên cứu phân loại chi Bông- Gossypium L (Họ Bông – Malvaceae Juss.) ở Việt Nam” Tạp chí Sinh học, 26(4A): 61-63 Hà Nội
7 Đỗ Thị Xuyến, 2004: “Giá trị tài nguyên của họ Bông (Malvaceae) ở Việt Nam”, Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, Nxb Khoa học và kỹ thuật, 729-732, Hà Nội
8 Đỗ Thị Xuyến, 2005 Bổ sung một loài của chi Sida L cho hệ thực vật Việt Nam Tạp chí sinh học, 27(3): 16-18 Hà Nội
9 Đỗ Thị Xuyến, Nguyễn Tiến Bân, 2005 Chỉnh lại tên đúng cho loài Bụp chẻ (họ Malvaceae) ở Việt Nam Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống 353-354 NXB Khoa học và Kỹ thuật
10 Đỗ Thị Xuyến, 2005 Chi Thập tự – Decaschistia Wight & Arn 1834 (Malvaceae Juss.) ở Việt Nam Báo cáo khoa học hội thảo toàn quốc đa dạng sinh học Việt Nam: nghiên cứu, giáo dục, đào tạo 185-188 Hà Nội
11 Đỗ Thị Xuyến, 2005 ứng dụng chương trình máy tính TNT phiên bản 1.0, 2005 để tìm hiểu mối quan hệ gần gũi có thể của các loài thuộc chi Sida L (Malvaceae) ở Việt Nam Báo cáo khoa học hội thảo toàn quốc
đa dạng sinh học Việt Nam: nghiên cứu, giáo dục, đào tạo 189-192 Hà Nội
12 Đỗ Thị Xuyến, 2005 Một số dẫn liệu mới về chi Đậu bắp (Abelmoschus Medic.) ở Việt Nam Báo cáo khoa học về sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội thảo khoa học lần thứ nhất 269-274 NXB Nông nghiệp
13 Đỗ Thị Xuyến, 2006 Bổ sung loài Sida schezuensis Matsuda (họ Bông
- Malvaceae) cho hệ thực vật Việt Nam Tạp chí sinh học, 28(3): 40-42
Hà Nội
Trang 4Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Nghiên cứu phân loại thực vật là chuyên ngành quan trọng không thể thiếu được Nhờ có phân loại thực vật đúng và chính xác là cơ sở khoa học cho các lĩnh vực khoa học khác như: Sinh lý thực vật, Địa
lý thực vật, Công nghệ sinh học, Dược học, Y học,…
Họ Bông (Malvaceae Juss.) là một họ thực vật có ý nghĩa lớn cả
về mặt kinh tế và khoa học ở Việt Nam, họ Bông có 17 chi với 60 loài trong đó có nhiều loài có giá trị thực tiễn như làm thuốc, làm cảnh, cho rau ăn,…
ở nước ta trước đây cũng có một số tác giả nghiên cứu phân loại
họ Bông nhưng những nghiên cứu đó hoặc đã từ lâu, hoặc chỉ sơ bộ nên việc có một công trình nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống
và cập nhật được nhiều thông tin nhất về phân loại họ Bông ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết Để góp phần vào kho tàng phân loại thực vật ở Việt Nam, tiến tới biên soạn bộ sách “Thực
vật chí Việt Nam”, tôi đã tiến hành đề tài luận án: Nghiên cứu phân
loại họ Bông (Malvaceae Juss.) ở Việt Nam
2 Mục đích của đề tài luận án
Hoàn thành công trình khoa học về phân loại họ Bông (Malvaceae Juss.) ở Việt Nam một cách có hệ thống, đầy đủ và chính xác nhất, làm cơ sở biên soạn Thực vật chí Việt Nam về họ này cũng như phục
vụ tốt hơn cho công tác nghiên cứu, đào tạo các ngành liên quan
3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
* ý nghĩa khoa học
- Kết quả của đề tài là tài liệu cơ bản về phân loại thực vật họ Bông (Malvaceae Juss.) ở Việt Nam, góp phần bổ sung thêm vốn kiến thức cho chuyên ngành phân loại thực vật, tạo sự hiểu biết sâu sắc hơn về mặt phân loại cho họ Bông (Malvaceae Juss.) ở Việt Nam
Trang 5- Xây dựng cơ sở khoa học cho việc biên soạn bộ sách “Thực vật chí Việt Nam” về họ Bông (Malvaceae Juss.)
* ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học phục vụ cho các ngành ứng dụng và sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, y – dược, sinh thái, tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học,… Góp phần nâng cao chất lượng
sử dụng các phương pháp trong nghiên cứu và giảng dạy môn phân loại thực vật nói chung trong đó có họ Bông nói riêng
4 Những điểm mới của đề tài luận án
- Lần đầu tiên sau gần một thế kỷ, đây là công trình khảo cứu đầy đủ và
có hệ thống về phân loại họ Bông ở Việt Nam Các taxon của họ này
được sắp xếp trong hệ thống phân loại hợp lý theo hiểu biết hiện nay
- Toàn bộ các taxon thuộc họ Bông ở Việt Nam đã được chỉnh lý về mặt danh pháp (nếu có), trích dẫn tài liệu, mô tả các đặc điểm có hình vẽ và ảnh màu minh hoạ
- Đã phát hiện bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam 4 taxon gồm 2 loài,
1 phân loài, 1 thứ
- Lần đầu tiên sơ đồ về mối quan hệ gần gũi có thể có giữa các chi trong họ Bông ở Việt Nam được xây dựng dựa trên kết quả ứng dụng chương trình máy tính PAUP và TreeView
5 Bố cục của đề tài luận án
- Luận án gồm 154 trang, 81 hình vẽ, 1 bản đồ, 8 bảng, 48 ảnh màu
- Luận án gồm các phần: Mở đầu (3 trang), Chương 1: Tổng quan tài liệu (24 trang), Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu (4 trang), Chương 3: Kết quả nghiên cứu (121 trang), Kết luận (2 trang), Danh mục các công trình công bố của tác giả (13 công trình), Tài liệu tham khảo (153 tài liệu) và phụ lục: Bảng tra cứu tên khoa học, Bảng tra cứu tên Việt Nam, Giải thích một số cách viết tên khoa học và danh mục viết tắt các phòng tiêu bản, Thứ tự các tỉnh, thành phố ở Việt Nam và bản đồ phân bố các loài trong chi (14 bản
Trang 6đồ), Danh lục các loài cây có giá trị sử dụng thuộc họ Bông
(Malvaceae) ở Việt Nam
Chương 1- Tổng quan tμi liệu 1.1 Vị trí của họ Bông (Malvaceae Juss.) trong bộ Bông
(Malvales) và lớp Mộc Lan (Magnoliopsida)
Về vị trí của họ Bông có một số quan điểm khác nhau như
Bentham & Hooker (1862), Dalla Torre & H Harms (1900-1907),
Schultze-Motel (1964), J Hutchinson (1969), A Takhtajan (1973,
1981, 1987, 1997), A Cronquist (1981), D A Young (1982), R F
Thorne (1983), V H Heywood (1993), C Bayer & K Kubitzki
(2003),… Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng hầu như các
tác giả đều thống nhất xếp họ Bông (Malvaceae) trong bộ Bông
(Malvales) nằm trong lớp Mộc lan (Magnoliopsida)
Bảng 1.1 Một số quan điểm về vị trí của họ Bông (Malvaceae)
trong bộ Bông (Malvales) và phân lớp thuộc lớp Mộc lan
Tác giả, năm công bố Vị trí trong phân lớp Vị trí trong bộ
G Bentham & Hooker (1862) Polypetalae Malvales
D.Torre & H Harms (1900-1907) Archichlamydeae Malvales
Schultze-Motel (1964) Archichlamydeae Malvales
J Hutchinson (1969) Lignosae Malvales
A Cronquist (1981) Dilleniidae Malvales
D A Young (1982) Dilleniidae Malvales
Trang 7Trong bộ Bông (Malvales), họ Bông (Malvaceae) thường được xếp trong cùng một bộ với các họ như họ Gạo (Bombacaceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Đay (Tiliaceae), họ Côm (Elaeocarpaceae) bởi các đặc điểm giống nhau như vỏ thân thường có sợi, lá thường
đơn, mọc cách, có lá kèm, hoa chủ yếu là mẫu 5, cánh hoa rời, nhị nhiều, chỉ nhị ít nhiều dính lại với nhau thành 1 hay nhiều bó, bao phấn 1-2 ô, quả thường là quả nang
1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu và các hệ thống phân loại họ Bông
1.2.1 Trên thế giới
Trên thế giới, họ Bông đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
từ rất sớm Ngay từ giữa thế kỷ 18, Linnaeus (1753), A J Cavanilles (1785), hay F C Medikus (1787) đã mô tả và đặt tên cho một số chi
và loài mà về sau được xếp vào họ Bông Năm 1789, Jussieu (Juss.) chính thức đặt tên cho họ Bông là Malvaceae với chi chuẩn (typus) là
Malva L và từ đây các taxon thuộc họ Bông mới được sắp xếp lại
Về mặt hệ thống phân loại có các quan điểm sau đây:
* Quan điểm coi họ Bông theo nghĩa hẹp (Malvaceae sensu stricto).
Họ Bông (Malvaceae Juss.) không bao gồm các taxon thuộc họ Gạo (Bombacaceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Đay (Tiliaceae) Trong
quan điểm này có 2 cách phân chia họ Bông:
Cách phân chia 1: Chia họ Bông (Malvaceae) ra thành các tông
(Trib.), sau đó chia tiếp thành các phân tông (Subtrib.):
G Bentham & J D Hooker (1862) có thể được coi là những người đầu tiên đặt nền móng cho cách phân chia họ Bông thành các tông rồi sau đó chia tiếp thành các phân tông, về sau có một số quan
điểm của các tác giả K Schumman (1895), H L Edlin (1935), W Schultze-Motel (1964), P A Fryxell (1988)
Trang 8Schultze-Motel (1964)
P A Fryxell (1988) Malveae
Malvastrum, Kydia) Sidinae
Malveae
Malopeae Mavastreae (incl
Malvastrum) Alceae Abutileae (incl Kydia) Sideae Plagiantheae
Ureneae
(incl Pavonia, Malvaviscus)
Malvavisceae
Ureneae Malvavieae Pavonieae
Hibisceae
Kosteletzkyeae Hibisceae
Gossypieae Bombaceae họ
Bombacaceae
họ Bombacaceae Hibisceae
họ Bombacaceae
họ Bombacaceae
Ghi chú: Các hệ thống của Bentham & Hooker (1862), P A Fryxell (1988)
đã đồng nhất tên gọi cho bậc tông và phân tông đều có đuôi là –eae
Cách phân chia 2: Chia họ Bông (Malvaceae) thành các tông (Trib.)
rồi chia trực tiếp đến các chi (Gen.)
Đi theo quan điểm này có một số tác giả nh− A Takhtajan (1981,
1987, 1997), D J Mabberley (1987), V H Heywood (1993)
Trang 9D Mabberley (1987)
V H Heywood (1993)
Malopeae
Malveae
Malopeae Malveae Abutileae
(incl Malvastrum)
Malveae
Malopeae Malveae (incl.
Malvastrum) Abutileae
Hibisceae
Gossypieae
Hibisceae Hibisceae
Gossypieae Decaschistieae
Hibisceae
Theo hai bảng 1.4 và 1.5 trên đây, ngày nay tông Bombaceae đã
đ−ợc tách ra thành một họ riêng (họ Gạo - Bombacaceae) cho nên quan điểm hệ thống phân loại họ Bông (Malvaceae) với sự có mặt
của tông Bombaceae trong họ Malvaceae đã không đ−ợc thừa nhận
nữa
Theo Schumann (1895), Edlin (1935), Schultze-Motel (1964) thì
tông Malveae đã đ−ợc tách ra thành 2 tông là Malopeae và tông Malveae Thực chất đây là sự nâng cấp phân tông Malopinae của Bentham & Hooker lên thành tông Malopeae Quan điểm nâng tông
này cũng giống nh− quan điểm của một số tác giả khác nh− Takhtajan (1981, 1987, 1997), Heywood (1993) Ngoài ra, theo
Takhtajan (1981), Fryxell (1988) có sự chia nhỏ tông Hibisceae thành 2 tông Hibisceae và Gossypieae, hay sự chia nhỏ nữa đ−ợc thấy
ở hệ thống của Mabberley khi chia tông Hibisceae thành 3 tông là Hibisceae, Gossypieae và Decaschistieae nh−ng việc chia nhỏ này
hầu nh− không đ−ợc các tác giả nghiên cứu về sau đồng ý Có thể thấy rõ điều này ở quan điểm của một số tác giả nh− Takhtajan (1987, 1997) và Heywood (1993) khi thống nhất việc hợp các tông
Trang 10trên thành một tông duy nhất là Hibisceae Bên cạnh đó, lại có sự công nhận độc lập của tông Abutileae gặp ở hệ thống của Takhtajan
(1987, 1997) và Heywood (1993) mà thực chất là việc nâng phân
tông Abutilinae lên thành tông Abutileae do đặc điểm núm nhụy hình dải hay thuôn dài của Malveae khác hẳn so với núm nhụy hình đầu của Abutileae Đặc điểm núm nhụy hình dải hay thuôn dài đ−ợc coi
là một đặc điểm nguyên thủy hơn so với đặc điểm núm nhuỵ hình
đầu, hơn nữa cùng với sự giảm số l−ợng của các lá noãn và dần dần
mất đi trục quả nên tông Abutileae đ−ợc nhấn mạnh là tiến bộ hơn tông Malveae Do vậy, quan điểm công nhận sự độc lập của tông Abutileae đã đ−ợc nhiều tác giả đồng tình Nh− vậy, sự tồn tại độc lập của các tông Malopeae, Malveae, Abutileae, Ureneae, Hibisceae là
rõ ràng, trong đó:
Tông Malopeae đ−ợc đặc tr−ng bởi lá noãn xếp thành 2 hay
nhiều vòng chồng lên nhau, khác hẳn với tất cả các tông khác có lá noãn xếp thành 1 vòng đơn
Tông Malveae đặc tr−ng bởi núm nhuỵ hình dải hay thuôn dài;
số l−ợng nhánh vòi nhụy bằng số l−ợng lá noãn và quả liệt, khác với tất cả các tông khác có núm nhuỵ hình đầu
Tông Abutileae đặc tr−ng bởi núm nhuỵ hình đầu; số l−ợng
nhánh vòi nhụy bằng số l−ợng lá noãn và quả liệt
Tông Ureneae đặc tr−ng bởi số l−ợng nhánh vòi nhụy gấp hai số
l−ợng lá noãn và quả liệt hay quả mọng
Tông Hibisceae đặc tr−ng bởi quả nang, khác hẳn với tất cả các
tông khác mang đặc điểm quả liệt
* Quan điểm coi họ Bông (Malvaceae) theo nghĩa rộng (Malvaceae
sensu lato), họ Bông (Malvaceae Juss.) là một phân họ Malvoideae trong họ Bông (Malvaceae sensu lato) với sự có mặt của họ Đay (Tiliaceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Gạo (Bombacaceae).
Trang 11Dựa vào các kết quả nghiên cứu ADN của lục lạp, các dữ liệu về sinh học phân tử, một số tác giả như Bayer et al (1998), Thorne (2000), S R Hinsley (2002-2004), C Bayer & K Kubizki (2003) đã
đưa ra quan điểm mới Quan điểm này đã chỉ ra mối quan hệ giữa các chi và coi Malvaceae là một taxon bậc họ với nghĩa rộng bao gồm cả các taxon thuộc Sterculiaceae, Tiliaceae, Bombacaceae, nhưng các tác giả trên cũng thừa nhận mối quan hệ này đôi khi không được rõ ràng Thực ra, dựa vào các kết quả của nghiên cứu sinh học phân tử gần đây, người ta đã đưa ra rất nhiều các quan điểm khác nhau chỉ dựa vào những yếu tố nhỏ ví dụ như thành phần của rbcL/atpB trong lục lạp Các kết quả phân tích sinh học phân tử đã đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, trong các kết quả đó đôi khi chính các tác giả vẫn còn có những nghi ngờ như chưa chắc chắn về vị trí của các taxon Mặt khác, một số tác giả chấp nhận quan điểm Malvaceae sensu lato thì lại cùng lúc đưa ra 2 quan điểm Malvaceae sensu lato và Malvaceae sensu stricto trong cùng một công trình của mình Điều đó cho thấy, những quan điểm này rất phức tạp và chưa
đồng nhất Trong phạm vi luận án này, chúng tôi đi theo quan điểm truyền thống, phân loại họ Bông theo phương pháp hình thái so sánh, coi họ Bông theo nghĩa hẹp (Malvaceae sensu stricto) (Malvaceae Juss.) là một taxon bậc họ để nghiên cứu phân loại họ Bông ở Việt Nam
1.2.2 ở các nước lân cận và Việt Nam
* ở một số nước lân cận với Việt Nam, cũng có một số công trình nghiên cứu họ Bông (Malvaceae Juss.) như: M T Masters (1875) ở
ấn Độ, W J van Borss (1966-1967) ở Malaysia, C A Backer & R
C Bakhuizen (1965) ở Java (Inđônêxia), K M Feng (1984) ở Trung Quốc, C E Chang (1993) ở Đài Loan,…
* ở Việt Nam, J Loureiro (1790), là người đầu tiên mô tả các taxon của họ Bông ở miền Nam Việt Nam Trong đó tác giả đi theo
Trang 12quan điểm của Linnaeus, đa số các taxon của họ Bông được xếp vào phân lớp nhiều nhị (Polyalthia) F Gagnepain (1910), khi nghiên cứu
họ Bông ở Đông Dương đã lập khoá định loại và mô tả 14 chi với 76 loài có ở Đông Dương và Thái Lan trong đó Việt Nam được ghi nhận
có 11 chi, 43 loài Đây là công trình thực vật chí họ Bông duy nhất ở Việt Nam Các công trình của Phạm Hoàng Hộ (1970, 1991, 1999) chỉ mô tả ngắn gọn các loài với hình vẽ đơn giản Ngoài ra còn có một số công trình có tính chất giới thiệu về một số taxon cụ thể của
họ này
Chương 2 - Đối tượng, nội dung vμ phương pháp
nghiên cứu 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các taxon của họ Bông (Malvaceae) được ghi nhận trong hệ thực vật Việt Nam, dựa trên các tiêu bản khô, các
ảnh chụp, các tư liệu, các mẫu tươi sống được thu thập qua các chuyến đi thực địa Tổng số gồm 2645 mẫu tiêu bản của 879 số hiệu
2.2 Nội dung nghiên cứu:
+ Lựa chọn hệ thống phân loại thích hợp cho việc sắp xếp các taxon của họ Bông ở Việt Nam
+ Tìm hiểu đặc điểm hình thái của họ Bông qua các đại diện ở Việt Nam
+ Xây dựng khoá định loại các chi, các loài của họ Bông ở Việt Nam + Mỗi loài được trình bày: tên khoa học, tên Việt Nam phổ biến, tài liệu gốc và các tài liệu chính đề cập đến loài, các tên đồng nghĩa, mô tả tóm tắt, Loc.class., Typus, sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng (nếu có)
+ ứng dụng tin học trong việc tìm hiểu mối quan hệ gần gũi có thể giữa các chi trong họ Bông ở Việt Nam
+ Tìm hiểu giá trị tài nguyên của các loài trong họ Bông
Trang 132.3 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp hình thái so sánh Phương pháp này tuy đơn giản so với nhiều phương pháp khác, nhưng thích hợp với điều kiện ở nước ta, lại dễ dàng trong nghiên cứu do trang thiết bị không phức tạp, dễ sử dụng, và về mặt khoa học vẫn cho những kết quả đáng tin cậy Tiến hành đồng thời các công tác điều tra, quan sát, phân tích, thu thập mẫu vật, tài liệu cùng nghiên cứu mẫu vật khô trong các phòng tiêu bản
Chương 3 - Kết quả nghiên cứu 3.1 Đặc điểm hình thái họ Bông (Malvaceae Juss.) ở Việt Nam
Thường gặp là những cây bụi hay cây thân cỏ, đôi khi là những cây gỗ lớn Thân và cành thường màu xanh, một số ít màu đỏ hay tía Lá đơn, mọc cách, có lá kèm Hoa mọc đơn độc hay tập hợp thành cụm hoa hình xim một ngả đơn, xim hai ngả đơn ở nách lá hoặc đỉnh cành ở một số đại diện của các chi còn có hoa xếp thành chùm ở
đỉnh cành hay ở đỉnh cành và ở nách lá, chùm đơn hay chùm kép hoặc cụm hoa xim dạng tán, chùy (của) tán Hoa đều, lưỡng tính, bao hoa mẫu 5, hiếm khi gặp hoa đơn tính cùng gốc Đài phụ thường rời
hay dính lại, hiếm khi không có đài phụ Đài thường ít nhiều hợp
Cánh hoa thường 5, rời Nhị nhiều, chỉ nhị thường dính lại với nhau thành một ống bao xung quanh bầu và vòi nhuỵ gọi là ống chỉ nhị Bao phấn đính gốc hay đính lưng Mỗi bao phấn có 1 ô Bầu trên, lá noãn rời hay dính, mỗi lá noãn có 1 hay nhiều noãn Vòi nhuỵ phân nhánh với số lượng nhánh vòi nhuỵ bằng hay gấp 2 lần số lượng lá noãn Núm nhuỵ hình đầu hoặc hình dải hay thuôn dài Quả tự mở dạng quả nang, hay quả không tự mở dạng quả liệt, ít khi là quả mọng Hạt hình thận, hình trứng hay trứng ngược, gần hình tròn hiếm khi hình tam giác có cạnh
Typus: Malva L