1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng hấp thụ và phân giải thuốc bảo vệ thực vật phục vụ xử lý ô nhiễm nguồn nước mặt potx

10 592 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 312,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khả năng hấp thụ, phân giải thuốc BVTV của cây ngổ dại ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau * Đối với cây ngổ non: Mặc dù ở các nồng độ xử lý cao 500 ppm, thuốc Chlopyrifos Ethyl và Cy

Trang 1

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẤP THỤ VÀ PHÂN GIẢI

THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT PHỤC VỤ XỬ LÝ Ô NHIỄM

NGUỒN NƯỚC MẶT

guyễn Hồng Sơn 1 , Hoàng Long 1 ,

Lê Văn hạ 1 , Trần Quốc Việt 1 , Đinh Thị gọc 2

SUMMARY

Research on pesticide adsorption and decomposition for polluted surface water

treatment

Pesticide residue in surface water is considering as an important pollutant contaminating crop product and threatening living environment of farmer at rural areas

In Vietnamese agriculture production, pesticide may be run off into surface water by the leaching from field application and non appropriate treated water in pesticide processing and packing bases Up to date, there are numerous promising techniques for pesticide pollution treatment such as physical, chemical and biological However the adsorption and decomposition of floating plant is considerable one as the most effective, cheapest, feasible and environmentally sound for waste water in many countries Whereas there has not been systematic research on application of native plants for pesticide polluted water treatment

in Vietnam This paper introduced findings of primary studies on exploring adsorption and decomposition potentiality of such floating plant as Eichhornia crassipes Solms; Enhydra

fluctuant and Phragmites autralis for treating surface water polluted with pesticide It is

indicated that all of those 3 trial plants proved high efficacy to adsorb and decompose both selected pesticide groups (Organo - Phosphorous and Pyrethroid) in water polluted at 100 and 200 ppm of activity ingredient and the product after treatment can be meet the requirement pesticide residue permitted in irrigation water as Vietnamese Standard When the level of pollution is higher than 500 ppm, the growth of all plants is badly effected, thus they can not do well treatment targeting to standard irrigation water promulgated for agriculture

Keywords: Floating plants; pesticide polluted water; adsorption; decomposition

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hầu hết các vùng sản xuất tập trung ở

nước ta hàng năm thường thải ra một lượng

lớn chất hữu cơ (thân, lá, rễ của cây trồng,

cỏ dại và phân bón) và hoá chất bảo vệ thực

vật (BVTV) Bên cạnh đó, nguy cơ gây ô

nhiễm môi trường do thuốc BVTV từ các

cơ sở sản xuất, gia công cũng đang trở thành vấn đề cấp bách Hiện chúng ta có tới hàng trăm cơ sở gia công thuốc BVTV, các

cơ sở thường có hồ thu nước thải và xử lý bao bì sau sử dụng Do chưa được xử lý theo các công nghệ phù hợp, các hồ chứa

Trang 2

nước này thường thải ra môi trường nguồn nước chứa dư lượng thuốc vượt mức cho phép

Theo các kết quả nghiên cứu trước đây thì các loài thực vật thuỷ sinh có thân rỗng, khả năng tăng sinh khối lớn như ngổ dại, dừa nước là những loài có khả năng hấp thụ cao các chất hữu cơ Tuy nhiên, khả năng hấp thụ của chất hữu cơ và hóa chất nông nghiệp của các loài thực vật không hoàn toàn giống nhau Một số công trình nghiên cứu trên thế giới cũng khẳng định, nhiều loài thuốc BVTV có thể xâm nhập vào cơ thể thực vật qua lá, thân, rễ và được lưu

giữ, phân giải hoặc chuyển hoá trong cơ thể thực vật thành các dạng không độc Trong khi đó ở nước ta hầu như chưa có nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu về khả năng hấp thụ thuốc BVTV của các loài thực vật thuỷ sinh để ứng dụng chúng vào mục đích xử lý nguồn nước bị ô nhiễm thuốc BVTV Để góp phần tạo lập cơ sở khoa học bước đầu

về khả năng ứng dụng thực vật trong xử lý

ô nhiễm thuốc BVTV, chúng tôi đã tiến

hành nghiên cứu đề tài: ghiên cứu khả

năng sử dụng thực vật phân giải thuốc BVTV phục vụ xử lý ô nhiễm nguồn nước mặt trong các vùng sản xuất rau an toàn

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Vật liệu nghiên cứu

Cây bèo tây, cây ngổ dại, cây sậy và 2 nhóm thuốc BVTV đang sử dụng chủ yếu ở Việt Nam là Chlorpyrifos Ethyl (đại diện cho nhóm Lân hữu cơ); Cypermethrin (đại diện cho nhóm Pyrethroid)

2 Phương pháp nghiên cứu

- Các thí nghiệm đánh giá khả năng hấp thụ của thực vật được được tiến hành trong nhà lưới Các loài thực vật được thu thập ở các giai đoạn sinh trưởng phù hợp với mục đích thí nghiệm, sau đó thả trong chậu vại có chứa đất và cung cấp đủ nước trong 20 ngày để làm sạch các nguồn ô nhiễm Trước khi tiến hành thí nghiệm, kiểm tra dư lượng thuốc trong cây để khẳng định không còn chứa dư lượng hai hoạt chất thí nghiệm Sau đó thả thực vật thí nghiệm vào các chậu vại với mật độ đủ che kín bề mặt bể, cung cấp đủ nguồn

nước sạch và dinh dưỡng cần thiết

Sau khi lựa chọn và làm sạch thực vật, tiến hành đưa thuốc BVTV vào chậu vại hoặc

ô xi măng ở 3 nồng độ thí nghiệm đại diện là

10 ppm; 20 ppm và 50 ppm Mỗi công thức thí nghiệm nhắc lại 3 lần

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Phản ứng và khả năng hấp thụ, phân giải thuốc BVTV của cây ngổ dại

1.1 Ảnh hưởng của các thuốc BVTV đến sinh trưởng, phát triển của cây ngổ dại

- Đối với thuốc Chlopiryfos Ethyl: Qua

kết quả thí nghiệm cho thấy thuốc Chlopiryfos Ethyl có ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng của cây ngổ dại ở cả hai giai đoạn sinh trưởng là cây con và cây trưởng thành

+ Ở giai đoạn cây con, khi nồng độ thuốc cao (500 ppm), sau xử lý thuốc 3 ngày cây bị úa vàng và sau xử lý 7 ngày cây

1

Viện Môi trường nông nghiệp; 2 Văn phòng Tỉnh ủy Hà Nam

Trang 3

bị chết Cấp hại lúc này có thể lên cao tới

cấp 9 Ở các nồng độ thấp hơn (100 ppm và

200 ppm), cây có bị ảnh hưởng nhưng ở

mức độ nhẹ (cấp 3-4), sau đó khôi phục và

sinh trưởng, phát triển bình thường ở 10

ngày sau xử lý

+ Ở giai đoạn cây trưởng thành: Ngay

sau thả 1-3 ngày, cây ngổ dại trưởng thành

bị biến vàng, héo úa và chết Khi nồng độ

thuốc giảm xuống 200 ppm và 100 ppm,

cây xuất hiện một số đốm vàng nhưng sau

đó sinh trưởng bình thường

Như vậy ở hai giai đoạn cây con và

trưởng thành, cây ngổ dại có thể chịu đựng

được ở nồng độ Chlopyriphos Ethyl từ 100

ppm - 200 ppm Khi nồng độ tăng đến 500

ppm, cây bị biến vàng và chết

- Đối với thuốc Cypermethrin:

Cypermethrin gây hiện tượng héo úa và

chết cho cả cây ngổ non và trưởng thành ở

nồng độ 500 ppm, cấp hại có thể lên tới cấp

5 (vào 3 ngày sau xử lý) và cấp 9 (vào 7

ngày sau xử lý)

Ở nồng độ thấp hơn (100 ppm và 200

ppm), cả giai đoạn cây non và trưởng thành

đều ít bị ảnh hưởng và hoàn toàn không bị

chết Tuy nhiên ở giai đoạn trưởng thành,

cây ngổ dại mẫn cảm với thuốc hơn là giai

đoạn cây con Tại nồng độ 200 ppm cây

trưởng thành bị ảnh hưởng ở cấp độ 3 (sau

3 ngày xử lý) và cấp 4 (sau 7-10 ngày xử

lý), trong khi đó cây ngổ non hoàn toàn

không có dấu hiệu ảnh hưởng khi xử lý

thuốc ở nồng độ này Khi nồng độ

Cypermethrin giảm xuống 100 ppm, cả cây

ngổ non và trưởng thành đều phát triển bình

thường

1.2 Khả năng hấp thụ, phân giải thuốc BVTV của cây ngổ dại ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau

* Đối với cây ngổ non: Mặc dù ở các nồng độ xử lý cao 500 ppm, thuốc

Chlopyrifos Ethyl và Cypermethrin gây ảnh

hưởng nghiêm trọng đến cây ngổ non nhưng qua kết quả phân tích dư lượng cho thấy cây vẫn tiếp tục hấp thụ thuốc cho đến

7 ngày sau xử lý Ngay sau khi xử lý thuốc, cây ngổ non đã bắt đầu hấp thụ hai loại

thuốc Chlopyrifos Ethyl và Cypermethrin,

tuy nhiên mức dư lượng thuốc trong cây có

sự biến động giữa các bộ phận Trong thân cây, mức dư lượng cao hơn rễ và lá Ở giai đoạn đầu, dư lượng trong rễ cao hơn lá nhưng giai đoạn sau xử lý 7 ngày, dư lượng trong lá lại cao hơn rễ

Đối với hai loại thuốc, thời điểm cây hút thuốc mạnh nhất vào 3 ngày sau xử lý, sau đó cây tiếp tục hút thuốc và gia tăng mức dư lượng ở 7 ngày sau xử lý nhưng mức độ hấp thụ thấp hơn so với thời điểm 3 ngày Đến thời điểm 10 ngày sau xử lý, mức dư lượng giảm xuống Nguyên nhân có thể do trong cơ thể thực vật cũng như trong môi trường nước, một lượng thuốc đã bị phân giải, do đó mức dư lượng giảm dần Đặc biệt trong rễ cây, dư lượng thuốc sau phun 10 ngày còn lại thấp hơn dư lượng sau phun 3 ngày Ngoài việc thuốc bị phân giải,

có thể một lượng nhỏ thuốc đã được vận chuyển lên các bộ phận phía trên của cây (bảng 1 và 2)

Kết quả bảng 1 và 2 cho thấy, trong cùng thời điểm và bộ phận thí nghiệm, mức

dư lượng thuốc cũng tăng theo nồng độ xử

lý nhưng khi nồng độ thuốc tăng trên 500 ppm, mức độ gia tăng dư lượng trong các

bộ phận của cây thấp hơn so với mức độ gia

Trang 4

tăng trong khoảng nồng độ từ 100 ppm đến

500 ppm Trong cây ngổ non, mức dư

lượng Cypermethrin cao hơn so với dư

lượng Chlopyrifos Ethyl… Mặc dù vậy, kết

quả xác định dư lượng thuốc trong nước

cho thấy đối với các nguồn nước ô nhiễm

Chlopyrifos Ethyl, cây ngổ non có thể hấp

thụ và phân giải thuốc để đạt tiêu chuNn

nước thải loại B khi ở hai nồng độ 100 và

200 ppm, trong khi đó đối với hoạt chất

Cypermethrin chỉ có công thức xử lý ở

nồng độ 100 ppm đạt chỉ tiêu chất lượng nước theo TCVVN N guyên nhân có thể do thuốc Chlopyrifos Ethyl dễ bị phân giải bởi thực vật và ánh sáng hơn nên mặc dù lượng thuốc chứa trong cây thấp nhưng dư lượng thuốc trong nước cũng thấp hơn so với Cypermethrin N ếu mức độ ô nhiễm trên

500 ppm, cây ngổ dại non hoàn toàn không

có khả năng xử lý triệt để dư lượng cả hai loại thuốc thí nghiệm để đạt tiêu chuNn nước thải loại B

Bảng 1 Dư lượng thuốc Chlorpyrifos Ethyl trong nước và các bộ phận khác nhau

của cây ngổ non

Thời gian theo dõi Nồng độ thuốc

thí nghiệm (ppm)

Dư lượng thuốc (ppm) trong nước

Dư lượng thuốc (mg/kg) ở các bộ phận

Sau xử lý 3 ngày

Sau xử lý 7 ngày

Sau xử lý 10 ngày

Ghi chú: Chỉ giới phát hiện của máy là 0,002 mg/kg; Dư lượng tối đa cho phép của Chlopyrifos Ethyl trong nước tưới loại B theo TCVN - 1996 là 1,0 ppm; Cypermethrin là 2,0 ppm

Bảng 2 Dư lượng thuốc Cypermethrin trong nước và các bộ phận khác nhau

của cây ngổ non

Thời gian theo dõi Nồng độ thuốc

thí nghiệm (ppm)

Dư lượng thuốc (ppm) trong nước

Dư lượng thuốc (mg/kg) ở các bộ phận

Sau xử lý 3 ngày

Sau xử lý 7 ngày

Sau xử lý 10 ngày 100 1,0 16,5 38,5 22,0 25,7

Trang 5

200 2,2 22,0 57,2 25,3 34,8

* Đối với cây ngổ trưởng thành: Khả

năng hấp thụ thuốc của cây ngổ trưởng

thành có sự biến động giữa các bộ phận

Sau khi xử lý thuốc 3 và 7 ngày, dư lượng

thuốc trong thân đạt cao nhất, sau đó đến

rễ và lá nhưng sau khi xử lý thuốc 7 ngày,

dư lượng thuốc trong lá lại cao hơn rễ Tuy

nhiên so với cây ngổ non, mức độ hấp thụ

đối với cả hai loại thuốc Chlopyrifos Ethyl

và Cypermethrin của cây ngổ trưởng thành

đều thấp hơn, điều đó thể hiện qua mức dư

lượng trong hầu hết các bộ phận của cây

ngổ trưởng thành đều thấp hơn so với dư

lượng trong ngổ non Nguyên nhân có thể

do các hoạt động sinh lý, sinh hóa trong

cây ngổ non thường cao hơn nên chúng có

khả năng hấp phụ, lưu dẫn thuốc nhanh và

tốt hơn

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, nếu

mức độ ô nhiễm trên 500 ppm, cây ngổ dại

non hoàn toàn không có khả năng xử lý

triệt để dư lượng cả hai loại thuốc thí

nghiệm để đạt tiêu chuNn nước thải loại B

Tuy dư lượng thuốc trong cây ngổ trưởng

thành thấp hơn ngổ non và mức dư lượng

thuốc Chlopyrifos Ethyl trong cây thấp hơn

Cypermethrin nhưng khi bị ô nhiễm ở

nồng độ 100 và 200 ppm, cây ngổ trưởng

thành cũng có thể xử lý triệt để

Chlopyrifos Ethyl để đạt tiêu chuNn nước

thải loại B, trong khi đối với hoạt chất

Cypermethrin chỉ có công thức xử lý ở

nồng độ 100 ppm đạt chỉ tiêu chất lượng

nước loại B theo TCVVN

2 Phản ứng và khả năng hấp thụ, phân giải thuốc BVTV của cây bèo tây

2.1 Ảnh hưởng của các thuốc BVTV đến sinh trưởng, phát triển của cây bèo tây

Tương tự như đối với cây ngổ dại, cả

2 loại thuốc Chlopiryfos Ethyl và

Cypermethrin đều ảnh hưởng tới sinh

trưởng và phát triển của cây bèo tây Tuy nhiên khả năng chịu đựng của bèo tây ở giai đoạn trưởng thành thấp hơn ngổ dại,

do đó mức độ ảnh hưởng cao hơn N gay

ở nồng độ 200 ppm, cây trưởng thành đã

bị hại ở cấp 3 và cấp 4 đối với

Chlopyrifos Ethyl; cấp 3 - cấp 5 đối với Cypermethrin Ở nồng độ 100 ppm, cả

cây non và trưởng thành đều không bị ảnh hưởng

2.2 Khả năng hấp thụ, phân giải thuốc BVTV của cây bèo tây ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau

* Đối với cây bèo tây non: Kết quả thí nghiệm bảng 3 và 4 cho thấy ở các nồng

độ xử lý cao 500 ppm, thuốc Chlopyrifos

Ethyl cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng

đến cây bèo tây nhưng qua kết quả phân tích dư lượng cho thấy cây vẫn tiếp tục hút thuốc cho đến 7 ngày sau xử lý Ngay sau khi xử lý thuốc, cây bèo tây non đã bắt đầu

hấp thụ đối cả hai loại thuốc Chlopyrifos

Ethyl và Cypermethrin, tuy nhiên mức dư

lượng thuốc trong cây có sự biến động giữa các bộ phận Trong thân cây, mức dư lượng vẫn cao hơn rễ và lá Ở giai đoạn đầu, dư lượng trong rễ cao hơn lá, nhưng

Trang 6

giai đoạn sau xử lý 7 ngày dư lượng trong

lá lại cao hơn rễ

Đối với cả hai loại thuốc, thời điểm cây

hấp thụ thuốc mạnh nhất vào 3 ngày sau xử

lý, sau đó cây tiếp tục hấp thụ thuốc và gia

tăng mức dư lượng ở 7 ngày sau xử lý Tuy

nhiên trong thời gian từ 3-7 ngày sau xử lý,

mức độ gia tăng thấp hơn so với thời điểm

0 - 3 ngày Đến thời điểm 10 ngày sau

phun, mức dư lượng giảm xuống

Kết quả bảng 3 và 4 cũng cho thấy, dư

lượng thuốc Cypermethrin trong các bộ

phận của cây là cao hơn so với dư lượng

thuốc Chlopyrifos Ethyl Tuy nhiên, khác

với cây ngổ dại, do khả năng phân giải thuốc của bèo tây cao hơn nên ở cả hai nồng độ ô nhiễm là 100 và 200 ppm, dư lượng cả hai loại thuốc thí nghiệm trong nước đều đạt tiêu chuNn nước thải loại B Còn ở nồng độ thí nghiệm 500 ppm, dư lượng của cả hai loại thuốc trong nước đều vượt mức cho phép

Bảng 3 Dư lượng thuốc Chlorpyrifos Ethyl trong nước và trong các bộ phận khác nhau

của cây bèo tây non

Thời gian theo dõi Nồng độ thuốc

thí nghiệm (ppm)

Dư lượng thuốc (ppm) trong nước

Dư lượng thuốc (mg/kg) ở các bộ phận

Sau xử lý 3 ngày

Sau xử lý 7 ngày

Sau xử lý 10 ngày

Bảng 4 Dư lượng thuốc Cypermethrin trong nước và trong các bộ phận khác nhau

của cây bèo tây non

Thời gian theo dõi Nồng độ thuốc

thí nghiệm (ppm)

Dư lượng thuốc (ppm) trong nước

Dư lượng thuốc (mg/kg) ở các bộ phận

Sau xử lý 3 ngày

Sau xử lý 7 ngày

Sau xử lý 10 ngày 100 1,2 19,8 47,3 26,4 31,2

Trang 7

200 1,5 25,3 66,0 27,5 39,6

* Đối với cây bèo tây trưởng thành:

Khả năng hấp thụ thuốc của cây bèo tây

trưởng thành có sự biến động giữa các bộ

phận Mức dư lượng trong thân vẫn cao hơn

rõ rệt so với dư lượng trong lá và rễ Dư

lượng của cả hai loại thuốc Chlopyrifos

Ethyl và Cypermethrin của cây bèo tây

trưởng thành cũng thấp hơn so với cây bèo

tây non, trong đó dư lượng thuốc

Cypermethrin cao hơn so với Chlopyrifos

Ethyl Trong cùng thời điểm và bộ phận thí

nghiệm, mức dư lượng thuốc tăng theo

nồng độ xử lý nhưng khi nồng độ thuốc

tăng trên 500 ppm thì mức độ gia tăng dư

lượng trong các bộ phận của cây giảm đi so

với mức độ gia tăng ở nồng độ từ 100 ppm

đến 500 ppm

Tuy dư lượng cả hai loại thuốc trong

cây bèo tây trưởng thành thấp hơn cây non

nhưng dư lượng trong nước khi mức độ ô

nhiễm là 100 và 200 ppm đều thấp hơn mức

cho phép đối với nước thải loại B Nhưng

khi nồng độ ô nhiễm trên 500 ppm thì dư

lượng cả hai thuốc trong nước sau hấp thụ

đều cao hơn rõ rệt so với mức tối đa cho

phép

3 Phản ứng và khả năng hấp thụ, phân

giải thuốc BVTV của cây sậy

3.1 Ảnh hưởng của các thuốc BVTV đến

sinh trưởng, phát triển của cây sậy

Kết quả thí nghiệm cho thấy, khác với

cây ngổ dại và bèo tây, cả 2 loại thuốc

Chlopiryfos Ethyl và Cypermethrin đều rất

ít hoặc hầu như không ảnh hưởng tới sinh

trưởng và phát triển của cây sậy ở cả giai

đoạn cây con và trưởng thành Ở giai đoạn cây con, ban đầu xuất hiện một số vết đốm

ở nồng độ 500 ppm của cả 2 hoạt chất nhưng sau đó mất dần, cây sinh trưởng, phát triển bình thường

3.2 Khả năng hấp thụ, phân giải thuốc BVTV của cây sậy ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau

* Đối với cây sậy non: Kết quả phân tích dư lượng thuốc trong cây tại bảng 5 và 6 cho thấy ở tất cả các nồng độ thí nghiệm, do

thuốc Chlopyrifos Ethyl và Cypermethrin

đều không gây ảnh hưởng đến cây sậy nên cây vẫn tiếp tục hút thuốc cho đến 7 và 10

ngày sau xử lý Ngay sau khi xử lý thuốc,

cây sậy non đã bắt đầu hấp thụ đối với cả

hai loại thuốc Chlopyrifos Ethyl và

Cypermethrin Trong thân cây, mức dư

lượng cũng cao hơn rễ và lá Ở giai đoạn đầu, dư lượng trong rễ cao hơn lá nhưng giai đoạn sau xử lý 7 ngày dư lượng trong

lá lại cao hơn rễ

So với cây ngổ dại và bèo tây, khả năng hấp thụ thuốc của cây sậy cao hơn nhiều, do

đó mức dư lượng chứa trong các bộ phận của cây đều cao hơn so với bgổ và bèo tây

Do khả năng hấp thụ và phân giải cao đối với cả hai nhóm thuốc, dư lượng thuốc trong nước đều thấp hơn rõ rệt so với mức tối đa cho phép khi mức độ ô nhiễm là 100

và 200 ppm Mặc dù khi mức độ ô nhiễm tăng lên 500 ppm, dư lượng thuốc trong nước cao hơn mức cho phép so với nước thải loại B nhưng thấp hơn rõ rệt so với dư

Trang 8

lượng sau hấp thụ, phân giải của ngổ dại và bèo tây

Bảng 5 Dư lượng thuốc Chlorpyrifos Ethyl trong nước và trong các bộ phận khác nhau

của cây sậy non

Thời gian theo dõi Nồng độ thuốc

thí nghiệm (ppm)

Dư lượng thuốc (ppm) trong nước

Dư lượng thuốc (mg/kg) ở các bộ phận

Sau xử lý 3 ngày

Sau xử lý 7 ngày

Sau xử lý 10 ngày

Bảng 6 Dư lượng thuốc Cypermethrin trong nước và trong các bộ phận khác nhau của

cây sậy non

Thời gian theo dõi Nồng độ thuốc

thí nghiệm (ppm)

Dư lượng thuốc (ppm) trong nước

Dư lượng thuốc (mg/kg) ở các bộ phận

Sau xử lý 3 ngày

Sau xử lý 7 ngày

Sau xử lý 10 ngày

Trang 9

T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam

9

Đối với cây sậy trưởng thành: Khả năng hấp thụ thuốc của cây sậy trưởng thành có

sự biến động giữa các bộ phận, mức dư lượng trong thân vẫn cao hơn rõ rệt so với dư

lượng trong lá và rễ nhưng mức độ hấp thụ đối với cả hai loại thuốc Chlopyrifos Ethyl và Cypermethrin của cây sậy trưởng thành thấp Điều đó thể hiện qua mức dư lượng trong

hầu hết các bộ phận của cây sậy trưởng thành đều thấp hơn so với dư lượng trong cây sậy non

Tương tự như cây ngổ và bèo tây, khả năng hấp thụ Cypermethrin của cây sậy trưởng thành cao hơn so với Chlopyrifos Ethyl Tuy nhiên ở mức độ ô nhiễm 100 và 200 ppm, cây

sậy trưởng thành cũng có khả năng hấp thụ, phân giải thuốc để làm giảm dư lượng cả hai loại thuốc trong nước xuống dưới mức cho phép đối với nước thải loại B

IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ N GHN

1 Kết luận

1 Tuy mức độ phản ứng và hấp thụ có khác nhau phụ thuộc vào bản chất của từng loài thực vật, giai đoạn sinh trưởng và nhóm thuốc thí nghiệm nhưng ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau, cả ba loài thực vật thí nghiệm là ngổ dại, bèo tây và sậy đều có khả

năng hấp thụ cả hai loại thuốc BVTV thí nghiệm là Chlopyrifos Ethyl và Cypermethrin,

do đó có thể ứng dụng chúng trong xử lý nguồn nước bị ô nhiễm thuốc BVTV

2 Ở nồng độ xử lý nhỏ hơn 200 ppm, cả ngổ dại, bèo tây và sậy đều ít hoặc không

bị ảnh hưởng bởi cả hai nhóm thuốc thí nghiệm, tuy nhiên khi nồng độ tăng lên 500 ppm, cả hai loài ngổ dại và bèo tây đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, trong khi đó cây sậy non và trưởng thành đều không bị ảnh hưởng Khi bị ảnh hưởng bởi thuốc, cây biến

vàng, sinh trưởng kém và chết dần Trừ tác động của Chlopyrifos Ethyl đối với cây ngổ,

ở giai đoạn cây trưởng thành, khả năng chống chịu của cả hai loài bèo tây và ngổ dại đều thấp hơn hơn giai đoạn cây non

3 Mặc dù ở các nồng độ xử lý cao 500 ppm, cả hai loại thuốc Chlopyrifos Ethyl và Cypermethrin đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cây ngổ dại và bèo tây nhưng qua kết

quả phân tích dư lượng cho thấy cây vẫn tiếp tục hút thuốc cho đến 7 ngày sau xử lý Trong khi đó do không bị ảnh hưởng nên cây sậy có thể tiếp tục hút thuốc đến 10 ngày

sau xử lý Thời điểm cây hút thuốc mạnh nhất của cả 3 loài thực vật vào 3 ngày sau phun,

sau đó gia tăng mức dư lượng ở 7 ngày sau xử lý và đến thời điểm 10 ngày sau phun, mức dư lượng giảm xuống

4 Khả năng hút thuốc của cả ngổ dại, sậy và bèo tây đều có sự biến động giữa các bộ phận Trong thân cây, mức dư lượng cao hơn rễ và lá Ở giai đoạn đầu, dư lượng trong rễ cao hơn lá nhưng sau đó dư lượng thuốc trong lá tăng dần và cao hơn rễ vào 7 ngày sau

xử lý đối với cây non và 10 ngày sau xử lý đối với cây trưởng thành

5 Trong cùng thời điểm và bộ phận thí nghiệm, khả năng hấp thụ thuốc cũng có sự biến động tùy thuộc vào loại thuốc và nồng độ thí nghiệm Đối với cả 3 loại thực vật, khả năng hấp

thụ Cypermethrin cao hơn Chlopyrifos Ethyl Khi nồng độ thuốc tăng lên, khả năng hấp thụ

thuốc của thực vật cũng tăng nhưng khi nồng độ tăng cao hơn 500 ppm thì mức độ gia tăng dư

Trang 10

T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam

10

lượng trong các bộ phận của cây giảm so với mức độ gia tăng trong khoảng nồng độ từ 100 ppm đến 500 ppm

6 Trong tất cả các trường hợp, khả năng hấp thụ thuốc BVTV của cả 3 loài thực vật

ở giai đoạn cây con đều cao hơn cây trưởng thành Khả năng hấp thụ của cây sậy là cao nhất, sau đó đến bèo tây và thấp nhất là ngổ dại

7 Do có khả năng hấp thụ cao đối với cả hai nhóm thuốc BVTV, dư lượng thuốc BVTV trong nước đều giảm rõ rệt Tuy nhiên, để đạt được chỉ tiêu nước thải loại B thì

việc xử lý nước thải có nồng độ hoạt chất 500 ppm đối với cả Chlopyrifos Ethyl và Cypermethrin là yêu cầu quá cao đối với cả ba loài thực vật thí nghiệm Khi nước thải

có nồng độ thuốc là 200 ppm, chỉ có cây sậy và bèo tây là đáp ứng được yêu cầu Trong khi đó loài ngổ dại tuy có thể hấp thụ một lượng thuốc đáng kể nhưng chỉ có khả năng

xử lý triệt để dư lượng thuốc khi nồng độ thuốc trong nước thải dưới 100 ppm

2 Đề nghị

Các kết quả nghiên cứu trên chỉ mới thực hiện 1 năm, cần có nghiên cứu lập lại để khẳng định kết quả Đồng thời, cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung để đánh giá tác động của các yếu tố ngoại cảnh như thời tiết, dinh dưỡng đến khả năng hấp thụ thuốc của thực vật

để có khuyến cáo đầy đủ về khả năng ứng dụng chúng trong xử lý ô nhiễm thuốc BVTV TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Báo cáo hiện trạng môi trường, 2005 Hiện trạng môi trường nước năm 2005, chương

II, tr 16

2 Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Trung tâm Tư vấn công nghệ mới

Hà Nội, 2002 Thuyết minh hoàn thiện quy trình công nghệ xử lý thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng bằng phương pháp hoá học và sinh học

3 guyễn Đình Mạnh, 2000 Hóa chất dùng trong nông nghiệp và ô nhiễm môi trường,

NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr 42 - 45

4 guyễn Trần Oánh, guyễn Văn Viên, Bùi Trọng Thuỷ, 2006 Giáo trình sử dụng

thuốc bảo vệ thực vật - NXB Nông nghiệp Hà Nôi

5 Benestad C, 1989 Incineration of Hazardrous Waste in Cement Kilns, Waste

Management and Research, 7, 351

6 Costner P., 1998 Technical Criterial for The Destruction of Stcokpiled Persistent

Organic Pollutants, Third Meeting of the Intersessional Group Intergovernmental Forum on Chemical Safety, Yokohama , Japan

7 Thomason T., et al., 1990 The MODAR supercritical oxidation process Innovative

hazardous Waste Treatment Technology Series Vol 1, Thermal Processes, Technomic Publishing Inc

=gười phản biện: TS =guyễn Văn Vấn

Ngày đăng: 03/04/2014, 16:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Dư lượng thuốc Chlorpyrifos Ethyl trong nước và các bộ phận khác nhau - Nghiên cứu khả năng hấp thụ và phân giải thuốc bảo vệ thực vật phục vụ xử lý ô nhiễm nguồn nước mặt potx
Bảng 1. Dư lượng thuốc Chlorpyrifos Ethyl trong nước và các bộ phận khác nhau (Trang 4)
Bảng 2. Dư lượng thuốc Cypermethrin trong nước và các bộ phận khác nhau - Nghiên cứu khả năng hấp thụ và phân giải thuốc bảo vệ thực vật phục vụ xử lý ô nhiễm nguồn nước mặt potx
Bảng 2. Dư lượng thuốc Cypermethrin trong nước và các bộ phận khác nhau (Trang 4)
Bảng 3. Dư lượng thuốc Chlorpyrifos Ethyl trong nước và trong các bộ phận khác nhau - Nghiên cứu khả năng hấp thụ và phân giải thuốc bảo vệ thực vật phục vụ xử lý ô nhiễm nguồn nước mặt potx
Bảng 3. Dư lượng thuốc Chlorpyrifos Ethyl trong nước và trong các bộ phận khác nhau (Trang 6)
Bảng 6. Dư lượng thuốc Cypermethrin trong nước và trong các bộ phận khác nhau của - Nghiên cứu khả năng hấp thụ và phân giải thuốc bảo vệ thực vật phục vụ xử lý ô nhiễm nguồn nước mặt potx
Bảng 6. Dư lượng thuốc Cypermethrin trong nước và trong các bộ phận khác nhau của (Trang 8)
Bảng 5. Dư lượng thuốc Chlorpyrifos Ethyl trong nước và trong các bộ phận khác nhau - Nghiên cứu khả năng hấp thụ và phân giải thuốc bảo vệ thực vật phục vụ xử lý ô nhiễm nguồn nước mặt potx
Bảng 5. Dư lượng thuốc Chlorpyrifos Ethyl trong nước và trong các bộ phận khác nhau (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w