TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN BÀI THẢO LUẬN NHẬP MÔN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ Đề tài Đánh giá ảnh hưởng của dịch bệnh đến thị trường bảo hiểm Việt Nam trong năm 2020 – 2021 Học p[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
-
NHẬP MÔN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
Đề tài: Đánh giá ảnh hưởng của dịch bệnh đến thị trường bảo hiểm
Việt Nam trong năm 2020 – 2021
Học phần : Nhập môn Tài chính – Tiền tệ
Mã lớp HP : 2253EFIN2811
Giảng viên : Lê Thanh Huyền
HÀ NỘI – 2022
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN
Trang 3MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
I Cơ sở lý thuyết 2
1 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm 2
2 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm trong nền kinh tế 3
3 Các hình thức bảo hiểm 4
4 Vai trò của bảo hiểm 5
II Thực tiễn thị trường bảo hiểm Việt Nam những năm 2020 – 2021 7
1 Tình hình dịch bệnh 2020 – 2021 7
2 Ảnh hưởng của dịch bệnh đến thị trường bảo hiểm 8
3 Thực trạng thu chi bảo hiểm năm 2020-2021 9
4 Đánh giá 10
5 Đề xuất giải pháp 12
C KẾT LUẬN 14
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 4A LỜI MỞ ĐẦU
Theo báo cáo mới nhất của Deloitte, thị trường bảo hiểm toàn cầu chịu ảnh hưởng đáng kể bởi đại dịch Covid-19 khiến chuỗi tăng trưởng ấn tượng liên tục trong suốt 10 năm qua bị đứt gãy Ước tính, quy mô thị trường bảo hiểm toàn cầu hết năm
2020 giảm 2,8% so với năm 2019 Tuy nhiên đà giảm này chủ yếu đến từ bảo hiểm Nhân thọ với mức giảm khoảng 6,0% so với năm 2019 Thế nhưng tại Việt Nam điều đáng ngạc nhiên là ngành Bảo hiểm lại có mức tăng trưởng “trong mơ” trong khi nhiều ngành khác đang phải chịu rất nhiều tác động tiêu cực từ dịch Covid-19…
Bước sang năm năm 2021, đại dịch Covid-19 vẫn đang có những diễn biến phức tạp ở nhiều nước Tuy vậy với việc đã có Vacxin tiêm phòng, nhiều Tổ chức kỳ vọng vào sự phục hồi của nền kinh tế kéo theo sự phục hồi của thị trường Bảo hiểm toàn cầu Tại Việt Nam nhiều dự báo cho rằng tăng trưởng kinh tế sẽ ở khoảng 7%, điều này giúp cho ngành Bảo hiểm có cơ hội Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, đại dịch Covid-19 cũng đã khiến cho cơ cấu nghiệp vụ có sự thay đổi trong đó mảng Bảo hiểm sức khỏe và con người có nhiều tiềm năng Nhu cầu bảo hiểm sức khỏe sẽ ngày một được chú trọng & tăng cao trong dân, đây là một điểm mới lớn trong chiến lược phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ
Trong bài thảo luận này, chúng em tập trung nghiên cứu tìm hiểu và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
Trang 5B NỘI DUNG
I Cơ sở lý thuyết
1 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm
1.1 Khái niệm bảo hiểm
Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và đời sống của con người trong xã hội được ổn định và phát triển bình thường trong điều kiện có biến cố bất lợi xảy ra
1.2 Đặc điểm của bảo hiểm
- Bảo hiểm là một hình thức dự trữ tài chính nhằm bù đắp và khắc phục những
tổn thất thiệt hại đối với sản xuất kinh doanh và đời sống con người khi những biến cố bất lợi xảy ra.
Cũng như các quỹ tiền tệ khác, quỹ bảo hiểm được tạo lập thông qua quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thái giá trị, việc tạo lập quỹ có thể dưới nhiều hình thức khác nhau như bắt buộc hay tự nguyện, tự bảo hiểm hay bảo hiểm thông qua một tổ chức bảo hiểm ,… nhưng tất cả đều xuất phát từ nhu cầu cần được đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống của con người trước những tác động rủi
ro Chính vì vậy, để thoả mãn nhu cầu của người tham gia bảo hiểm, việc phân phối sử dụng quỹ bảo hiểm phải đảm bảo chi trả, bồi thường tổn thất thiệt hại khi có những biến
cố bất lợi xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, bảo hiểm đã trở thành một loại hình dịch
vụ tài chính đặc biệt Sản phẩm bảo hiểm là sự đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo hiểm Để bảo vệ mình, người tham gia bảo hiểm nộp phí cho người bảo hiểm để đổi lấy lời hứa hay cam kết của người bảo hiểm là sẽ trả tiền bảo hiểm khi rủi ro xảy ra Trong hoạt động bảo hiểm, các tổ chức bảo hiểm nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm đóng góp và sau đó mới thực hiện nghĩa vụ với bên được bảo hiểm khi sự cố bảo hiểm xảy ra Như vậy, với dịch vụ này sản phẩm được bán ra trước, sau đó mới phát sinh chi phí bồi thường, chi trả bảo hiểm
- Bảo hiểm vừa mang tính chất bồi hoàn vừa mang tính chất không bồi hoàn
Trong thời gian được bảo hiểm, nếu rủi ro không xảy ra hoặc có xảy ra nhưng không gây thiệt hại ảnh hưởng đến đối tượng bảo hiểm thì người bảo hiểm không phải bồi thường hay trả tiền cho bên mua bảo hiểm Ngược lại, nếu xảy ra sự cố, đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại hoặc bị ảnh hưởng thì bên mua bảo hiểm sẽ được chi trả, bồi thường Như vậy quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm trên thị trường vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi hoàn Đặc điểm này đã tạo ra tính nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm, nguồn tài chính này thường được các công ty bảo hiểm
sử dụng để đầu tư nhằm bảo toàn và phát triển quỹ bảo hiểm
Tính bồi hoàn của bảo hiểm có tính chất bất ngờ cả về không gian, thời gian và quy mô Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động, các tổ chức bảo hiểm phải xây dựng các quỹ dự
Trang 6phòng để đảm bảo trong mọi tình huống đều có thể thực hiện được các cam kết của mình trước những người tham gia bảo hiểm khi các sự cố bảo hiểm xảy ra
2 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm trong nền kinh tế.
2.1 Các rủi ro có thể xảy ra với các chủ thể trong nền kinh tế.
Các rủi ro xảy ra với đời sống dân cư:
Có thể thấy mặc dù xã hội đang ngày một phát triển, sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ khiến đời sống con người ngày một phát triển hơn, con người cũng đã có những công cụ và phương pháp tiên tiến để dự đoán, phòng ngừa và xử lý kịp thời các rủi ro trong cuộc sống của mình Tuy vậy, cuộc sống của con người vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên, sự thay đổi thất thường của thiên nhiên khiến con người khó lường và chuẩn bị kịp thời phương án đối phó với các rủi ro về thiên tai, hạn hán, sóng thần, động đất hỏa hoạn, Mặc dù các biện pháp như đắp đê ngăn lũ, xây dựng trạm khí tượng, công tác dự báo thời tiết, đã được thực hiện nhưng không thể ngăn chặn hết các thiệt hại do các rủi ro này gây ra Khi thiệt hại đã xảy ra, con người có thể sử dụng các biện pháp tạm thời như nhận tiếp tế, cứu trợ, nhận hỗ trợ từ thiện hay đi vay, nhưng các biện pháp này cũng chỉ giải quyết được vấn đề trước mắt và tồn tại các hạn chế
Ngoài ra trong thực tế không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy
đủ thu nhập ổn định và mọi điều kiện sinh sống đều diễn ra bình thường như mình mong muốn mà trái lại có rất nhiều khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập Những rủi ro bất ngờ như tai nạn lao động, ốm đau, bệnh tật, thai sản, hoặc lý do vì tuổi tác khiến con người mất sức lao động và có khả năng giảm thu nhập hay thậm chí là mất khả lao động, mất việc làm Khi rơi vào những hoàn cảnh này thì các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không chỉ mất đi mà trái lại còn phát sinh thêm những làm cho người lao động khó có thể đảm đương được Chính xuất phát từ bản chất mong muốn tồn tại và vượt qua những khó khăn trở ngại của cuộc sống khi rủi ro xảy ra đã đòi hỏi những người lao động và xã hội loài người phải tìm ra được biện pháp nào đó để giải quyết những vấn đề trên và thực tế là họ đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ rủi ro, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của nhà nước… Nhưng những cách này chỉ mang tính tạm thời, thụ động và không chắc chắn
Các rủi ro xảy ra với các đơn vị sản xuất kinh doanh:
Thực tế cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh luôn tiềm ẩn các rủi ro khó có thể lường trước Chẳng hạn như thiên tai, dịch bệnh khiến cho tài sản của doanh nghiệp bị tổn hại; sản xuất bị đình trệ do thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào, thiếu nhân công; hoặc doanh thu sụt giảm, quy mô sản xuất bị thu hẹp,
Ngoài ra các biến động của thị trường chứng khoán, tỷ giá hối đoái, sự thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô, một mặt đem đến cơ hội kinh doanh, mặt khác lại mang đến những rủi ro, thách thức mới cho doanh nghiệp Chẳng hạn, trong trường hợp thị trường khi bị “đóng băng”, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với tình trạng sản phẩm cung
Trang 7cấp ra thị trường không có người mua, nhất là trong thị trường về bất động sản Một miếng đất hay một ngôi nhà để bán được trong thời gian ổn định có khi phải mất đến cả tháng Và khi thị trường chững lại thì những sản phẩm đó hoàn toàn bị động “nằm im tại chỗ”
Các rủi ro xảy ra đối với Nhà nước:
Tình hình kinh tế thế giới luôn diễn biến phức tạp, bên cạnh thuận lợi vẫn còn nhiều thách thức đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Khủng hoảng nợ công lan rộng ở nhiều quốc gia, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm và chứa đựng nhiều rủi ro; tình trạng thất nghiệp cao vẫn còn diễn ra ở nhiều nước, cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt, tranh giành tài nguyên ở một số khu vực ngày càng gay gắt hơn, sẽ gây nên những biến động bất lợi cho nền kinh tế vĩ mô, tác động vào các cân đối lớn trong nền kinh tế, làm tăng áp lực chi ngân sách, bội chi ngân sách, có khả năng gây ra lạm phát, Những điều đó có thể làm ảnh hưởng xấu đến vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước
2.2 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm trong nền kinh tế.
Như vậy, trong cuộc sống của con người luôn tiềm tàng những rủi ro khó lường Ngoài việc thực hiện các biện pháp tạm thời khi thiệt hại đã xảy ra, chúng ta có thể thành lập trước một quỹ dự phòng để bù đắp thiệt hại gây ra và ổn định cuộc sống Nhờ
có bảo hiểm, người lao động sẽ dùng phần tích lũy thu nhập của mình để bù đắp, trang trải các chi phí phát sinh, bù đắp khoản giảm, mất thu nhập, việc làm, ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình Doanh nghiệp cũng sẽ bù đắp được những thiệt hại tài chính
để ổn định sản xuất kinh doanh và Nhà nước cũng sẽ có được nguồn quỹ dự trữ để ổn định nền kinh tế khi có các biến động lớn xảy ra Sự tồn tại của bảo hiểm là tất yếu khách quan để xã hội có thể tiếp tục hoạt động và phát triển bình thường trong các điều kiện bất lợi Có thể nói, bảo hiểm đóng vai trò như một công cụ an toàn và dự phòng đảm bảo khả năng hoạt động của mọi chủ thể dân cư và kinh tế; cuộc sống không có bảo hiểm được ví như “hành lang không có tay vịn” Khi xã hội ngày càng phát triển thì các hoạt động bảo hiểm ngày một đa dạng phong phú Ban đầu, bảo hiểm ra đời chủ yếu
do nhu cầu ổn định sản xuất, kinh doanh; nhằm mục đích phòng ngừa, tạo nguồn tài chính để khắc phục rủi ro, tai nạn bất ngờ Đến nay, các tổ chức bảo hiểm còn giữ vai trò trung gian, thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế
3 Các hình thức bảo hiểm
3.1 Căn cứ vào phương thức xử lý rủi ro
Theo tiêu thức này, bảo hiểm được chia thành tự bảo hiểm và bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm
Tự bảo hiểm là hình thức mà các tổ chức, cá nhân thành lập các quỹ riêng để bù đắp các tổn thất có thể xảy ra với quá trình sản xuất và đời sống của mình Việc
tự bảo hiểm cho mình thường được thực hiện khi họ có đủ khả năng tài chính
Trang 8Trong thực tế, hình thức tự bảo hiểm được biểu hiện thông qua việc tạo lập và sử dụng quỹ tập trung của nhà nước, quỹ dự phòng của doanh nghiệp, quỹ dự trữ của hộ gia đình
Bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm là hình thức bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm sẽ chuyển giao, phân tán rủi ro cho các tổ chức bảo hiểm mà bản thân họ không muốn hoặc không đủ khả năng gánh chịu rủi ro đó thông qua việc trích nộp một phần thu nhập của mình cho các tổ chức bảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm Các tổ chức bảo hiểm hỏa động chuyên nghiệp trong phân tích rủi ro, ước lượng mức độ rủi ro, phân tán rủi ro và có trách nhiệm bảo toàn, tăng trưởng quỹ để sử dụng chúng trong các mục tiêu dự phòng tài chính và khắc phục hậu quả của rủi ro Đây là hình thức bảo hiểm hiệu quả trên mọi phương diện của nền kinh tế
Trong thực tế, hình thức này thể hiện thông qua các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp như công ty bảo hiểm, tập đoàn bảo hiểm và tổ chức bảo hiểm xã hội
3.2 Căn cứ vào mục đích hoạt động
Theo tiêu thức này, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm có mục đích kinh doanh và bảo hiểm không có mục đích kinh doanh
Bảo hiểm có mục đích kinh doanh (hay bảo hiểm thương mại, bảo hiểm rủi ro, bảo hiểm kinh doanh) là hình thức bảo hiểm do các chủ thể tiến hành nhằm mục tiêu lợi nhuận Người bảo hiểm tìm kiếm lợi ích kinh tế trên cơ sở thu phí bảo hiểm và cam kết thực hiện bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thông qua hợp đồng bảo hiểm
Bảo hiểm không có mục đích kinh doanh là hình thức bảo hiểm do các chủ thể tiến hành không vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu nhằm mục đích tương hỗ giữa các thành viên tham gia Chẳng hạn như việc hình thành và sử dụng quỹ dự trữ tập trung của nhà nước, quỹ tương hỗ, quỹ dự trữ trong các doanh nghiệp, các gia đình phục vụ cho mục tiêu an toàn, ổn định sự phát triển của nền kinh tế, của từng doanh nghiệp, từng hộ gia đình hoặc cá nhân
4 Vai trò của bảo hiểm
4.1 Bảo hiểm góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống con người
Trong bảo hiểm kinh doanh, những khoản chi trả bồi thường này giúp các cơ sở sản xuất kinh doanh có thể xây dựng lại ca sở vật chất, mua lại các máy móc thiết
bị đã bị hư hỏng, mất mát, để có thể tiếp tục hoạt động
Trong bảo hiểm xã hội, nhờ vào các khoản trợ cấp, bồi thường trong trường hợp
ốm đau, tai nạn, không còn khả năng lao động hay mất việc làm mà người lao động có thể khắc phục khi khăn, ổn định đời sống, đồng thời góp phần giảm bớt gánh nặng về mặt tài chính cho tổ chức sử dụng lao động (trong trường hợp
Trang 9người lao động bị chết, thân nhân của họ sẽ nhận được một khoản tiền hỗ trợ từ
tổ chức bảo hiểm xã hội)
Khi về hưu tổ chức bảo hiểm xã hội sẽ chỉ trả lương hưu và hỗ trợ các chi phí y tế, chăm sóc sức khỏe, Trong mọi hoạt động bảo hiểm người tham gia bảo hiểm có thể khắc phục kịp thời những tổn thất vật chất do rủi ro tai nạn gây ra một các nhanh chóng nhất, sớm hồi phục sức khỏe, ổn định đời sống để tiếp tục quá trình học tập, lao động, sinh hoạt bình thường Như vậy, thông qua việc sử dụng quỹ bảo hiểm đã được tạo lập
để bồi thường, chi trả kịp thời, chính xác những tổn thất vật chất cho người tham gia bảo hiểm
4.2 Bảo hiểm góp phần phòng tránh, hạn chế rủi ro tổn thất
Đứng trên giác độ lợi ích của các tổ chức bảo hiểm, việc tổ chức tốt các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất có hiệu quả sẽ giảm được khoản chi phí bồi thường, trả tiền bảo hiểm, đảm bảo an toàn cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Để tổ chức tốt các biện pháp đề phòng, hạn chế rủi ro tổn thất, các tổ chức bảo hiểm đã theo dõi, thống kê tình hình tai nạn, tổn thất, xác định những nguyên nhân chủ yếu gây ra tai nạn Trên cơ sở đó, tổ chức bảo hiểm phối hợp với các cơ quan hữu quan để đề xuất, hỗ trợ về tài chính và tổ chức thực hiện các biện pháp
đề phòng có hiệu quả nhất, nhằm giảm thấp nhất mức tổn thất có thể xảy ra
Đứng trên giác độ người tham gia bảo hiểm, ngoài trách nhiệm phải đóng góp đầy đủ phí bảo hiểm, họ còn phải thực hiện tốt trách nhiệm đề phòng hạn chế tổn thất, thông báo tình hình và diễn biến tai nạn, tổn thất để có biện pháp ngăn chặn kịp thời Nếu không, để xảy ra tổn thất trầm trọng thì có thể bị giảm mức bồi thường hoặc thậm chí tổ chức bảo hiểm có quyền từ chối nghĩa vụ bồi thường nếu rủi ro xảy ra không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm
Đối với bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, các tổ chức quản lý phải thường xuyên kiểm tra an toàn trong các doanh nghiệp nhằm phòng tránh tai nạn xảy ra Trong trường hợp các đơn vị này thực hiện không tốt các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh dịch tễ thì có thể áp dụng các biện pháp xử phạt và truy tố trước pháp luật Tổ chức bảo hiểm xã hội còn hỗ trợ các đơn vị sử dụng lao động thực hiện các biện pháp an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp, xây dựng các trại điều dưỡng nghỉ ngơi để cải thiện, nâng cao sức khỏe cho người lao động
Về phía Nhà nước, đảm bảo ổn định phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân là nhiệm vụ của bất cứ Nhà nước nào, vì vậy, việc hình thành và phát triển các hình thức bảo hiểm là những giải pháp tích cực giúp cho Nhà nước giảm được nguồn kinh phí dành để đầu tư cho các mục tiêu khác, đồng thời vẫn đảm bảo được mục tiêu về phát triển kinh tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
4.3 Bảo hiểm góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế - xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm không chỉ là tấm lá chắn kinh tế cho quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống của con người trước những rủi ro, mà nó còn hoạt động
Trang 10với tư cách là các tổ chức tài chính trung gian để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Các
tổ chức bảo hiểm thường sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hình thành từ thu phí bảo hiểm của mình để đầu tư, chính vì vậy mà các tổ chức bảo hiểm được coi là một định chế tài chính trung gian, bên cạnh các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính,
Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cũng góp phần tạo ra một nguồn vốn quan trọng thông qua việc thu phí bảo hiểm từ người lao động và người sử dụng lao động Khi chưa
sử dụng đến, phần quỹ này sẽ được đầu tư trên thị trường tài chính, nhằm bảo toàn và phát triển quỹ Quỹ bảo hiểm xã hội còn là một nguồn tiết kiệm quan trọng, tiết kiệm từ bảo hiểm xã hội là chênh lệch giữa thu và chi bảo hiểm xã hội, góp phần quan trọng vào tiết kiệm của mỗi quốc gia
II Thực tiễn thị trường bảo hiểm Việt Nam những năm 2020 – 2021
1 Tình hình dịch bệnh 2020 – 2021
1.1 Tình hình dịch bệnh COVID-19 giai đoạn 2020 – 2021 tại Việt Nam
Năm 2020 hẳn đã trở thành một năm ghi dấu ấn trong lịch sử loài người bởi những sự kiện và biến cố bất thường Sự bùng phát và lây lan của dịch bệnh do coronavirus trên khắp thế giới đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và cuộc sống của con người nói chung Các nền kinh tế trên toàn thế giới cho đến đầu năm 2021 vẫn đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng do Covid-19 Theo thống kê của Worldometers, tính đến 11 giờ ngày 23/1/2021 (giờ Việt Nam), thế giới ghi nhận tổng cộng hơn 98,7 triệu ca nhiễm virus SARS-CoV-2 gây bệnh Covid-19, trong đó có 2.116.336 ca tử vong, số bệnh nhân đã được điều trị khỏi bệnh là gần 71 triệu người
Từ đầu năm 2020 đến nay, Việt Nam đã trải qua 4 đợt bùng phát dịch Covid-19 Quy mô, địa bàn và mức độ lây lan qua mỗi đợt đều có xu hướng phức tạp hơn Ba đợt dịch đầu có quy mô dịch nhỏ, số ca nhiễm ở mức độ thấp:
Đợt dịch đầu tiên được tính từ ngày 22/1/2020 đến 22/7/2020, cả nước ghi nhận 415 ca Covid-19 (309 F0 trong nước và 106 F0 nhập cảnh), không có bệnh nhân tử vong
Đợt dịch thứ 2 kéo dài từ ngày 23/7/2020 đến ngày 27/1/2021, gồm 1.136 trường hợp Covid-19 (1.073 F0 trong nước và 63 F0 nhập cảnh) Giai đoạn này có 35 bệnh nhân tử vong do bệnh lý nền nặng
Đợt dịch 3 từ ngày 28/1/2021 đến 26/4/2021, ghi nhận 1.303 F0 (910 ca do lây nhiễm trong nước và 391 ca nhập cảnh), không có trường hợp tử vong
Đợt dịch thứ 4: dịch lan ra toàn quốc, số ca tử vong tăng nhanh Ở Việt Nam, theo thông tin từ Bộ Y tế, tính đến ngày 10/10/2021 Việt Nam đã phát hiện 835.036 ca mắc COVID-19, 20.520 ca tử vong
Đại dịch cũng đặt những thách thức lớn cho nền kinh tế Mặc dù vậy, Chính phủ Việt Nam đã rất nỗ lực để duy trì hoạt động sản xuất và ổn định xã hội, với mức tăng trưởng kinh tế năm 2020 ở 2,91%, tăng trưởng xuất khẩu 6,5% Tốc độ tăng trưởng mặc dù