Giai đoạn nghiên cứu tạo vật liệu khởi đầu Nghiên cứu tạo vật liệu khởi đầu trong nhân giống vô tính in vitro có vai trò đặc biệt quan trọng đối với số lượng và chất lượng nhân giống;
Trang 1ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG VÀ CHẤT ĐIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TÁI SINH VÀ NHÂN NHANH GIỐNG HOÀNG LAN
THUỘC CHI LAN KIẾM Cymbidium
Lê Minh Nguyệt, Trần Thị Ngân,
Vũ Văn Liết, Trần Duy Quý
SUMMARY
Research effect of medium and growth regulators on regeneration and propagation
of species Hoang Lan belong to genus Cymbidium
Propagate orchid by in vitro to satisfy the demand of customers is very need The purpose of this
study to find the best media and the rate of grow regulators, and also to explore the suitable of
substrate to accept plantlets driven from in vitro for two varieties CD5 and CD9 belong to genus Cymbidium Shoot of CD5 was put on media VW + 120 ml coconut milk + 10g saccarose + 2 mg/l
BAP + 0,5 mg/l Kinetin + 7 g agar + 1 g activated carbon and shoot of CD9 was put on media VW + 120ml coconut milk + 10 g saccarose + 2 mg/l BAP + 0,5 mg/l Kinetin + 7 g agar + 1 g activated carbon Media MS which was added 1 mg/l BAP and 0,3 mg/l NAA have multiple rate hightest for CD5, and 1 mg/l BAP and 0,5 mg/l NAA for CD9 The result indentified the basal medium MS supplemented activated carbon (1 g/l) and NAA (0,5 mg/l) gained number plantlet have root, number root/plantlet and length of root highest
Keywords: Orchid, propagation, asexual, culture, in vitro, media, shoot, protocorm
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhân giống vô tính được áp dụng đối
với nhiều loài cây trồng, nhất là cây ăn quả,
hoa và cây cảnh (Chen Chang và cs., 2000)
Cây phong lan có thể nhân giống bằng hạt
hoặc nhân giống vô tính Tuy nhiên, nhân
giống bằng hạt đối với cây phong lan, đặc
biệt chi Cymbidium dayanum gặp nhiều khó
khăn và thời gian dài hơn so với nhân giống
vô tính Nhân giống vô tính in vitro cây
phong lan có ý nghĩa quan trọng đối với sản
xuất nhằm đáp ứng nhu cầu về số lượng và
chất lượng cây giống; là một phương pháp
tiến bộ hơn so với phương pháp truyền
thống (Wickremesinhe và cs.,1994)
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Vật liệu nghiên cứu là 2 giống phong lan:
Cymbidium iridioides var trangvietnam (CD5)
và Cymbidium iridioides var timhot (CD9)
Nội dung nghiên cứu gồm: (1) Nghiên cứu tạo vật liệu khởi đầu, (2) Nghiên cứu lựa chọn môi trường phù hợp cho giai đoạn
nhân nhanh trong in vitro, (3) Nghiên cứu
phối hợp môi trường thích hợp cho giai đoạn tạo cây hoàn chỉnh và (4) Nghiên cứu giá thể phù hợp cho giai đoạn ra cây vườn ươm
Phương pháp nghiên cứu: Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), 4 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại ở giai đoạn nhân nhanh theo dõi trên 14 cá thể Số cá thể theo dõi trên mỗi lần nhắc ở giai đoạn tạo cây hoàn chỉnh (ra rễ) và nghiên cứu giá thể phù hợp là 30 cây
Trang 2Số liệu được xử lý thống kê bằng các
chương trình MS Excel 2003 và
IRRISTAT
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ
THẢO LUẬN
1 Giai đoạn nghiên cứu tạo vật liệu khởi đầu
Nghiên cứu tạo vật liệu khởi đầu trong
nhân giống vô tính in vitro có vai trò đặc
biệt quan trọng đối với số lượng và chất
lượng nhân giống; tạo ra cây đồng nhất và
giảm chi phí cho quá trình nhân giống
Môi trường khởi động tốt nhất cho CD5 là
môi trường VW có bổ sung 120 ml nước
dừa, 2 mg/l BAP, 0,5 mg/l NAA, 7 g agar,
10 g đường và 1 g than hoạt tính; đạt hệ số
nhân (HSN) là 3,67; đối với giống CD9 là
môi trường VW bổ sung 120 ml nước dừa,
2 mg/l BAP, 0,7 mg/l NAA, 7 g agar, 10 g đường và 1 g than hoạt tính HSN đạt 3,15 sau 3 tháng thí nghiệm
2 Giai đoạn nhân nhanh trong môi
trường in vitro
Các cụm chồi (protocorm) được tách thành từng chồi nhỏ rồi cho vào môi trường nhân nhanh Các cụm chồi được cấy chuyển
12 tuần (3 tháng) 1 lần trên môi trường MS có
bổ sung 30 g đường saccarose, 6,5 g agar, 1 g than hoạt tính và các chất điều hòa sinh trưởng
ở các nồng độ khác nhau Kết quả nghiên cứu
về ảnh hưởng của BAP và Kinetin đến HSN, chất lượng chồi của hai giống Hoàng lan CD5
và CD9 được trình bày ở bảng 1
Bảng 1 Ảnh hưởng của BAP và Kinetin đến hệ số nhân, chất lượng chồi
của hai giống Hoàng lan CD5 và CD9
Công
thức
Chất
điều hòa
sinh
trưởng
Nồng độ (ppm)
Pr/chồi HSN
Chất lượng chồi
Pr/chồi HSN
Chất lượng chồi
1 (Đ/C)
BAP
1 (Đ/C)
Kinetin
Ghi chú: +: Chất lượng chồi kém;
++: Chất lượng chồi trung bình;
++: Chất lượng chồi tốt nhất
Môi trường thí nghiệm nhân nhanh thứ
nhất phối hợp với chất điều hòa sinh trưởng
BAP (6-benzylaminopurine) ở 4 nồng độ
cho thấy, tất cả các công thức thí nghiệm có phối hợp với BAP đều cho hệ số nhân (HSN) cao hơn đối chứng ở mức có ý
Trang 3nghĩa Nồng độ BAP 1,0 ppm cho HSN cao
nhất và chất lượng chồi tốt đối với cả hai
giống Kết quả này phù hợp với kết quả của
các nghiên cứu khác đã công bố trước đây
(L.David Kuykendall và cs., 2003; Chen
Chang và cs., 2005; Nguyễn Quang Thạch
và cs., 2003) Hệ số nhân và chất lượng
chồi giảm dần khi tăng nồng độ BAP lên
1,5 và 2 ppm (bảng 1)
Môi trường thử nghiệm thứ hai nhằm
tìm hiểu ảnh hưởng của Kinetin đến HSN
và chất lượng chồi đã được tiến hành với 5
nồng độ Kinetin phối hợp với môi trường
cơ bản MS (đối chứng là công thức không
phối hợp Kinetin) Tất cả các công thức môi
trường khi có phối hợp với Kinetin đều cho
HSN cao hơn đối chứng ở mức có ý nghĩa
0,05 Nồng độ Kinetin cho HSN cao nhất đối với giống CD5 là 0,5 ppm và với giống CD9 là 1,0 ppm Như vậy có sự khác nhau giữa các giống đối với nồng độ Kinetin khi phối hợp vào môi trường nhân nhanh Đối với giống CD9 ở tất cả các công thức phối hợp Kinetin ở tất cả các nồng độ đều cho chất lượng chồi rất tốt; còn với giống CD5 chất lượng chồi chỉ tốt khi Kinetin ở nồng
độ từ 0,5 đến 0,7 ppm
Kết quả nghiên cứu phối hợp BAP, NAA và Kinetin vào môi trường nhân
nhanh in vitro hai giống lan CD5 và CD9
với các công thức: MS + BAP + NAA, MS + Kinetin + NAA và MS + BAP + NAA + Kinetin được trình bày ở bảng 2
Bảng 2 Ảnh hưởng của môi trường phối hợp 2AA, BAP và Kinetin đến HS2,
chất lượng chồi của hai giống Hoàng lan CD5 và CD9
Công thức Phối hợp
CĐTST
Nồng độ NAA (ppm)
Pr/chồi HSN
Chất lượng chồi
Pr/chồi HSN
Chất lượng chồi
1 (Đ/C)
NAA + BAP*
0,0 2,04 12,14 + + + 1,79 13,86 + + +
1 (Đ/C)
NAA +
Kinetin**
0,0 2,11 8,89 + + + 2,49 11,86 + + +
Nồng độ Kinetin
1 (Đ/C)***
BAP + NAA
+ Kinetin
0,0 1,28 19,50 + + + 2,22 17,50 + + +
Trang 4CV (%) 4,8 4,6
* BAP = 1 mg/lít môi trường MS, ** Kinetin 0,5 ppm với giống CD5 và 1,0 ppm với giống CD9
*** Công thức đối chứng cho CD5 là MS + 1 mg/l BAP + 0,3 mg/l NAA, cho CD9 là MS + 1 mg/l BAP + 0,5 mg/l NAA
Số liệu bảng 2 cho thấy:
Môi trường MS + BAP phối hợp với
AA Trên cơ sở kết quả thí nghiệm môi
trường MS + BAP đã xác định nồng độ
BAP có tác dụng tăng HSN tốt nhất là
1 ppm Nghiên cứu tiếp tục phối hợp bổ
sung vào môi trường này (MS + BAP) chất
điều hòa sinh trưởng NAA, với các nồng độ
0,1; 0,3; 0,5 và 0,7 ppm (đối chứng là môi
trường MS + 1 mg/lít BAP) Kết quả thí
nghiệm cho thấy, môi trường MS + 1 g/l
BAP + NAA nồng độ 0,3 ppm cho HSN và
chất lượng chồi cao nhất đối với giống CD5
(HSN = 20,46); đối với giống CD9, HSN
đạt cao nhất (18,47) khi nồng độ NAA là
0,5 ppm
Môi trường MS + Kinetin phối hợp
với AA Kết quả thí nghiệm với môi
trường MS + Kinetin (môi trường 2) cho
thấy nồng độ Kinetin ở 0,5 ppm có tác
dụng tốt trong nhân nhanh giống CD5 và
1,0 ppm đối với giống CD9 Nhằm nâng
cao hiệu quả của môi trường này đã phối
hợp với NAA ở 4 nồng độ: 0,1; 0,3; 0,5 và
0,7 ppm Đối chứng là MS + Kinetin
0,5 ppm với giống CD5 và 1,0 ppm với
giống CD9 Kết quả cho thấy khi phối hợp
môi trường MS + Kinetin với NAA nồng
độ 0,3 ppm tốt nhất với giống CD5 (HSN
đạt cao nhất 12,57) và 0,5 ppm tốt nhất với
giống CD9 (HSN đạt 13,79), cao hơn đối
chứng và các nồng độ khác ở mức có ý
nghĩa 0,05
Môi trường MS + BAP + AA phối
hợp bổ sung Kinetin Các thí nghiệm môi
trường cơ bản MS có bổ sung các chất điều
hòa đơn lẻ BAP, NAA và Kinetin đã có tác
dụng rất tốt trong nuôi cây in vitro giai
đoạn nhân nhanh là tăng HSN và chất lượng chồi Nhằm tìm hiểu khả năng phối hợp cả 4 chất điều hòa sinh trưởng này vào môi trường nuôi cấy, thí nghiệm đã thực hiện trên môi trường MS + BAP + NAA phối hợp với Kinetin ở các nồng độ khác nhau (bảng 2) Đối chứng với giống CD5 là
MS + 1 mg/l BAP + 0,3 mg/l NAA; với giống CD9 là MS + 1 mg/l BAP + 0,5 mg/l NAA
Kết quả thí nghiệm cho thấy môi trường MS + BAP + NAA phối hợp thêm Kinetin không có tác dụng tăng HSN, ngược lại có tác dụng làm giảm HSN (mặc
dù không ảnh hưởng đến chất lượng chồi) Đối với giống lan CD5 HSN ở công thức đối chứng (không có Kinetin) cao nhất đạt 19,50; khi bổ sung Kinetin nồng độ 0,1 ppm HSN chỉ còn 10,68 Nồng độ Kinetin càng cao, HSN càng giảm Khi nồng độ Kinetin tăng lên 1,0 ppm HSN chỉ còn 7,39 Bức tranh tương tự cũng nhận được đối với giống lan CD9 (đối chứng đạt HSN cao nhất 17,50, khi bổ sung Kinetin 0,1 ppm HSN chỉ đạt 11,18
và HSN đạt thấp nhất khi tăng nồng độ Kinetin lên 1,0 ppm)
Kết quả thử nghiệm phối hợp môi trường MS + BAP + NAA với IBA (nồng độ 0,1; 0,2; 0,3; 0,4 và 0,5 ppm) cho thấy ở tất cả 5 mức nồng độ IBA đều cho HSN thấp hơn so với công thức đối chứng không có IBA (công thức đối chứng cho CD5 là MS + 1 mg/l BAP + 0,3 mg/l NAA, cho CD9 là MS +
1 mg/l BAP + 0,5 mg/l NAA) Ở công thức đối chứng HSN của giống CD5 là 19,50, khi phối hợp thêm IBA HSN giảm đi ở mức
có ý nghĩa 0,05 HSN của của giống CD9 là
Trang 517,14 ở công thức đối chứng, trong các
công thức phối hợp với IBA HSN giảm,
giảm xuống thấp nhất khi IBA ở nồng độ
0,1 ppm (HSN = 11,21 với giống CD5 và
13,46 với giống CD9) Khi nồng độ IBA
càng tăng thì hệ số nhân càng giảm Đối với
môi trường MS + Kinetin + NAA bổ sung
IBA ở 5 nồng độ như phối hợp với MS +
BAP + NAA cũng cho kết quả tương tự
Tất cả các môi trường có phối hợp với IBA
đều cho HSN thấp hơn đối chứng không có
IBA Kết quả thí nghiệm cho thấy, ảnh
hưởng của các công thức phối hợp trên đến HSN không có ý nghĩa đối với cả hai giống Hoàng lan
Nghiên cứu bổ sung các chất kích thích tự nhiên sẵn có ở Việt Nam vào môi
trường nhân in vitro cây hoa lan có ý nghĩa
quan trọng, nhằm giảm giá thành cây giống Kết quả nghiên cứu thăm dò hai loại chất kích thích tự nhiên có trong nước dừa
và chuối xanh với lượng bổ sung khác nhau vào môi trường nuôi cấy được trình bày ở bảng 3
Bảng 3 Ảnh hưởng của chuối xanh và nước dừa phối hợp trong môi trường nuôi cấy
tới HS2, chất lượng chồi của hai giống lan CD5 và CD9
Công
thức
Liều lượng
Pr/chồi HSN
Chất lượng chồi
Pr/chồi HSN
Chất lượng chồi
1 (Đ/C)
Chuối
xanh
(gam)
1 (Đ/C)
Nước
dừa
(ml/l)
Dịch chiết chuối xanh bổ sung vào môi
trường nuôi cấy có ảnh hưởng tích cực đến
chất lượng chồi và HSN Trong tất cả các
công thức có bổ sung dịch chiết chuối
xanh đều có HSN cao hơn công thức đối
chứng, với giống CD5 đạt HSN cao nhất (6,50 ở công thức bổ sung 50 g chuối), với CD9 HSN cao nhất đạt 6,86 khi bổ sung
25 g chuối xanh Tỷ lệ tạo chồi và protocorm tương đương nhau (với CD5 là
Trang 61,65, CD9 là 1,16) Các chồi phát triển ở
mức trung bình
Nước dừa là một hợp chất tự nhiên,
giàu cytokinins, trước đây đã được dùng
rộng rãi trong lĩnh vực nuôi cấy mô và
nhân giống in vitro hoa lan (Nguyễn
Quang Thạch và cs., 2004) HSN ở tất cả
các công thức có bổ sung nước dừa từ 50 -
150 ml đều cao hơn so với công thức đối
chứng (với giống CD5 HSN cao nhất đạt
6,32 khi thêm 150 ml nước dừa, công thức
đối chứng đạt 3,00; còn với giống CD9
HSN cao nhất đạt 5,89, đối chứng 3,39)
Tuy nhiên, tỷ lệ tạo chồi ở các công thức
có HSN cao nhất so với tỷ lệ tạo
protocorm rất thấp, được thể hiện qua tỷ lệ
protocorm/chồi của CD5 và CD9 tương
ứng là 3,66 và 4,5 (bảng 3)
Giai đoạn tạo cây hoàn chỉnh là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhân nhanh giống Các chồi được kích thích ra rễ để chúng có thể sống, phát triển tốt khi chuyển trồng ra ngoài đất Nhiều tác giả đã khẳng định vai trò của than hoạt tính trong việc xúc tiến quá trình ra rễ của nhiều loại cây trồng Jacques và Homes (1963) đã phát hiện ra than hoạt tính có tác dụng tăng tỷ lệ cây ra rễ trên môi trường nuôi cấy
Cymbidium
Kết quả nghiên cứu vai trò của than hoạt tính trong môi trường ra rễ của hai giống hoa lan bằng cách bổ sung 0,5-2 g than hoạt tính vào môi trường ra rễ, được trình bày ở bảng 4
Bảng 4 Ảnh hưởng của than hoạt tính đến khả năng ra rễ, chất lượng rễ
của 2 giống Hoàng lan CD5 và CD9
Công thức THT
(g)
Tỷ lệ
ra rễ
Số rễ/cây
Độ dài
rễ TB
Tỷ lệ
ra rễ
Số rễ/cây
Độ dài
rễ TB
Số liệu bảng 4 cho thấy than hoạt tính
có ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành rễ
của 2 giống Hoàng lan CD5 và CD9 Ở cả 2
giống, khi bổ sung 1 g/l than hoạt tính vào
môi trường tạo cây hoàn chỉnh đều cho số
rễ/cây và độ dài rễ cao nhất Đối với giống
CD5 số rễ/cây là 2,65 và 2,92 là số rễ/cây
của giống CD9 Độ dài rễ trung bình của giống CD5 là 2,21 và của giống CD9 là 2,42 Công thức đối chứng có số rễ/cây và
độ dài rễ trung bình thấp nhất
Khi bổ sung NAA vào môi trường ra
rễ + than hoạt tính cho thấy, ở nồng độ
Trang 70,5 ppm NAA có tác dụng tăng tỷ lệ ra
rễ, số rễ trên cây và chiều dài rễ của cả
hai giống Hoàng lan CD5 và CD9 Tỷ lệ
ra rễ đạt 100%, số rễ trên cây 3,82 rễ,
chiều dài rễ 3,15 cm đối với giống CD5; đối với giống CD9 tỷ lệ ra rễ đạt 100%,
số rễ trên cây 4,73 rễ và chiều dài rễ 3,89 cm
Bảng 5 Ảnh hưởng của than hoạt tính và 2AA đến khả năng ra rễ, chất lượng rễ
của hai giống Hoàng lan CD5 và CD9
Công thức NAA
(ppm)
Tỷ lệ
ra rễ
Số rễ/cây
Độ dài rễ TB (cm)
Tỷ lệ
ra rễ
Số rễ/cây
Độ dài rễ TB (cm)
(Công thức đối chứng là MS + 1 g than hoạt tính cho cả 2 giống hoàng lan CD5 và CD9)
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của ba
loại giá thể tiếp nhận đến tỷ lệ sống của cây
con in vitro được trình bày ở bảng 6 Cây
con tiêu chuNn được tạo ra từ giai đoạn tạo
cây hoàn chỉnh có từ 3 - 4 rễ trở lên được
chuyển trồng vào giá thể để đánh giá khả năng tiếp nhận của giá thể đối với cây con
in vitro Ba loại giá thể sử dụng trong thí
nghiệm là rong biển, xơ dừa và 1/2 rong
biển + 1/2 xơ dừa
Bảng 6 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống của 2 giống hoàng lan CD5 và CD9
(sau 1 tháng theo dõi)
Trang 8T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
8
Số liệu bảng 6 cho thấy các giá thể khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ sống của cả hai giống Hoàng lan CD5 và CD9 Sau 1 tháng trồng trên giá thể ở tất cả các công thức đều
có cây con bị chết Nguyên nhân chết là do cây mới được đưa ra khỏi bình nuôi cấy, chúng phải trải qua giai đoạn thích nghi, bộ rễ chưa ổn định nên dễ bị tổn thương và bị chết Tỷ lệ chết cao nhất của giống CD5 và CD9 là ở giá thể xơ dừa, lần lượt là 33,33% và 41,67% Do
xơ dừa giữ Nm kém hơn các giá thể còn lại nên cây con thường bị khô, dễ chết Giá thể rong biển có khả năng giữ Nm tốt nên cây con dễ thích nghi, bộ rễ nhanh chóng được ổn định và phát triển Tỷ lệ sống cao nhất ở giống CD5 đạt 95% và ở CD9 đạt 92,5% Bước đầu kết luận
giá thể tiếp nhận cây con của hai giống lan từ nuôi cấy in vitro tốt nhất là rong biển do khả
năng giữ Nm của loại giá thể này tốt hơn xơ dừa
IV KẾT LUẬN
Môi trường nhân nhanh bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng thuộc nhóm Auxin và Cytokinins có tác dụng tốt tăng HSN và chất lượng chồi đối với hai giống lan CD5 và CD9 Môi trường cho HSN và chất lượng chồi cao nhất với giống CD5 là môi trường cơ bản MS bổ sung 1 mg/l BAP và 0,3 mg/l N AA Môi trường tốt nhất đối với giống CD9 là môi trường cơ bản MS bổ sung 1 mg/l BAP và 0,5 mg/l N AA
Các chất điều hòa sinh trưởng IBA, Kinetin bổ sung riêng rẽ hay tổ hợp với các môi trường MS + BAP + N AA đều cho kết quả thấp hơn khi bổ sung 2 chất BAP và N AA Các chất điều hòa có trong các sản phNm tự nhiên ở nước ta như chuối xanh, nước dừa có thể bổ sung để tăng hiệu quả môi trường và tiết kiệm chi phí khi nhân giống hoa lan Môi trường tạo cây hoàn chỉnh tốt nhất cho CD5 và CD9 là môi trường MS bổ sung
1 g than hoạt tính và 0,5 mg/l N AA, tạo ra số rễ nhiều nhất và chất lượng rễ tốt nhất
Giá thể tốt nhất để ra cây con sau giai đoạn in vitro là dớn đối với cả hai giống CD5
và CD9 Tuy nhiên, có thể dùng hỗn hợp rong biển và xơ dừa với tỷ lệ 1:1 vì tỷ lệ sống của giá thể hỗn hợp này cũng khá cao, nhằm giảm chi phí giá thể trong nhân giống TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 2guyễn Quang Thạch, 2guyễn Thị Lý Anh, Hoàng Thị 2ga, 2guyễn Xuân Trường,
Đỗ Đăng Vịnh, 2003 N ghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và nuôi trồng phong
lan Phalaenopsis, Báo cáo tại Hội nghị sinh học toàn quốc
2 2guyễn Quang Thạch, Hoàng Thị 2ga, 2guyễn Thị Lý Anh, Vũ Thị Hoài, 2004 Ứng dụng phương pháp nuôi cấy lát mỏng tế bào trong nhân nhanh in vitro một số giống
địa lan có giá trị; vol 5, Tạp chí Khoa học và Phát triển, Đại học N ông nghiệp Hà
N ội
3 2guyễn Quang Thạch, 2guyễn Thị Lý Anh, 2guyễn Thị Lâm Hải, 2005 Lan Hồ điệp
kỹ thuật chọn tạo, nhân giống và nuôi trồng, N XB N ông nghiệp
4 Chen Chang*, Ying Chun CHE2 and Hsin Fu YE2, 2005 Protocorm or rhizome?
The morphology of seed germination in Cymbidium dayanum Reichb., Bot Bull
Acad Sin (2005) 46: 71-74, China
Trang 9T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
9
5 Chen Chang, Chang - Tesrm Chen, Yu-Ching Tsai, Wei-Chin Chang, 2000 A tissue culture protocol for propagation of a rare plant, Lilium speciosum Thunb Var
gloriosoides Baker, Bot.Bull Acad Sin 41: 139-142
6 L David Kuykendall, Tammy M Stockett and Joseph W Saunder, 2003 Rhizobium
radiobacter conjugation and callus-independent shoot regeneration use to introduce
the cercosprin export gene cfp from Cercospora into sugar beet (Beta culgaris L.),
Biotecnology Letter 25: 739-744, Kluwer Acadimic Publisher Printed in the Netherlands
7 ICOGO, 2009 An Overview of ICOGO, International Commercial Orchid Growers
Organization
8 Sheena McKendrick, 2000 Orchid Propagation Techniques, Ceiba Foundation for
Tropical Conservation
,gười phản biện: ,guyễn Văn Vấn