1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần loài và cấu trúc khu hệ tảo và vi khuẩn lam tại một số thuỷ vực thuộc vùng Mã Đà, tỉnh Đồng Nai

14 903 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 266,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thành phần loài và cấu trúc khu hệ tảo và vi khuẩn lam tại một số thuỷ vực thuộc vùng Mã Đà, tỉnh Đồng Nai

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội trường đại học khoa học tự nhiên

-Nguyễn Thùy Liên

nghiên cứu thành phần loài và cấu trúc khu

hệ tảo và vi khuẩn lam tại một số thuỷ vực thuộc vùng mã đà, tỉnh đồng nai

Chuyên ngành : Thực vật học Mã số : 62 42 20 01

Tóm tắt luận án tiến sĩ ngành sinh học

Hà Nội - 2009

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Khoa Sinh học, trường Đại học

Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS Đặng Thị Sy

2 TS Trần Văn Thụy

Phản biện 1: GS TSKH Trịnh Tam Kiệt

Phản biện 2: PGS TS Trần Ninh

Phản biện 3: PGS TS Trần Minh Hợi

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp nhà nước chấm luận án

tiến sĩ họp tại………

Vào hồi … giờ … ngày … tháng … năm

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

danh mục các công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án

1 Nguyễn Thuỳ Liên, Đặng Thị Sy (2005), "Dẫn liệu bước đầu về

hệ tảo và Vi khuẩn lam tại suối Mã Đà, tỉnh Đồng Nai",Tuyển tập Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong Khoa học Sự sống,

NXB Khoa học & Kỹ thuật, trang 221- 225

2 Nguyen Thuy Lien, Dang Thi Sy (2005), "Genus cosmarium at

Ba Hao lake, Ma Da forestry farm, Dong Nai province",

Journal of Science T XXI (No4 AP), pp 113-117.

3 Nguyen Thuy Lien, Dang Thi Sy, Tran Van Thuy (2006), "The distribution and composition of freshwater algae at Ma Da area

in different water bodies", Journal of Science T XXII (No3C

AP), pp 62-66

Trang 3

Mở đầu Tính cấp thiết của luận án:

Toàn thế giới đã phát hiện được khoảng 40.000 loài tảo Tuy

nhiên, so với số loài ước tính thì số loài đã định loại được còn rất nhỏ

bé ở Việt Nam, “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (2001) ghi

nhận 2.191 loài tảo thuộc 9 ngành và 368 loài Vi khuẩn lam Như

vậy, nghiên cứu về tảo ở nước ta so với nghiên cứu ở các nhóm sinh

vật khác còn rất hạn chế

Vùng Mã Đà thuộc tỉnh Đồng Nai là khu vực gồm 3 lâm

trường: Mã Đà, Hiếu Liêm và Vĩnh An Năm 2003, cả ba lâm trường

đã có quyết định giải thể và chuyển thành “Khu dự trữ thiên nhiên

Vĩnh Cửu” trực thuộc UBND tỉnh Đồng Nai Năm 2006, trung tâm

Quản lý di tích chiến khu D được sát nhập vào Khu dự trữ và toàn bộ

khu vực được đổi tên thành “Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích

Vĩnh Cửu” Dù đã được xác định chức năng sản xuất, khai thác và

nay là khu bảo tồn thiên nhiên và di tích nhưng cho tới nay vẫn chưa

có nghiên cứu kỹ lưỡng nào về tảo và Vi khuẩn lam tại đây Do vậy,

việc điều tra thành phần loài và sự phân bố của tảo và Vi khuẩn lam

tại khu vực Mã Đà có tính cấp thiết cả về khoa học và định hướng quy

hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên khu vực

Luận án “Nghiên cứu thành phần loài và cấu trúc khu hệ

tảo và vi khuẩn lam tại một số thuỷ vực thuộc vùng Mã Đà, tỉnh

Đồng Nai” là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và có

hệ thống về tảo và vi khuẩn lam trên toàn khu vực Mã Đà chính là

đáp ứng tính cấp thiết trên

Mục đích của luận án:

 Điều tra, xác định thành phần loài và cấu trúc hệ tảo và vi khuẩn

lam tại các thuỷ vực thuộc vùng Mã Đà, tỉnh Đồng Nai

 Nghiên cứu sự phân bố của thành phần loài tảo và vi khuẩn lam trong vùng Mã Đà theo thời gian và loại hình thủy vực

 Đánh giá chất lượng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu trên cơ sở cấu trúc và thành phần khu hệ tảo và vi khuẩn lam

ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

 ý nghĩa khoa học: Kết quả của luận án là tài liệu cho phân loại tảo

và Vi khuẩn lam, bổ sung kiến thức chuyên ngành thực vật, góp phần cho đánh giá đa dạng sinh học vùng Mã Đà nói riêng và cả Việt Nam nói chung

 ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả của luận án là cơ sở khoa học trong việc quy hoạch bảo tồn, sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học và cho công tác đào tạo

Điểm mới của luận án:

 Đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về hệ tảo và Vi khuẩn lam tại vùng Mã Đà, tỉnh Đồng Nai

 Bổ sung 34 loài và dưới loài tảo mới cho Việt Nam

 Xác định đặc điểm phân bố và cấu trúc của hệ tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà, lấy đó làm cơ sở để đánh giá chất lượng các thủy vực trong khu vực nghiên cứu và xác định công thức đánh giá chất lượng nước phù hợp với từng loại hình thủy vực

Bố cục của luận án:

Luận án gồm 140 trang (không kể phụ lục), 43 hình, 1 bản đồ,

1 sơ đồ, 4 biểu đồ, 17 bảng được chia thành các phần sau: Mở đầu (4 trang), chương 1 (tổng quan tài liệu: 27 trang), chương 2 (Đối tượng

và phương pháp nghiên cứu: 10 trang), chương 3 (kết quả nghiên cứu:

78 trang), kết luận (2 trang), danh mục các công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án (3 công trình), tài liệu tham khảo (151 tài liệu), phụ lục

Trang 4

chương 1 Tổng quan tài liệu

1.1 Lịch sử nghiên cứu tảo và vi khuẩn lam trên thế giới

Trong lịch sử nghiên cứu tảo và vi khuẩn lam đã ghi nhận

nhiều quan điểm phân loại khác nhau về vị trí của nhóm sinh vật này

trong sinh giới, như quan điểm của Linaeus (1735), Ernst Haeckel

(1866), Coperland, Whittaker (1969), Gordon (1974)

Cho tới nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau trong xây

dựng hệ thống phân loại tảo

Những quan điểm phân loại ban đầu còn mang nhiều tính nhân

tạo như quan điểm của Harvey (1836), C A Agardh (1817-1824),

Hassall (1857)

Những nghiên cứu sâu rộng hơn về tảo đã giúp cho việc xây

dựng hệ thống phân loại mang tính tự nhiên hơn Có thể kể đến các

quan điểm của G Smith (1950), Gordon F Leedale (1974), Whittaker

(1978), R.Fitter và R.Manuel (1995), Robert Edward Lee (1999) và

quan điểm của các nhà tảo học Liên Xô cũ

Theo chúng tôi, quan điểm tách ngành Tảo vàng ánh thành ba

ngành Tảo vàng, Tảo vàng ánh và Tảo silic của một số tác giả như

Gordon F Leedale (1974), Whittaker (1978) và Tảo vòng được xếp

thành một lớp của ngành Tảo lục trên cơ sở sắc tố quang hợp và chất

dự trữ là tinh bột theo quan điểm của Whittaker (1978) là hợp lý

Việc phân loại, định loại tảo mới chỉ đạt được một lượng nhỏ

so với thực tế nên cho đến những năm gần đây vẫn có nhiều công

trình được tiến hành theo hướng này Có thể kể đến các công trình

của J Ralfs (1848), J B Delponte (1873), West W & West G.S

(1904- 1922), H Skuja (1948), Zabelina (1951), Savicz (1951, 1954),

M.S Randhawa (1959), Minoru Hirano (1992), Takaaki Yamagishi

và Masaru Akiyama (1994-1995), J Komárek và K Anagnostidis

(1998, 2005), H.S Pundhir và M Khan (1999), F.D Opute (2000), Tahir Atici (2002), Aydin Akbulut (2003), Akihiro Tuji (2003), P.K Misra, A.K Srivastava, J Prakash , J Komỏrek & Jaroslava Komỏrkovỏ (2004), Siripen Traichaiyaporn và cộng sự (2004), D.K Asthana và S.K Rai (2005), Wei Yinxin và Yu Minjuan (2005), S.K Rai (2006), Jui-Yu Chou, Wei-Lung Wang (2006), Bỹlent Şahin (2007), Okan ệZTĩRK (2007),FENG Jia XIE Shu-Lian YAO Ge (2007)

Bên cạnh việc nghiên cứu thành phần loài tảo trong các thuỷ vực, nhiều tác giả đã chú ý đến mối tương quan với hiện trạng môi trường nước Có thể kể đến các công trình của Nygaard (1949), Liebmann (1962), Schroevers (1965), Fefoldy Lajos (1980), Eva Willén (2001), Almeida, S F P (2001), Giuseppe Morabito, Delio Ruggiu và Pierisa Panzani (2002), Jurisic Ivana (2004), Kasperovičienė J và Vaikutienė G (2007)

1.2 Lịch sử nghiên cứu tảo và vi khuẩn lam ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu tảo và vi khuẩn lam ở Việt Nam

được tiến hành muộn hơn so với thế giới nhưng cũng đã có một số thành tựu nhất định

Những nghiên cứu ban đầu về tảo ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện bởi các nhà khoa học nước ngoài như J Loureiro (1793),

M D Bois và P Petit (1904), P Fremy (1927), M Lefevre (1933), Shirota (1966)

Những nghiên cứu về phân loại tảo và Vi khuẩn lam ở Việt Nam còn rất hạn chế Chính vì vậy, các công trình về phân loại chúng

và các vấn đề liên quan trong những năm gần đây vẫn được tiến hành

ở nhiều nơi trên cả nước

Trang 5

Nghiên cứu về tảo đầu tiên do người Việt Nam thực hiện là

công trình về thực vật thủy sinh ở Sài Gòn của Vũ Văn Cương năm

1960 Tiếp theo là các công trình của Phạm Hoàng Hộ, Hoàng Quốc

Trương, Cao Ngọc Phương (1964), Nguyễn Thanh Tùng (1967,

1970) Kế đến là hàng loạt các luận án, sách chuyên khảo và bài báo

của Dương Đức Tiến (1972, 1973, 1975, 1976, 1977, 1982, 1996,

2002), Trần Văn Nhị và Dương Đức Tiến (1984), Nguyễn Văn Tuyên

(1979, 2003), Võ Hành (1983), Phùng Thị Nguyệt Hồng (1992),

Dương Đức Tiến và Võ Hành (1997), Nguyễn Thị Loan (1997), Đặng

Thị Sy (1995 – 1998), Nguyễn Đình San (2000), và gần đây là Lê Thị

Thúy Hà (2004), Hồ Sĩ Hạnh (2006), Nguyễn Thị Thu Liên (2007),

Nguyễn Thùy Liên (2005, 2006, 2007), các nghiên cứu về vi khuẩn

lam độc của Đặng Hoàng Phước Hiền cùng cộng sự

Nghiên cứu về tảo trong các thủy vực nước lợ và nước mặn có

thể kể tới các công trình của Rose, Dawydoff, Yamashita, Hoàng

Quốc Trương, Shirota, Trương Ngọc An, Đặng Thị Sy, Tôn Thất

Pháp, Nguyễn Ngọc Lâm, Chu Văn Thuộc, Đoàn Như Hải, Lương

Quang Đốc

Các phương pháp hiện đại cũng đã được áp dụng vào nghiên

cứu tảo trong các công trình của Nguyễn Ngọc Lâm, Đoàn Như Hải,

Lương Quang Đốc, Nguyễn Thị Thu Liên, Lê Như Hậu, Nguyễn Hữu

Đại, Đặng Diễm Hồng và cộng sự, Đặng Đình Kim và cộng sự

Các công trình về phân loại tảo và vi khuẩn lam và các vấn đề

liên quan vẫn liên tục được tiến hành ở nhiều nơi trên cả nước

Tại khu vực Mã Đà cũng đã có một số công bố về thành phần

tảo và vi khuẩn lam của Nguyễn Thuỳ Liên và Đặng Thị Sy (2005,

2006), Đỗ Thị Bích Lộc (2005), Lưu Thị Thanh Nhàn (2005)

1.3 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu

1.3.1 Vị trí và diện tích khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu có phía Đông tiếp giáp với hồ Trị An và vùng đồi Định Quán, phía Tây được giới hạn bởi sông Bé, đây cũng là ranh giới giữa tỉnh Đồng Nai và Bình Dương Thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu là ranh giới phía Nam của khu vực Phía Bắc là Bình Phước và Nam Cát Tiên

Toạ độ địa lý của khu vực nghiên cứu được xác định từ 11 o 08’41’’ – 11o32’16’’ Vĩ độ Bắc, 106 o 55’14’’ – 107o35’20’’ Kinh độ

Đông

Diện tích vùng nghiên cứu là 68.368 ha

1.3.2 Đặc điểm khí hậu

Khu vực Mã Đà nằm trong vùng khí hậu Đông Nam Bộ có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô

1.3.3 Địa hình

Vùng nghiên cứu có địa hình tương đối bằng phẳng, có đồi thấp, nhìn chung có dạng gợn sóng, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Do vậy, sông suối trong toàn vùng đổ vào hồ Trị An hoặc sông Bé

1.3.4 Thảm thực vật

Nhìn chung rừng trong toàn khu vực đã bị khai thác kiệt về

gỗ nhưng những cây không có giá trị, cây gỗ nhỏ và cây tái sinh vẫn tạo nên tán rừng rậm rạp Hầu hết các suối bị tán rừng che phủ không thuận lợi cho tảo phát triển

1.3.5 Các dạng thủy vực

Trong toàn vùng nghiên cứu có 8 dạng thủy vực có thể chia thành các nhóm: nhóm thủy vực nước chảy, nhóm thủy vực nước

đứng và hồ chứa nhân tạo (hồ Trị An)

Trang 6

1.3.6 Chất lượng nước ở một số điểm thu mẫu tại Mã Đà

Một số điểm của các loại hình thủy vực chính đã được thăm

dò chất lượng nước qua 6 chỉ tiêu (DO, độ dẫn, độ đục, nhiệt độ, độ

muối và pH) Nhìn chung, môi trường nước ở khu vực Mã Đà khá

thích hợp cho Tảo và Vi khuẩn Lam phát triển

chương 2 Đối tượng và phuơng pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hệ tảo và vi khuẩn lam tại các thuỷ

vực thuộc khu vực Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Khảo sát thực địa và thu thập mẫu vật

Quá trình nghiên cứu đã tiến hành được 7 đợt thu thập mẫu

vật và khảo sát môi trường sống từ tháng 11 năm 2002 đến tháng 5

năm 2006 theo 12 tuyến nghiên cứu

Mẫu mùa mưa được thu vào tháng 11 và mẫu mùa khô được

thu vào cuối tháng 4 hàng năm Hai thời điểm này có mưa nhưng

không lớn nên có thể thu mẫu được Tháng 11 là thời điểm cuối mùa

mưa, các dòng chảy ổn định và có độ trong cần thiết để tảo phát triển

Cuối tháng 4, thủy vực bị cạn trong mùa khô đã bắt đầu có nước từ

những cơn mưa đầu mùa nên tảo cũng đã xuất hiện

Do địa bàn nghiên cứu rộng, địa hình đa dạng nên chúng tôi

đã tiến hành thu mẫu theo phương pháp phân tuyến nghiên cứu Các

tuyến thu mẫu dựa vào đường giao thông, đường khai thác gỗ và các

khu sinh thái đặc trưng trong khu vực, thường là vùng có nhiều suối,

ao, hồ và đầm

Trên 12 tuyến nghiên cứu đã thiết lập 70 điểm thu mẫu cho 8

loại thủy vực: hồ, hồ trữ nước phòng cháy, đầm, ao nuôi, giếng nước,

ruộng lúa, mương dẫn và suối Trong các loại thủy vực trên có hồ,

một số hồ trữ nước phòng cháy rừng, giếng nước và suối Bà Hào, suối Mã Đà là có nước quanh năm Các thủy vực khác chỉ có nước vào mùa mưa

Tại mỗi điểm đã tiến hành thu mẫu tảo phù du và tảo bám

 Tảo phù du thu bằng lưới vớt thực vật Juday No 64 có

đường kính miệng 15 cm, sâu 120 cm

 Tảo bám có hai loại: bám trên thực vật thuỷ sinh và bám trên nền đáy

- Tảo bám trên thực vật thuỷ sinh thường là vi tảo nên thu bằng cách ngắt các đoạn cây có tảo hoặc cạo lấy lớp bám trên đó bằng dao

- Tảo bám trên nền đáy cỡ lớn được lấy bằng dao hoặc lấy trực tiếp bằng tay

Mẫu được cố định bằng phoc-môn 4% và giữ tại phòng thí nghiệm Thực vật bậc thấp, bộ môn Thực vật học, khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tổng số lọ mẫu thu được của 7 đợt nghiên cứu là 620 lọ Chất lượng nước tại một số điểm nghiên cứu được đo bằng máy đo 6 chỉ tiêu của hãng TOA, Nhật Bản

2.2.2 Xử lý, phân tích và định loại mẫu vật

2.2.2.1 Định loại và phân tích mẫu vật

 Mẫu được quan sát bằng các dụng cụ:

 Kính hiển vi quang học Leica DMRE có gắn trắc vi thị kính và máy chụp ảnh hiển vi tự động với độ phóng đại từ 200 – 1000 lần

 Kính hiển vi giao thoa vi sai

 Kính hiển vi soi nổi Leica MZ75, có gắn máy chụp ảnh hiển vi

tự động Leica MPS 60

Trang 7

 Kính hiển vi lazer quét đồng tiêu LSM 510.

 Kính hiển vi điện tử quét (SEM)

 Xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm:

 Đối với các mẫu yêu cầu quan sát hình dạng theo nhiều chiều

như mẫu Tảo hai rãnh, Tảo desmid đơn bào, Tảo silic …, dùng

kim mũi mác đập nhẹ lên lamen để mẫu quay theo các hướng

khác nhau

 Các mẫu chụp dưới kính hiển vi lazer quét được xử lý: đưa mẫu

lên lamen, phơi khô, phủ vàng và quét dưới kính

 Mẫu tảo silic được xử lý bằng phương pháp đốt mẫu của

Hendey (1964)

 Đánh giá chất lượng các thủy vực ở Mã Đà:

Để đánh giá chất lượng nước, một số cách tính của các tác

giả đã được áp dụng

 Công thức của Fefoldy Lajos:

Nghèo dưỡng

Dinh dưỡng trung bình

Phú dưỡng Chỉ số Vi khuẩn lam

Chỉ số Chlorococcales =

Chỉ số Diatomae =C/D 0 – 0,2 0,2 – 3,0 3,0 – 6,0

Chỉ số Euglenophyta =

N

ni N

ni H

s

i

2 1

log ' 

 Công thức của Nygaard (1948):

D

E C Chl Cy

1

Q : Nghèo dưỡng 5

1Q : Dinh dưỡng trung bình

5

Q : giàu dinh dưỡng

 Công thức của Schroevers (1965):

D Chl

D Chl Q

20

20 

Q : Dinh dưỡng trung bình

20

Q : Phú dưỡng Cy= Cyanophyta; Ch (hoặc Chl) = Chlorococcales; C= Centrales; P= Pennales; D= Desmidiaceae; E= Euglenophyta; Q= chỉ tiêu đánh giá

 Chỉ số đa dạng sinh học được tính theo công thức của Shannon-Weiner (H'):

Với: H': chỉ số đa dạng loài; s: số lượng loài; N: tổng số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu; ni: số lượng cá thể của loài i

Nếu chỉ số đa dạng > 3: Đa dạng sinh học tốt và rất tốt

Từ 1-3: Đa dạng sinh học trung bình Trong đó: 2-3:Trung bình khá,

1-2: Trung bình kém

< 1: Đa dạng sinh học kém và rất kém

 Mẫu vật được xác định theo phương pháp hình thái so sánh

2.2.2.2 Hệ thống phân loại sử dụng trong luận án

Hệ thống phân loại trong luận án này theo quan điểm của Gordon F L Theo hệ thống này, Tảo vàng, Tảo vàng ánh, Tảo silic

được tách riêng thành các ngành khác nhau, tảo vòng là một lớp trong

Trang 8

ngành Tảo lục Hệ thống của Gordon được xây dựng dựa trên đặc

điểm hình thái cơ thể, chu trình sống và cách thức sinh sản Theo

chúng tôi, đây là hệ thống hợp lý, phù hợp với phương pháp phân loại

được sử dụng trong luận án và cũng rất tiện dụng

2.2.2.3 Các đặc điểm chính để định loại các nhóm tảo:

1- Ngành Tảo đỏ (Rhodophyta):

Vị trí và đặc điểm phân loại chi Batrachospermum trong luận

án được sử dụng theo Komano S và Entwisleet al.

2- Ngành Tảo hai rãnh (Dinophyta)

Trong ngành này, chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại của

Dodge năm 1984

3- Ngành Tảo vàng ánh (Chrysophyta)

Chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại các taxon của ngành Tảo

vàng ánh theo C S Reynolds (2006)

4- Ngành Tảo Silic (Bacillariophyta):

Trong ngành này, chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại của

Karsten (1928)

5- Ngành Tảo mắt (Euglenophyta)

Hệ thống phân loại ngành Tảo mắt trong luận án dựa theo

Soloman et al (1991)

6- Ngành Tảo lục (Chlorophyta)

Các đặc điểm hình thái sử dụng cho định loại bao gồm kích

thước tế bào, cách sắp xếp các tế bào trong tập đoàn, số lượng và hình

dạng các phần phụ như tay, gai, hạt Tảo vòng được xếp thành một

lớp của ngành Tảo lục trên cơ sở sắc tố quang hợp và chất dự trữ là

tinh bột theo quan điểm của Whittaker (1978)

7- Ngành Vi khuẩn lam (Cyanobacteriophyta)

Hệ thống phân loại Vi khuẩn lam được dùng trong luận án theo

Desikachary (1959), kết hợp với một số bổ sung của Gollerbax (1953)

và Kondratieva (1968)

3.1 Thành phần loài của hệ tảo và vi khuẩn lam vùng Mã Đà

3.1.1 Cấu trúc thành phần loài và nơi sống

Kết quả phân tích 620 lọ mẫu thu thập được trong 7 đợt nghiên cứu đã định loại được 347 loài và dưới loài (trong đó có 250 loài, 84 thứ (var.), 8 dạng (f.) và 5 loài mới xác định được đến chi) tảo

và Vi khuẩn lam thuộc 82 chi, 32 họ, 19 bộ của 6 ngành tảo và ngành

Vi khuẩn lam, trong đó Tảo mắt (Euglenophyta) có 28 loài và dưới loài, Tảo lục (Chlorophyta) có 235 loài và dưới loài, Tảo silic (Bacillariophyta) có 53 loài và dưới loài, Tảo hai rãnh (Dinophyta) có

6 loài và dưới loài, Tảo đỏ (Rhodophyta) có 2 loài, Tảo vàng ánh (Chrysophyta) có 1 loài và ngành Vi khuẩn lam (Cyanobacteriophyta)

có 22 loài và dưới loài

3.1.2 Các loài và dưới loài mới bổ sung cho hệ tảo và Vi khuẩn

lam Việt Nam

Đối chiếu danh lục các loài tảo và Vi khuẩn lam trong các thủy vực của khu vực Mã Đà với Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001), Danh lục Tảo nội địa Việt Nam (Nguyễn Văn Tuyên, 2003), công bố về bộ Tảo lục của Dương Đức Tiến (Tảo nước ngọt Việt Nam, 1997) và công bố của Shirota (The plankton of South Vietnam, 1966), chúng tôi đã ghi nhận được 34 taxon bậc loài và dưới loài mới cho Việt Nam

1 Trachelomonas crispa Balech

2 Gomphonema eriense Grun.

3 Navicula elongata Poretzky

4 Navicula lacustris Greg var Paulseniana (Boye P.) Zabelina

5 Eunotia tauntoniensis Hust.

6 Carteria klebsii (P.A Dangeard) Francé

7 Oedogonium stellatum Wittr.

8 Oedogonium vesicatum (Lyngb.) Wittr.

9 Bulbochaete mirabilis Wittr.

Trang 9

10 Actinotaenium curtum (Bréb) Teiling

11 Arthrodesmus octocornis Ehrenb.

12 Cosmarium amoenum (Bréb.) Ralfs

13 Cosmarium candianum Delponte

14 Cosmarium connatum Bréb.

15 Cosmarium crispatum Hirano

16 Cosmarium cuneatum Joshua

17 Cosmarium formosulum W.E Hoff

18 Cosmarium humile (Gay.) Nordst.

19 Cosmarium ocellatum Eichl & Gutw.

20 Cosmarium quadrifarium P Lundell f polysticha P Lundell

21 Cosmarium reniforme (Kalfs) W Archer var elevatum West

& G.S West

22 Cosmarium subspeciosum Nordst var validius Nordst

23 Cosmarium trilobulatum Reinsch

24 Cosmarium tumidum Lund.

25 Desmidium coarctatum Nordst

26 Desmidium pseudostreptonema W & G.S.West

27 Euastrum fissum W & G.S.West.

28 Pleurotaenium trabecula (Ehrenb.) Nọg f maximum

(Reinsch) Roll

29 Spondilosium javanicum (Gutw.) Grửnbl.

30 Staurastrum freemanii W G.S.West var triquetrum W.

G.S.West

31 Staurastrum o-meari Arch

32 Spirogyra irregularis Nageli

33 Spirogyra gallica Petit

34 Spirogyra notabilis Taft

3.1.3 Các loài chưa xác định được tên gọi

Trong quá trình định loại, chúng tôi thấy 5 mẫu thuộc các

chi: Batrachospermum, Pleurotaenium, Staurastrum, Chara có đủ

các đặc điểm của một loài, nhưng không có trong các tài liệu định

loại mà chúng tôi có được Chúng tôi đã mô tả kĩ để các nhà tảo học

khác có điều kiện định loại và xác định chúng có phải là loài mới cho khoa học và loài mới cho Việt Nam

3.1.4 Các loài đáng chú ý của hệ tảo và vi khuẩn lam vùng Mã Đà

Trong vùng nghiên cứu có một số loài thường khó tìm thấy ở các vùng khác nhưng lại phát triển mạnh ở đây Đó là các loài:

Batrachospermum moniliforme Roth, Batrachospermum sp., Chara

spp Các loài tảo đỏ sống ở nước ngọt và tảo vòngChara là các mẫu

được dùng cho sinh viên thực tập trong giáo trình “Thực vật học” Các mẫu này phân bố không phổ biến nên đây là địa điểm tốt để lưu giữ mẫu sống cho học tập và nghiên cứu

Loài Vi khuẩn lam Spirulina major Kuetz ex Gomont hiện

diện vào tất cả các lần thu mẫu ở hồ Trị An và gây nên hiện tượng

“nước nở hoa” trên diện rộng Trong chiSpirulina có loài S platensis

được cả thế giới chú ý về giá trị dinh dưỡng của nó, hiện đã được sản xuất làm thực phẩm chức năng có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe Giá trị dinh dưỡng của loàiS major ở hồ Trị An cần được nghiên cứu

thêm

ở các hồ trong khu vực (hồ Bà Hào, hồ Sen, một số hồ phòng cháy rừng ở khu vực Rang Rang, hồ Trị An), chi Cosmarium, Staurastrum khá ưu thế, trong đó có những loài và thứ được ghi nhận

là mới cho Việt Nam LoàiCoscinodiscus radiatus Ehr có nguồn gốc

ở biển cũng được phát hiện tại hồ Trị An

3.2 Đa dạng sinh học của hệ tảo và vi khuẩn lam vùng Mã Đà

Hệ tảo và Vi khuẩn lam vùng Mã Đà có cấu trúc khá tương

đồng với hệ tảo nước ngọt nội địa Việt Nam, Tảo lục là ngành ưu thế, sau đến Tảo silic, Vi khuẩn lam và Tảo mắt

Trang 10

3.2.1 Tính đa dạng về các bậc taxon

Sự đa dạng của các taxon bậc lớp, bộ, họ, chi và loài của các

ngành được thế hiện qua bảng 5

Bảng 5 Sự phân bố taxon bậc loài và dưới loài trong các ngành

tảo và vi khuẩn lam vùng Mã Đà

Ngành L ớp B ộ H ọ C hi L oà i

Ngành Tảo lục có 5 lớp, 7 bộ, 15 họ, 45 chi, 160 loài, 66 thứ,

5 dạng và 4 loài mới dừng ở xác định tên chi Ngành Tảo lục chiếm

67,72% tổng số loài và dưới loài của toàn khu vực Sau Tảo lục là

ngành Tảo silic có 2 lớp, 6 bộ, 8 họ, 18 chi, 42 loài, 10 thứ và 1 dạng,

chiếm 15,27% Các ngành tảo còn lại và ngành Vi khuẩn lam đều chỉ

có 1 lớp Ngành Tảo mắt tuy chỉ có 1 bộ, 1 họ, 5 chi nhưng có 22 loài

và 6 thứ chiếm 8,07% Ngành Vi khuẩn lam có số bộ, họ và chi nhiều

hơn ngành Tảo mắt nhưng chỉ có 20 loài và 2 dạng, chiếm 6,34%

Ngành Tảo hai rãnh có 1 bộ, 2 họ, 4 chi và có 4 loài, 2 thứ (chiếm

1,73%) Ngành Tảo đỏ và Tảo vàng ánh đều có 1 bộ, 1 họ, 1 chi Bậc loài ngành Tảo đỏ có 2 loài, chiếm 0,58% và ngành Tảo vàng ánh có

1 loài, chiếm 0,29% (bảng 5)

Ngành Tảo mắt là ngành có mức độ đa dạng loài trong họ (25 loài/họ) và trong chi (5,0 loài/chi) cao nhất, tiếp đến là ngành Tảo lục với 13,53 loài/họ và 4,51 loài/chi Ngành Tảo silic đứng thứ ba với 6,13 loài/họ và 2,72 loài/chi Sau nữa là ngành: Vi khuẩn lam (5,25 loài/họ và 2,63 loài/chi), Tảo hai rãnh (2,5 loài/họ và 1,25 loài/chi), Tảo đỏ (2 loài/họ, 2 loài/chi), Tảo vàng ánh chỉ có 1 loài

Áp dụng chỉ số đa dạng Shannon-Weiner (H’) để tính mức độ

đa dạng các loài tảo và vi khuẩn lam phù du tại một số điểm, ta có bảng 8:

Bảng 8 Độ đa dạng sinh học tại một số điểm thu mẫu

(ĐDSH: Đa dạng sinh học)

Địa điểm nghiên cứu Chỉ số H' Đánh giá

Suối Mã Đà 1 mùa khô 2,332 ĐDSH trung bình khá

Suối 1 phân trường Bà Hào 0,901 ĐDSH kém Suối 2 phân trường Bà Hào 0,001 ĐDSH rất kém

Suối phân trường Rang rang 1,516 ĐDSH trung bình kém

Ngày đăng: 03/04/2014, 16:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w