Nghiên cứu tác dụng của một số chất thứ cấp từ thực vật lên vi khuẩn gây sâu răng Streptococcus mutans
Trang 1DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN
1) Nguyễn Quang Huy, Phạm Thanh Nga, Phan Tuấn Nghĩa, 2005 Tìm hiểu
tác dụng chống sâu răng của dịch chiết vỏ cây Sao Đen (Hopea odorata
Roxb) Tạp chí Dược học 45 (350): 13-19
2) Nguyen Quang Huy, Pham Anh Thuy Duong, Phan Tuan Nghia, 2005
Inhibition of acid production by Streptococcus mutans of some medicinal
plant extracts Tạp chí Khoa học 21(2): 161-168
3) Nguyen Quang Huy, Pham Anh Thuy Duong, Phan Tuan Nghia, 2006,
Antibacterial activity of some medicinal plants against dental caries
pathogen Streptococcus mutans The first international conference on
science and technology for sustainable development of the greater Mekong
Sub-region, Khon Kaen, Thailand p 10
4) Nguyen Quang Huy, Phung Thi Thu Huong, Pham Anh Thuy Duong, Phan
Tuan Nghia, 2006 Inhibitory effects of Syzygium resinogsum Gagnep
extracts on caries-inducing properties of Streptococcus mutans Tạp chí
Khoa học 22 (4): 131-136
5) Nguyễn Quang Huy, Phan Tuấn Nghĩa, Nguyễn Văn Quang, Phan Văn
Kiệm, 2007 Các oligostilben từ vỏ cây sao đen Hopea odorata Roxb Tạp
chí Dược học 47 (372):37-39
6) Nguyễn Quang Huy, Phan Tuấn Nghĩa, Nguyễn Văn Quang, Phan Văn
Kiệm, 2007 Axít asiatic từ cây sắn thuyền Syzygium resinosum Gagnep và
tác dụng của nó lên vi khuẩn Streptococcus mutans Tạp chí Dược học 47
(375):19-22
7) Nguyễn Quang Huy, Phùng Thị Thu Hường, Phan Tuấn Nghĩa, 2007 Phân
lập và nhận dạng một số chủng vi khuẩn Streptococcus mutans từ người Việt
Nam Tạp chí Công nghệ Sinh học 5(3): 291-297
8) Đỗ Thị Huê, Bùi Thanh Duyên, Nguyễn Quang Huy, Phan Tuấn Nghĩa,
2008.Tác dụng của acid asiatic từ cây Sắn thuyền lên vi khuẩn Streptococcus
mutans H2 phân lập từ người Việt Nam Hội nghị toàn quốc Hóa sinh và
Sinh học phân tử phục vụ Nông, Sinh, Y học và Công nghệ thực phẩm
15-17/10-2008 trang 56-59
26
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
NGUYỄN QUANG HUY
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA MỘT SỐ CHẤT THỨ CẤP TỪ
THỰC VẬT LÊN VI KHUẨN GÂY SÂU RĂNG Streptococus mutans
Chuyên ngành: HOÁ SINH HỌC
Mã số: 62.42.30.15
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Hà Nội, 2009
Trang 2Công trình này được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học
1 PGS.TS Phan Tuấn Nghĩa
2 TS Dương Văn Hợp
Phản biện
1
2
3
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng cấp nhà nước chấm luận án tiến sĩ họp tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2009
Có thể tìm luận án tại
Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trung tâm thông tin- Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
Sâu răng là một trong số các bệnh răng miệng phổ biến nhất hiện nay và
đang có xu hướng tăng lên đặc biệt ở các nước đang phát triển Sự gia tăng của
căn bệnh này là do những thay đổi trong lối sống, thói quen sinh hoạt, chế độ ăn
uống hàng ngày và tuổi thọ trung bình Theo số liệu điều tra gần đây của Viện
Răng Hàm Mặt Trung ương, khoảng 90% dân số Việt Nam mắc các bệnh về
răng, miệng, trong đó phổ biến nhất là sâu răng và viêm quanh răng Bệnh sâu
răng không chỉ gây ảnh hưởng tới tình trạng sức khoẻ của người bệnh mà còn
gây ra nhiều chi phí tốn kém trong chữa trị.Tổ chức Sức khỏe thế giới (WHO) đã
xếp sâu răng là một trong số các căn bệnh nguy hiểm của loài người Nhiều
chương trình nghiên cứu cũng như khuyến cáo nhằm mục đích ngăn ngừa và
phòng chống bệnh này đã được WHO thực hiện trong những năm qua Mặc dù tỷ
lệ sâu răng trong cộng đồng dân cư đã giảm đi đáng kể nhưng vẫn còn duy trì ở
mức cao và đòi hỏi phải có những biện pháp dự phòng tốt hơn nữa để đạt mục
tiêu mà WHO đưa ra
Cách tốt nhất để hạn chế bệnh sâu răng là vệ sinh răng, miệng thường xuyên
và đúng cách cùng với việc hạn chế dùng các thức ăn, đồ uống có nhiều đường
Tuy vậy, phương pháp vệ sinh răng miệng, thói quen ăn uống không phải lúc nào
cũng thực hiện được, vì vậy việc sử dụng các chất có khả năng kháng khuẩn như
fluo, axit yếu, muối kim loại là một biện pháp để phòng chống sâu răng Trong
số các chất kháng khuẩn được sử dụng thì fluo là chất có hiệu quả hơn cả.Tuy
nhiên, việc sử dụng fluo lâu dài hay với nồng độ cao có thể dẫn đến chứng nhiễm
fluo (fluorosis) làm men răng ố vàng và trở nên sần sùi (Hamilton, 1990; Aeba,
2002) Chính vì những lý do đó mà xu hướng hiện nay là tìm kiếm các hợp chất
mới, có thể thay thế một phần fluo mà vẫn có hiệu quả chống sâu răng cao Hiện
nay, việc tìm kiếm các hợp chất thiên nhiên có tác dụng bảo vệ răng miệng đang
là xu hướng được quan tâm nghiên cứu và có nhiều ứng dụng trong thực tiễn
Việt Nam có hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng, trong đó rất nhiều
loài có chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học cao Từ ngàn xưa, cộng đồng các
dân tộc trên đất nước ta đã có truyền thống sử dụng cây cỏ để chữa bệnh, bảo vệ
sức khỏe chống lại bệnh tật trong đó có bệnh sâu răng (Đỗ Huy Bích và tập thể,
2
2004; Đỗ Tất Lợi, 2001; Lã Đình Mỡi và tập thể, 2001) Tuy nhiên, đến nay việc tìm kiếm các hợp chất mới chưa mang lại nhiều kết quả như mong muốn Hơn nữa, các nghiên cứu sâu về cơ chế tác dụng của các hợp chất thứ cấp từ thực vật lên vi khuẩn sâu răng hiện vẫn còn thiếu
Đề tài: “Nghiên cứu tác dụng của một số chất thứ cấp từ thực vật lên vi
khuẩn gây sâu răng Streptococcus mutans” của chúng tôi nằm trong xu thế
nghiên cứu chung của thế giới và Việt Nam.Việc tiến hành đề tài này là cần thiết
và có ý nghĩa thực tiễn, đáp ứng nhu cầu nâng cao hiệu quả phòng chống các bệnh về răng, miệng đặc biệt là bệnh sâu răng
Mục tiêu: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là điều tra tác dụng chống sâu răng
của dịch chiết một số loài thực vật ở Việt Nam thông qua việc nghiên cứu ảnh hưởng của chúng lên các quá trình sinh lý, hoá sinh, một số enzyme và hệ
enzyme có liên quan của vi khuẩn gây sâu răng Streptococcus mutans, từ đó
nghiên cứu cách tách chiết, tinh sạch một vài hợp chất thứ cấp từ thực vật và đi sâu tìm hiểu tác dụng chống sâu răng của chúng
Nội dung nghiên cứu
• Nghiên cứu điều tra ảnh hưởng một số dịch chiết thực vật lên quá trình
sinh axit gây sâu răng của Streptococcus mutans và tác dụng giết chết vi
khuẩn này của các dịch chiết
• Tách chiết, tinh sạch, xác định cấu trúc và nghiên cứu tác dụng của một số chất thứ cấp từ thực vật từ các loài được điều tra lên các quá trình sinh lý,
hoá sinh của vi khuẩn S mutans cũng như một số enzyme và phức hệ
enzyme đích, liên quan đến tính chất gây sâu răng của vi khuẩn này
• Phân lập một số chủng vi khuẩn Streptococcus mutans từ bệnh phẩm của
người Việt Nam bị sâu răng và bước đầu nghiên cứu tác dụng của một số chất thứ cấp từ thực vật thu được lên một số quá trình sinh lý, hoá sinh cũng như một số enzyme và phức hệ enzyme liên quan của chủng vi
khuẩn Streptococcus mutans phân lập được
Ứng dụng thực tiễn của đề tài
Các kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp các dẫn liệu về khả năng kháng khuẩn sâu răng của một số dịch chiết thực vật, hợp chất tinh sạch từ
lá Sắn thuyền và vỏ Sao đen có ở Việt Nam góp phần ứng dụng hiệu quả hơn
trong việc bảo vệ răng, miệng
Trang 4Đóng góp mới của đề tài
• Đây là công trình nghiên cứu sàng lọc một số thực vật có tác dụng chống
sâu răng ảnh hưởng đến quá trình sinh lý, phát triển của vi khuẩn gây sâu
răng Streptococcus mutans GS-5
• Đây là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về tác dụng của dịch chiết
vỏ cây Sao đen và lá cây Sắn thuyền lên vi khuẩn gây sâu răng S mutans
GS-5
• Đây là công trình đầu tiên công bố về việc tách chiết, tinh sạch, xác định
công thức hoá học và tác dụng chống sâu răng của hợp chất hopea phenol,
malibatol A từ vỏ Sao đen và axit asiatic từ lá Sắn thuyền thông qua việc
đánh giá tác dụng của chúng lên sự sinh axit, khả năng giết vi khuẩn và tác
dụng của chúng lên hoạt độ một số enzyme đích trong việc sinh và chịu
axit của vi khuẩn S mutans GS-5
• Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu phân lập và nhận dạng đến loài một
số chủng vi khuẩn S mutans từ người Việt Nam
Bố cục của luận án:
Luận án gồm 136 trang, 10 bảng số liệu, 47 hình, 209 tài liệu tham khảo
tiếng Việt và tiếng Anh Bố cục luận án gồm: mở đầu (3 trang), tổng quan tài
liệu (36 trang), nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu (14 trang), kết quả
nghiên cứu và bàn luận (59 trang), kết luận và kiến nghị (2 trang), tài liệu tham
khảo (21 trang) và phần phụ lục
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh sâu răng và các yếu tố liên quan
Sâu răng là bệnh gây ra bởi vi khuẩn trên mảng bám răng, điển hình là
Streptococcus mutans Những vi khuẩn này sử dụng các carbohydrate, chủ yếu là
đường glucose để lên men tạo ra axit lactic S mutans có thể tồn tại và sinh
trưởng trong môi trường pH thấp, có thể duy trì hoạt động trao đổi chất mạnh và
tạo ra axit Axit hình thành sẽ gây ra sự hòa tan các khoáng chất có trong men
răng vốn được cấu tạo bởi hydroxylapatide liên kết với ion canxi tích điện dương
và ion phosphate tích điện âm, dẫn đến làm mòn men răng, tạo thành các hố trên răng và gây ra sâu răng (Gibbons và Van, 1975; Nguyễn Dương Hồng, 1997) Mặt khác, trên răng các vi khuẩn trong khoang miệng và sản phẩm của chúng cùng với những mảnh vụn thức ăn tạo thành mảng bám răng Mảng bám răng không chỉ là nguyên nhân gây ra sâu răng mà còn là một yếu tố chủ yếu gây bệnh nha chu (Kolenbrander, 2000)
Bệnh sâu răng là một trong 3 bệnh được tổ chức Sức khỏe thế giới (WHO) khuyến cáo về mức độ nguy hiểm chỉ đứng sau bệnh tim mạch và ung thư Trong các thập niên trước, tỷ lệ người mắc bệnh sâu răng khá cao đặc biệt ở trẻ em Trung bình mỗi trẻ em dưới 12 tuổi có từ 8 đến 10 răng sâu hoặc răng đã bị mất
do sâu Tới năm 1997, số người mắc bệnh sâu răng ở lứa tuổi trung niên từ 35 đến 44 tuổi tại các nước công nghiệp phát triển vẫn còn ở mức rất cao, chỉ số DMFT (phản ánh số răng sâu, số răng mất hay trám răng do sâu) ở Canada, Nhật Bản, Úc và các nước Bắc Âu là 13,9, ở Mỹ là hơn 9 (Trịnh Đình Hải, 2004) Hiện nay số bệnh nhân mắc bệnh sâu răng còn cao là do mức sống ngày càng cải thiện, nhiều loại bánh kẹo và sản phẩm có đường được sử dụng
Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê của Nguyễn Dương Hồng năm 1977 ở
Hà Nội cho thấy có tới 77% trẻ em 6 tuổi có sâu răng, tỷ lệ này ở thanh niên là 48% Đến năm 1990 theo Võ Thế Quang và tập thể, tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi 12
là 57%, tỷ lệ viêm lợi và viêm quanh răng là 95% và ở lứa tuổi từ 35 đến 44 thì
tỷ lệ này cao tới 99,26% Theo kết quả điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc lần thứ 2 năm 2001 thì chỉ số DMFT (phản ánh số răng sâu, số răng mất hay trám răng do sâu) của nhóm tuổi 18-34 là 3,64 và chỉ số này tăng theo độ tuổi, cụ thể độ tuổi từ 34-44 và trên 45 tương ứng là 5,06 và 8,26 Đối với trẻ em tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 54,89% và người lớn tỷ lệ này là 75,2% Tỷ lệ người có răng khoẻ mạnh ở Việt Nam chỉ đạt mức dưới 10%
WHO đã đưa ra mục tiêu cho toàn cầu phấn đấu đến năm 2010 chỉ số DMFT dưới 1 Tại Việt Nam, mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 ở độ tuổi 5-6 có 50% trẻ
em không bị sâu răng, ở độ tuổi 18 có 85% người giữ được toàn bộ răng, ở tuổi
từ 35-44 tuổi giảm 50% số người không còn răng và trên 65 tuổi giảm 25% số người không còn răng
Trang 51.2 Vi khuẩn S mutans và khả năng gây sâu răng
Những vi khuẩn có khả năng lên men đường thành axit lactic tồn tại trong
khoang miệng được xem là nguyên nhân gây sâu răng Chúng chủ yếu thuộc 3
nhóm vi sinh vật: Streptococcus, Lactobacillus và Actinomyces Trong số những
vi khuẩn này, S mutans được coi là nguyên nhân chính gây bệnh sâu răng do vi
khuẩn này luôn được phát hiện trong nước bọt, mảng bám răng của người và có
số lượng rất cao ở những vùng răng bị sâu Đặc trưng gây sâu răng của S mutans
chính là khả năng sinh axit mạnh và chịu axit tốt của vi khuẩn này, cho nên trong
môi trường có đường, S mutans tạo ra axit làm tan men răng dẫn đến sâu răng
Khả năng thích nghi hay chịu axit của S mutans liên quan đến nhiều cơ chế
khác nhau, quan trọng nhất là hoạt động của các bơm proton, đặc biệt là
F-ATPase, nhằm bơm proton ra ngoài, duy trì pH nội sinh (pHi) luôn cao hơn so
với pH môi trường F-ATPase của S mutans được phát hiện là có sự thay đổi
trong cấu trúc để thích nghi hoạt động tốt ở pH thấp (Sturr và Marquis, 1992)
Ngoài ra, S mutans còn có một số cơ chế thích nghi axit khác như: tăng cường
tổng hợp các chaperonin hỗ trợ sự hình thành cấu trúc không gian đúng của các
protein (Jayaraman và tập thể, 1997), tăng cường sinh tổng hợp các enzyme sửa
chữa ADN bị tổn thương do axit (Haln và tập thể, 1999) haythay đổi thành phần
lipid của màng tế bào để làm giảm khả năng thấm proton (Quivey và tập thể,
2000) Nhờ vậy, S mutans vẫn có thể tồn tại và sinh axit khi pH môi trường
giảm xuống dưới 4
Hơn nữa S mutans cũng có các đặc điểm để chống chịu các stress về oxy
hóa, để tồn tại và phát triển Các vi khuẩn đường miệng sinh axit lactic thiếu các
cytochrome, các protein chứa nhân hem và enzyme catalase nhưng vẫn có thể
sinh trưởng trong môi trường có chứa các gốc oxy tự do vì chúng có hệ thống
các enzyme bảo vệ như NADH oxidase, Superoxide dismutase (Higuchi 1992,
1999)
Việc phân lập, phát hiện sự có mặt S mutans đóng vai trò quan trọng trong
việc chẩn đoán và điều trị bệnh sâu răng Nhiều kỹ thuật khác nhau đã được
nghiên cứu, áp dụng trong phân lập và nhận dạng các chủng S mutans ở người
Gần đây kỹ thuật đa hình độ dài các đoạn phân cắt giới hạn (RFLP) kết hợp kỹ
6
thuật PCR đã được áp dụng cho phép nhận dạng chính xác và nhanh chóng loài
S mutans (Sato và tập thể, 2003)
1.3 Các biện pháp chống sâu răng
Việc loại bỏ mảng bám răng bằng cơ học (như đánh răng) có tác dụng ngăn chặn sự hình thành mảng bám răng và là biện pháp phòng chống sâu răng đơn giản nhất Tuy vậy việc thay đổi thói quen ăn uống và duy trì vệ sinh răng miệng thường xuyên rất khó thực hiện Do vậy, hàng loạt các biện pháp khác nhau nhằm ngăn chặn sâu răng đã được nghiên cứu và ứng dụng Các biện pháp
này chủ yếu dựa trên việc làm giảm số lượng S mutans trên mảng bám răng, giảm khả năng sinh axit của S mutans, hạn chế việc hình thành mảng bám răng,
trám bít các hố rãnh Các biện pháp được sử dụng trong việc chống sâu răng gồm: sử dụng chất kháng khuẩn tổng hợp; sử dụng vaccine phòng chống sâu răng; sử dụng các hợp chất tự nhiên, các chất thay thế đường Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm, không có phương pháp nào là hoàn thiện và vì vậy cần
có sự kết hợp của các phương pháp
Trong số các phương pháp nêu trên thì việc sử dụng các hợp chất tự nhiên đang được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Nhiều loài thực vật và hợp chất tự nhiên có đặc điểm kháng khuẩn sâu răng đã và đang được phát hiện và nghiên cứu (Chen và tập thể 1989, Matsumoto và tập thể 1999, Xiao và tập thể 2007 )
1.4 Các chất thứ cấp từ thực vật
Các hợp chất thứ cấp từ thực vật là các sản phẩm của quá trình trao đổi chất được sinh ra bởi thực vật Chúng là các chất hoá học được tổng hợp và chuyển hoá từ các chất trao đổi bậc nhất như axit amin, protein, axit nucleic, carbohydrate, lipid hoặc từ các sản phẩm trung gian của quá trình đường phân, chu trình Kreb (Lã Đình Mỡi và tập thể, 2001)
Tuỳ thuộc vào cấu trúc hoá học và các thuộc tính lý học của chúng mà các chất thực vật thứ sinh được phân loại thành 3 nhóm chất chính là nhóm terpene, nhóm các hợp chất phenolic và nhóm alkaloid Tác dụng sinh học của các hợp chất thực vật thứ sinh rất đa dạng và phong phú Một số hợp chất thực vật thứ sinh được khai thác về tác dụng chống oxy hoá, tác dụng kháng khuẩn, chống
Trang 6viêm và thậm chí ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư, HIV (Park và tập
thể, 2006, Dai và tập thể, 1998) Chen và tập thể (1989) đã nghiên cứu tác dụng
của 79 dịch chiết thực vật lên vi khuẩn S mutans và phát hiện 3 loài M
australia, L octovalvis và T orientalis chứa các hợp chất có tính kháng S
mutans cao nhất Nhiều hợp chất nhóm flavonoid trong cây Erythirina variegata,
Ormosia monosperma được phát hiện có tác dụng giết nhiều loài vi khuẩn đường
miệng Song và tập thể (2007) phát hiện thấy dịch chiết của cây Polygonum
cuspidatum có chứa các hợp chất thuộc nhóm terpenoid, phenolic, glycoside
không những có khả năng ức chế sự phát triển S mutans mà còn ức chế sự hình
thành mảng bám răng Vasconcelos và tập thể (2006) phát hiện thấy các hợp chất
từ dịch chiết cây xoài và cây neem có tác dụng ức chế sự phát triển các loài
nhóm Streptococcus như S salivarius S mitis và S sanguis Gần đây ở Việt
Nam, Nguyễn Thị Mai Phương và tập thể (2005) đã phát hiện các chất
polyphenol trong vỏ cây măng cụt có tác dụng ức chế các enzyme của quá trình
đường phân của S mutans Nhìn chung, các nghiên cứu về hoạt tính kháng
khuẩn sâu răng của các hợp chất thực vật chưa đi sâu về cơ chế tác động của
chúng lên vi khuẩn gây sâu răng
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguyên liệu
Chủng vi khuẩn S mutans GS-5, S sanguis NCTC-10904, S gordonii
ATCC 10558, S rattus FA-1 là quà tặng của giáo sư Robert E Marquis, Đại học
Rochester, New York, Mỹ
Các mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân bị sâu răng người Việt Nam (để phân lập
vi khuẩn gây sâu răng S mutans) được lấy từ Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện
Bạch Mai, Hà Nội
Các mẫu thực vật Chàm tía (CTI), Hương nhu trắng (HNT), Kim ngân
(KNG), Quỷ trâm thảo (QCT), Sài đất (SDA) được thu thập từ Vườn Dược liệu
của Đại học Dược Hà Nội Mẫu lá Sắn thuyền (STA) được thu thập từ vườn
Thuốc Đông y ở Trung Văn, Từ Liêm, Hà Nội Mẫu vỏ Sao đen (SDE) được thu
thập từ tỉnh Đồng Nai Các mẫu thực vật được định tên bởi TS.Trần Đình Nghĩa, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Các hóa chất dùng cho nghiên cứu chủ yếu được mua từ hãng Sigma (Mỹ)
có độ tinh sạch dùng cho phân tích
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nuôi cấy và bảo quản tế bào vi khuẩn trên môi trường chứa tryptone 3%, cao nấm men 0,5% glucose 1% và môi trường chứa tryptic soy agar
2.2.2 Phân lập vi khuẩn gây sâu răng S mutans từ các bệnh nhân sâu răng người
Việt Nam trên môi trường Mitis salivarius kết hợp nuôi cấy ở pH axit
2.2.3 Nhận dạng vi khuẩn Streptococcus mutans phân lập từ mẫu bệnh nhân sâu
răng người Việt Nam bằng phân tích hình thái kết hợp các phương pháp PCR-RFLP
2.2.4 Nuôi cấy biofilm trên môi trường chứa tryptone, cao nấm men và sucrose 2.2.5 Xác định mức độ sinh axit của vi khuẩn bằng cách đo độ giảm pH môi trường trong điều kiện dư thừa glucose
2.2.6 Xác định độ gây chết vi khuẩn bởi các chất tác dụng thông qua việc đánh giá số đơn vị hình thành khuẩn lạc (CFU) của vi khuẩn còn lại (N) sau các khoảng thời gian khác nhau so với số CFU ban dầu (No) Khi đó giá trị D là khoảng thời gian để có giá trị Log N/No = -1 (tương ứng với mức 90% số vi khuẩn bị giết chết so với ban đầu)
2.2.7 Xác định khả năng chịu axit của các chủng vi khuẩn thông qua việc đếm
số CFU sau các khoảng thời gian khác nhau ở pH thấp
2.2.8 Xác định mức độ tiêu thụ oxy của tế bào trong điều kiện dư thừa glucose bằng điện cực oxy
2.2.9 Xác định hoạt độ một số enzyme chính liên quan đến đặc trưng sinh axit
và chịu axit thông qua sự chuyển hóa của các chất đặc hiệu
2.2.10 Xác định thành phần một số hợp chất tự nhiên có trong dịch chiết thực vật bằng các phản ứng đặc trưng
2.2.11 Xác định cấu trúc hoá học các hợp chất bằng phân tích phổ cộng hưởng
từ hạt nhân (NMR) với sự giúp đỡ của Viện hoá học các hợp chất thiên nhiên, Viện Khoa học Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Nghiên cứu sàng lọc một số thực vật có khả năng kháng khuẩn sâu răng
3.1.1 Khả năng ức chế của dịch chiết một số thực vật lên sự sinh axit của S
mutans
Trong nghiên cứu này chúng tôi đã sử dụng 7 loài thực vật là: Chàm tía
Strobilanthes cusia B (CTI), Hương nhu trắng Ocimum gratissimum L (HNT),
Kim ngân Lonicera japonica T (KNG), Quỷ trâm thảo Bidens pilosa L (QCT),
Sài đất Verbesina calendulaceae L (SDA), Sắn thuyền Syzygium resinosum G
(STA) và Sao đen Hopea odorata R (SDE) Cả 7 loài này đều là những cây
thuốc có khả năng chống viêm và được ứng dụng trong các bài thuốc dân gian để
chữa các bệnh có liên quan đến răng miệng (Đỗ Tất Lợi, 2001; Đỗ Huy Bích và
tập thể, 2001) Bộ phận được sử dụng để thu dịch chiết là lá, riêng với Sao đen
bộ phận sử dụng là vỏ
Cơ chế gây bệnh sâu răng của S mutans là do tác dụng làm mòn men răng
bởi axit được vi khuẩn sinh ra trong quá trình phân giải đường Do vậy, để xác
định tác dụng chống sâu răng của các dịch chiết thực vật, bước đầu chúng tôi tìm
hiểu ảnh hưởng của chúng tới quá trình sinh axit của S mutans Kết quả thu
được (bảng 3.2) cho thấy dịch chiết bằng H2O và ethanol của cả 7 loài thực vật
đều có tác dụng ức chế sinh axit của S mutans GS-5, thể hiện ở giá trị pH cuối
cùng cao hơn mẫu kiểm tra không có dịch chiết Dịch chiết bằng ethanol có tác
dụng ức chế mạnh hơn, chứng tỏ hoạt chất chính gây ức chế sự sinh axit của S
mutans hoà tan tốt hơn trong ethanol Đặc biệt, dịch chiết ethanol của Sao đen
(SDE) và Sắn thuyền (STH) thể hiện khả năng ức chế sự sinh axit tốt nhất
Huyền dịch tế bào S mutans sau khi loại bỏ các dịch chiết SDE và STH, vẫn còn
tác dụng ức chế sự sản xuất axit, chứng tỏ tác dụng ức chế là không thuận
nghịch Trong điều kiện trên mảng bám răng, các chất tác dụng thường xuyên bị
pha loãng bởi nước bọt, tác dụng ức chế không thuận nghịch sự sinh axit của S
mutans của dịch chiết Sao đen và Sắn thuyền có giá trị ứng dụng cao
Bảng 3.2 Tác dụng của một số dịch chiết thực vật lên sự sinh axit của S
mutans GS-5
Giá trị pH cuối cùng STT Loại dịch chiết
ở nồng độ 10% (w/v) Chiết bằng ethanol Chiết bằng nước
1 Mẫu đối chứng 4,01 ± 0,06 3,98 ± 0,04
10
3 Hương nhu trắng 4,92 ± 0,26 4,25 ± 0,08
5 Quỷ châm thảo 5,20 ± 0,07 4,36 ± 0,08
Các giá trị sau ± là giá trị SD với n =5
3.1.2 Khả năng diệt vi khuẩn S mutans GS-5 bởi các dịch chiết thực vật Kết quả thí nghiệm diệt khuẩn S mutans GS-5 ở pH 4 (hình 3.5) và pH 7
(hình 3.6) cho thấy ở nồng độ 10%, dịch chiết cả 7 loài thực vật trong nghiên
cứu đều có tác dụng diệt vi khuẩn S mutans GS-5 ở các mức khác nhau Trong
đó dịch chiết KNG, SDE và STH có tác dụng cao hơn so với các dịch chiết còn lại, và tác dụng này ở pH 4 cao hơn ở pH 7, thể hiện ở chỗ thời gian để 90% quần thể tế bào bị tiêu diệt bởi dịch chiết ứng với giá trị D từ 5 đến 7 phút trong
khi ở các mẫu dịch chiết khác giá trị D là trên 10 phút Khả năng diệt S mutans
GS-5 của các dịch chiết ở pH 4 cao hơn pH 7 là một điều khá thú vị vì đây là một tác dụng mong muốn của các hợp chất chống sâu răng, bởi pH thấp (dưới 4) mới có tác dụng bào mòn men răng dẫn đến sâu răng (Gibbons và Van, 1975)
-8 -6 -4 -2 0
Thời gian ( phút)
Hình 3.5 Khả năng diệt vi khuẩn S mutans GS-5 của các dịch chiết tại pH 4 Ký
hiệu (I) trong đồ thị chỉ giá trị SD với n = 3
Trang 8-2,5 -2 -1,5 -1 -0,5 0
Thêi gian (phót)
Hình 3.6 Khả năng diệt vi khuẩn S mutans GS-5 của các dịch chiết tại pH 7 Ký
hiệu (I) trong đồ thị chỉ giá trị SD với n = 3
3.1.3 Khả năng ức chế sự hình thành biofilm S mutans GS-5 của các dịch chiết
thực vật
Sự hình thành biofilm ở mẫu thí nghiệm kém hơn rõ rệt so với đối chứng Ở
mẫu đối chứng vi khuẩn S mutans mọc dày đặc tạo thành lớp màng bám trên
tấm kính, còn mẫu thí nghiệm vi khuẩn mọc thưa và ít hơn So sánh sinh khối tế
bào trên biofilm nhận thấy sinh khối biofilm của mẫu thí nghiệm tăng lên ít hơn
so với mẫu đối chứng (bảng 3.3) Đặc biệt với mẫu xử lý bằng dịch chiết Sao đen
hay Sắn thuyền, lượng sinh khối tế bào tăng lên tương ứng 12,1% và 20,5% của
mẫu đối chứng (tức là sự hình thành biofilm đã bị ức chế tương ứng 87,9% và
79,5%) Đây là phát hiện có ý nghĩa thực tiễn, do có nhiều chất có tính kháng
khuẩn ở dạng huyền dịch nhưng không có tác dụng với các tế bào ở dạng biofilm
vì bị hạn chế về khả năng khuyếch tán và rất khó kiểm soát khi sử dụng các chất
kháng khuẩn thông thường như hiện nay
Bảng 3.3 Tác dụng của dịch chiết thực vật lên sự hình thành biofilm ở S
mutans GS-5
chứng
CTI HNT KNG QCT SDA SDE STH
% sinh
khối tăng
100 65,8 78,9 54,1 60,8 48,2 12,1 20,5
% ức chế 0 34,2 21,1 45,9 39,2 51,8 87,9 79,5
3.1.4 Tác dụng của các dịch chiết thực vật phối hợp với fluo lên S mutans GS-5
Trong các chất kháng khuẩn bảo vệ răng miệng, fluo được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng do vừa có khả năng kháng khuẩn vừa có khả năng tái tạo làm bền men răng Florua natri (NaF) là thành phần chính được sử dụng trong thuốc đánh răng hay nước súc miệng Dựa trên các kết quả nghiên cứu trước đây của Phan và tập thể (2001) về tác dụng của fluo, chúng tôi đã lựa chọn
và sử dụng các dịch chiết với nồng độ 10% phối hợp với NaF ở nồng độ 0,25
mM (thấp hơn nhiều lần nồng độ fluo được sử dụng trong các sản phẩm bảo vệ răng miệng thông thường)
Kết quả trình bày ở bảng 3.4 cho thấy khi phối hợp các dịch chiết với NaF hiệu quả ức chế quá trình sinh axit của tế bào cao hơn khi sử dụng dịch chiết hay NaF ở dạng riêng lẻ thể hiện ở giá trị pH trong các mẫu kết hợp dịch chiết với NaF đều cao hơn mẫu chỉ chứa dịch chiết hay NaF Kết quả ở bảng 3.4 còn cho thấy tác dụng của dịch chiết khi kết hợp với NaF là tương tự như tác dụng khi phối hợp fluo indomethacin trong nghiên cứu của Belli và tập thể (1995) hay với một số axit yếu khác trong nghiên cứu của Phan và tập thể (2000)
3.1.5 Tác dụng của dịch chiết thực vật phối hợp với H2O2 lên sự sinh axit của S mutans GS-5
Kết quả trình bày ở bảng 3.4 cho thấy khi phối hợp dịch chiết với H2O2 (0,3
mM) tác dụng ức chế sự sinh axit của S mutans GS-5 cao hơn so với khi sử
dụng dịch chiết hay H2O2 ởdạng riêng lẻ Tác dụng này là tương tự như khi phối
hợp dịch chiết với NaF
Bảng 3.4 và 3.5 Tác dụng của dịch chiết thực vật phối hợp với NaF hay
H2O2 lên sự sinh axit của S mutans GS-5
Giá trị pH cuối cùng Giá trị pH cuối cùng Mẫu
nghiên cứu Không bổ
sung NaF
Bổ sung NaF 0,25mM
Không bổ sung H2O2
Bổ sung H2O2
0,3mM Nước 4,08 ± 0,21 4,21 ± 0,02 4,08 ± 0,09 4,45 ± 0,16 Ethanol 4,11 ± 0,08 4,23 ± 0,09 4,30 ± 0,16 4,48 ± 0,12 CTI 5,41 ± 0,06 6,27 ± 0,09 5,29 ± 0,12 5,64 ± 0,12
Trang 9HNT 5,28 ± 0,09 6,21 ± 0,08 5,32 ± 0,13 6,23 ± 0,17
KNG 5,05 ± 0,13 6,14 ± 0,10 5,45 ± 0,05 6,84 ± 0,14
QCT 5,15 ± 0,12 6,04 ± 0,15 5,15 ± 0,05 6,21 ± 0,13
SDA 5,10 ± 0,08 5,97 ± 0,21 5,45 ± 0,04 6,01 ± 0,21
SDE 6,78 ± 0,06 7,11 ± 0,09 6,82 ± 0,12 7,14 ± 0,12
STH 6,10 ± 0,08 6,97 ± 0,21 6,45 ± 0,04 6,90 ± 0,21
Các giá trị sau ± là giá trị SD với n =5
3.1.6 Tác dụng của dịch chiết Sao đen và Sắn thuyền lên một số vi khuẩn đường
miệng khác
Trên cở sở phát hiện thấy dịch chiết SDE và STH có khả năng ức chế mạnh
sự sinh axit của S mutans GS-5 cũng như có tác dụng giết chết vi khuẩn này một
cách rõ rệt, chúng tôi đã tìm hiểu khả năng giết một số loài vi khuẩn đường
miệng khác, bao gồm: S gordonii, S rattus và S sanguis của hai loại dịch chiết
này Kết quả thu được ở hình 3.11 cho thấy dịch chiết SDE và STH ở nồng độ
10% có khả năng diệt 90% quần thể S gordonii ATCC 10558 dưới 16 phút hay
quần thể vi khuẩn S sanguis NTCC 10904 và S rattus FA-1 trong 8 phút
-6
-5
-4
-3
-2
-1
0
thêi gian (phót)
-6 -5 -4 -3 -2 -1 0
0 15 30 45 60 thêi gian ( phót)
-6 -5 -4 -3 -2 -1 0
0 15 30 45 60 thêi gian ( phót)
Hình 3.11 Tác dụng diệt vi khuẩn của dịch chiết Sắn thuyền và Sao đen
với S gordonii ATCC-10558 (A), S sanguis NCTC-10904 (B), S rattus FA-1
(C) Đối chứng (), SDE (), STH (♦)
Ngoài ra, chúng tôi cũng còn phát hiện thấy dịch chiết SDE và STH có tác
dụng ức chế mạnh với sự tiêu thụ oxy của S mutans GS-5 (dẫn liệu không trình
bày ở đây)
14
Với các kết quả điều tra bước đầu về hoạt tính chống sâu răng của 7 loại dịch chiết thực vật, chúng tôi đã lựa chọn dịch chiết của Sao đen và Sắn thuyền cho các nghiên cứu tiếp theo
3.2 Tách, tinh sạch, nghiên cứu tính chất của một số chất thứ cấp có hoạt tính kháng khuẩn sâu răng từ cây Sao đen
3.2.2 Tách chiết tinh sạch một số chất thứ cấp từ vỏ cây Sao đen
Để tách, tinh sạch một chất thực vật thứ cấp từ vỏ Sao đen chúng tôi đã chiết các chất ra khỏi mẫu bằng cách ngâm mẫu trong ethanol (tỷ lệ 1 g mẫu: 10 ml ethanol) trong thời gian 5 ngày Dịch chiết sau đó được cô lại và được chiết tiếp bằng n-hexan, chloroform, ethyl acetate và n-butanol (với độ phân cực tăng dần) Chloroform thể hiện có hiệu suất chiết cao nhất Khi thử nghiệm ảnh hưởng của
các phân đoạn này lên khả năng sinh axit của S mutans GS-5, chúng tôi thấy
rằng phân đoạn chiết bằng chloroform cũng thể hiện khả năng ức chế sự sinh axit
của S mutans GS-5 tốt hơn các phân đoạn còn lại, chính vì vậy phân đoạn này
được lựa chọn cho các bước tinh sạch tiếp theo
Phân đoạn dịch chiết bằng chloroform của vỏ Sao đen được cho qua cột silicagel, rửa chiết bằng hệ dung môi methanol: nước với tỷ lệ methanol tăng dần, chúng tôi đã thu được 6 phân đoạn hợp chất khác nhau ký hiệu lần lượt là S1, S2, S3, S4, S5 và S6 Phân đoạn S6 được tiếp tục sắc ký qua cột sắc ký pha đảo RP-18, rửa chiết bằng hệ dung môi methanol: acetone: nước theo tỷ lệ 2:1:2
về thể tích Kết quả chúng tôi đã thu được 2 hợp chất ký hiệu là SDE1 và SDE2
H
O HO
H H HO OH
OH
O
HO
OH H
H
OH HO
H
1a 2a 3a 4a
5a 6a
7a 8a 9a 10a 11a 12a 13a 14a
1b 2b 3b 4b 5b 6b 7b 9b 10b
11b 12b 13b 14b
1b'
3b' 4b' 5b' 6b' 7b' 8b' 9b'10b'
11b' 12b' 13b' 14b'
1a' 2a' 3a' 4a'
5a' 6a' 7a' 8a' 9a' 10a' 11a' 12a' 13a' 14a'
H OH
O HO
HO
HO
HO
OH
1 2 4 6 7 8
10
11 12 13
1'
3' 5' 7' 8' 9' 10' 11' 13' 14'
Hình 3.13 Cấu trúc hoá học của SDE1 (trái) và SDE2 (phải)
Kết quả phân tích phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) cho thấy hợp chất SDE1 có cấu trúc đặc trưng phù hợp với cấu trúc của hợp chất hopea phenol với
Trang 10cụng thức phõn tử C56H42O12, đõy là một hợp chất đó được tỏch ra từ Hopea
paviflora (Tanaka và tập thể, 2000) Hợp chất SDE2 cũng cú dạng phổ NMR
tương ứng với phổ của hợp chất malibatol A với cụng thức phõn tử C28H20O7 đó
được biết đến từ loài Hopea malibato Hợp chất này cú tỏc dụng ức chế sự phỏt
triển của dũng tế bào ung thư CEM-SS (Dai và tập thể, 1998) Đõy là lần đầu
tiờn hai hợpchất hopea phenol và malibatol A từ vỏ Sao đen được tinh sạch, tỏch
chiết tại Việt Nam
3.2.3 Nghiờn cứu hoạt tớnh khỏng khuẩn sõu răng của hopea phenol và
malibatiol A từ vỏ Sao đen
3.2.3.1 Tỏc dụng của hopea phenol và malibatiol A lờn sự sinh axit của S
mutans GS-5
Khi bổ sung hopea phenol hoặc malibatiol A ở nồng độ 4 mM vào huyền
dịch S mutans GS-5 trong điều kiện dư thừa glucose thỡ pH cuối cựng mẫu
tương ứng là 4,9 và 5,21, trong khi mẫu kiểm tra cú pH là 4,1 (hỡnh 3.15) Kết
quả này chứng tỏ cả hai chất đều ức chế sự sinh axit của S mutans GS-5, tương
tự như của dịch chiết vỏ Sao đen ban đầu
3.5
4.5
5.5
6.5
7.5
Thời gian (phút)
3.2.3.2 Tỏc dụng diệt tế bào S mutans GS-5 của hopea phenol và malibatol A
Kết quả nghiờn cứu khả năng diệt vi khuẩn S mutans GS-5 của hai hợp
chất hopea phenol và malibatol A cho thấy tại giỏ trị pH 4 cả hai hợp chất này
đều cú khả năng diệt vi khuẩn S mutans GS-5 Với nồng độ 4 mM malibatol A
cú giỏ trị D là 16 phỳt; Hopea phenol với nồng độ 3 mM cú giỏ trị D là 45 phỳt
(hỡnh 3.16)
Hỡnh 3.15 Tỏc dụng của hopea phenol,
malibatol A lờn sự sinh axit của S mutans GS-5 Đối chứng (), Hopea phenol (), Malibatol A ().Ký hiệu (I) trong đồ thị chỉ giỏ trị SD với n = 3
-3 -2 -1 0
Thời gian (phút)
3.2.3.3.Tỏc dụng của hopea phenol và malibatol A lờn hoạt độ ATPase của S mutans GS-5
Hoạt độ ATPase của S mutans chủ yếu thuộc về F-ATPase Enzyme này
định vị trờn màng tế bào, cú vai trũ quan trọng trong quỏ trỡnh vận chuyển proton qua màng, quyết định khả năng chịu axit của vi khuẩn này Kết quả nghiờn cứu (hỡnh 3.17) cho thấy hopea phenol và malibatol A đều ức chế hoạt độ ATPase
của S mutans GS-5 Nồng độ hopea phenol và malibatol A gõy ra ức chế 50%
hoạt độ ATPase tương ứng là 1,3 mM và 0,75 mM, chứng tỏ cả hai đều là những chất ức chế mạnh của ATPase Tỏc dụng ức chế ATPase của hopea phenol và
malibatol A giải thớch được một phần tỏc dụng diệt vi khuẩn S mutans GS-5 tại
pH axit của dịch chiết Sao đen
0 20 40 60 80 100
nồng độ (mM)
3.2.3.4 Tỏc dụng của hopea phenol và malibatol A lờn hoạt độ enzyme phosphoryl hoỏ đường (PTS) của Streptococcus mutans GS-5
Hỡnh 3.16 Khả năng diệt S mutans GS-5 tại
pH 4 của Hopea phenol và Malibatol A
Đối chứng (), Hopea phenol 0,75 mM (), 3 mM () và Malibatol A 1 mM (), 4
mM () Ký hiệu (I) trong đồ thị chỉ giỏ trị
SD với n = 3
Hỡnh 3.17 Ảnh hưởng của hopea phenol
và malibatol A lờn hoạt độ ATPase của
S mutans Malibatol A (); Hopea phenol () Ký hiệu (I) trong đồ thị chỉ giỏ trị SD với n = 3