Tuy nhiên, vói khả năng còn nhiều hạn chế như vậy, các doanh nghiừp V N trước hết cần tìm hiểu những bài học thành công hàng đầu thế giới trong viừc thâm nhập thị trường quốc tế, cụ thể
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G
KHOA KINH TẾ V À KINH DOANH QUỐC TẾ
C H U Y Ê N N G À N H KINH TÊ Đ ố i NGOẠI
KMOẢ LUẬN T Ố T NGHIỆP
mỉ thù
NGHIÊN cứu CÁC HÌNH THỨC THÂM NHẬP THỊ TRƯỞNG QUỐC TÊ CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA (TNCS) VÀ BÀI HÓC KINH NGHIỆM CHO CẮC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện
IIẨLỊMH
ĨSQt
Nguyễn Bích Diệp Anh 15
42D-KTNT ThS Phạm Thị Hồng Yến
Hà Nội - Tháng 11/2007
Trang 31.3 Đặc trung của TNCs • li
2 Lý do các công ty thâm nhập thộ trường quốc tê 13
3 Các hình thức thâm nhập thộ trường của TNCs 15
3.1 Xuất khẩu (Exportìng) 16
3.1.1 Các hình thức xuất khẩu lo
3.1.3 ưu điềm và nhược điểm của phương thức xuất khẩu 18
3.2 Nhượng quyền thương hiệu (Franchising) 19
3.3 Sáp nhập và mua lại (M&A) 25
thống TNCs thê giới 29
5.1 Kinh nghiệm của Ân Đớ về việc thu hút các hoạt đớng có trình đớ công
nghệ cao của TNCs 29 5.2 Kinh nghiệm của Singapore trong việc hình thành và phát triển các tập
ỵđoàn kinh tế xuyên quốc gia 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG sử DỤNG CÁC HÌNH THỨC T H Â M NHẬP
THỊ T R Ư Ờ N G QUỐC TẾ CỦA TNCS 34
1 Thực trạng sử dụng các hình thức thâm nhập thộ trường quốc tế của TNCs.34
1.1 Xuôi khẩu 34
Trang 41.2.2 McDonald's- Bài học thành công vềFranchise 45
1.3.1 Tình hình M&A trong những năm gần đây 51
13.2 American Online sáp nhập với Time Warner- Một ví dụ M&A tiêu
2 Những tác động của các hoạt động thâm nhập thị trường quốc tế của
TNCs đối với nền kinh tế thế giới • 59
2.4 Phát triển nguồn nhăn lực 64
C H Ư Ơ N G 3: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM NHẰM N Â N G CAO sức
CẠNH TRANH V À KHỜ N Ă N G T H Â M NHẬP THỊ T R Ư Ờ N G QUỐC T Ế
1 Tinh hình hoạt động của TNCs tại VN 66
1.1 Tổng quan tình kinh hoạt động của TNCs tại VN 66
nhập thị trường quốc tế cho các doanh nghiệp VN 70
2.1 Đẩy mạnh quan hệ hợp tác với TNCs nước ngoài 70
2.2 Tiếp tục sử dụng phương thức xuất khẩu làm phương thức chiến lược
2.3 Nổ lực xây dựng, phát triển và bảo vệ thương hiệu đề kinh doanh
nhượng quyền thành công 74
2.4 Tích cực cổ phần hóa doanh nghiệp đề hội nhập dễ dàng với làn sóng
M&A thế giới 76 2.5 Chủ động tiến tới hình thành TNCs riêng mang quốc tịch Việt Nam 77
TÀI LIỆU THAM KHỜO 86
DANH MỤC C H Ữ VIẾT TẮT 89
DANH MỤC BỜNG BIỂU 90
Trang 5Nghiên cứu các hình thức thâm nhập thị trường quốc tế cùa TNCs
L Ờ I M Ở Đ Ầ U
*
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, một hiện tượng kinh tế nổi bật của thế giới là sự phát triển siêu tốc của các tập đoàn kinh tế lớn, hình thành nên những công ty xuyên quốc gia (TNCs) khổng lồ Những tên tuổi nổi tiếng như Ford, Toyota, Toshiba, Philips, Apple, IBM, Nokia, Unilever dường như đã trỏ nên rứt quen thuộc đối với tứt cả mọi người chứ không chỉ trong giới kinh doanh quốc tế Đó là những đại diện tiêu biểu cho những tập đoàn kinh tế hùng mạnh về tiềm lực tài chính và khoa học công nghệ, tiên phong trong lĩnh vực đầu tư, nghiên cứu chuyển giao công nghệ và phứt triển nguồn nhân lực Với 77.175 công ty mẹ và 773.019 công ty chi nhánh, các TNCs chiếm lĩnh 9 0 % FDI, 8 0 % công nghệ mới, và 6 4 % thương mại của toàn thế giới Trong nửa đầu những năm 1990, những công ty này đã nắm trong tay một khối lượng tài chính khổng lồ 6.680 tỷ USD, gứp gần 2 lần toàn bộ ngân sách hàng năm của 7 nước công nghiệp giàu nhứt thế giới Đến năm 2004, chỉ riêng 30 TNCs hàng đầu thế giới đã nắm giữ tổng tài sản là 3.052 tỷ USD [22,tr.270]
Ngày nay, TNCs hiện chính là thế lực chi phối tuyệt đại bộ phận nền kinh tế thế giới Thế lực đó không ngừng mở rộng, phát huy tác động dưới nhiều hình thức khác nhau và ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của con người cũng như của các tổ chức sản xuứt kinh doanh trên toàn thế giới Có được sức cạnh tranh và sự ảnh hưởng sâu rộng ứy chính là nhờ họ đã xây dựng được những chiến lược thâm nhập, chiếm lĩnh và khai thác thị trường nước ngoài hết sức khôn khéo, hiệu quả Đôi khi đó là cả một nghệ thuật của người lãnh đạo, của một tập thể trí tuệ Những hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài
Trang 6của TNCs thực sự là điều đáng nghiên cứu, học hỏi cho bất kỳ một tổ chức sản xuất kinh doanh nào muốn vươn tầm ra thế giới, hội nhập và phát triển
Tại V N với khoảng hơn 90.000 doanh nghiừp, trong đó đa số có quy
m ô vữa và nhỏ, có thể nói chưa có một doanh nghiừp nào đủ khả năng phát triển lên thành công ty xuyên quốc gia Tiềm lực tài chính, khoa học công nghừ cũng như trình độ của nguồn nhân lực đều còn hạn chế Trong khi đó, sức ép cạnh tranh và hội nhập kinh tế ngày càng tăng mạnh, khiến các doanh nghiừp phải không ngừng nỗ lực để tồn tại và phát triển Viừc thâm nhập và
mở rộng thị trường không chỉ trong nước mà còn vươn ra nước ngoài là điều cần thiết, mang ý nghĩa sống còn Tuy nhiên, vói khả năng còn nhiều hạn chế như vậy, các doanh nghiừp V N trước hết cần tìm hiểu những bài học thành công hàng đầu thế giới trong viừc thâm nhập thị trường quốc tế, cụ thể là của các công ty xuyên quốc gia, sau đó tự lựa chọn cho mình được một phương thức riêng phù hợp nhất, hiừu quả nhất Qua đó, doanh nghiừp có thể nâng cao được sức cạnh tranh của doanh nghiừp và cũng là nâng cao vị thế của VN- một quốc gia nhỏ bé đang trên đà hội nhập
Chính bởi sự cần thiết này, tác giả đã chọn đề tài: "Nghiên cứu các
hình thức thâm nhập thị trường quốc tê của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam" làm đề
tài cho khoa luận tốt nghiừp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của khoa luận là nhằm:
> Làm rõ được những vấn đề lý luận cơ bản về TNCs và các hình thức thâm nhập thị trường quốc tế tiêu biểu của TNCs
> Tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng các hoạt động thâm nhập thị trường quốc tế của TNCs
Trang 7> Đưa ra được một số bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh với TNCs và thâm nhập thị trường quốc tế cho các doanh nghiệp VN
3 Đ ố i tượng và phạm nghiên cứu
Đ ố i tượng nghiên cứu của khoa luận là các hình thức thâm nhập thị trường quốc tế của TNCs và khả năng thâm nhập thị trường quốc tế của các doanh nghiệp VN
Phạm vi nghiên cứu của khoa luận chỉ giói hạn ở ba hình thức thâm nhập thị trường quốc tế chù yếu của nsrcs, đó là: xuẫt khẩu, nhượng quyền thương hiệu và sáp nhập và mua lại; trong khoảng thòi gian từ 1995 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của khóa luận trước hết vẫn là sự kết hợp giữa phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết họp giữa lý luận và thực tiễn Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng một số phương pháp phân tích, xử
lý thông tin như: quy nạp, diễn dịch, phân tích và tổng hợp và phương pháp nghiên cứu tại bàn: thu thập các tài liệu, thông tin qua sách tham khảo, qua Internet, qua báo, tạp chí chuyên ngành
6 B ố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, khoa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vẫn đề lý luận về TNCs và các hình thức thâm nhập thị trường quốc tế của TNCs
Chương 2: Thực trạng các họat động thâm nhập thị trường quốc tế của INCs Chương 3: Những bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao sức cạnh tranh
và khả năng thâm nhập thị trường quốc tế cho các doanh nghiệp V N
Trang 8Mặc dù những nghiên cứu về TNCs là hết sức rộng lớn, đặc biệt là các hình thức thâm nhập thị trường quốc tế vô cùng đa dạng, phức tạp, khiến quá trình nghiên cứu gặp nhiều khó khăn, nhưng tác giả đã cố gắng để hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất trong phạm vi nghiền cứu và kiến thức của mình
Em xin gẫi lòi cảm ơn chân thành tới cô giáo- Thạc sỹ Phạm Thị
Hồng Yến- người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận
này Em cũng xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô giáo đã truyền đạt cho
em nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu, cũng như những người thân, bạn
bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp những nguồn thông tin hữu ích để em có thể hoàn thành tốt khóa luận này
Hà Nội, ngày 8 tháng 11 năm 2007
Sinh viên
Nguyễn Bích Diệp
Trang 9CHƯƠNG 1: NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ TNCS VÀ CÁC HÌNH THỨC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG QUỐC TÊ CỦA TNCS
1 Tổng quan về TNCs
1.1 Khái niệm
Sự phát triển mạnh mẽ, sức cạnh tranh và tầm ảnh hưởng không ngừng
lớn mạnh của TNCs đối vói nền kinh tế thế giới đã khiến cho TNCs trở thành
đề tài bàn thảo và nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế, chính trị, hoạch định
chính sách Có rất nhiều định nghĩa về TNCs, nhưng hiện nay vẫn chưa có
một định nghĩa nào đưọc hoàn toàn chấp nhận, bởi tính đa quốc gia- một đặc
trưng riêng của loại hình công ty này- lại không thống nhất đưọc khi xem xét
từ các góc độ khác nhau như: kinh tế, chính trị, pháp luật, quản lý Tuy
nhiên, sau đây xin giới thiệu hai quan niệm về tên gọi của TNCs và những
định nghĩa tiêu biểu
1.1.1 Thuật ngữ
Có rất nhiều thuật ngữ dùng để chỉ công ty xuyên quốc gia Trong đó,
tồn tại hai quan niệm chính
Thứ nhất, quan niệm về còng ty quốc tế (International Corporation)
bao hàm những thuật ngữ: công ty siêu quốc gia, công ty toàn cầu hay công ty
thế giới, công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia
Công ty siêu quốc gia (Super-National Corporation) là loại công ty
không có một quốc tịch nào cụ thể, nếu căn cứ vào những quy định của luật
pháp quốc tế về quốc tịch của một công ty Hoạt động của chúng không bị điều
chỉnh bởi luật pháp của bất kì quốc gia nào Thực tế, hoạt động của các công ty
này chịu sự điều phối của các công ước, điều ước quốc tế khai sinh ra chúng
Công ty toàn cầu (Global Corporation) là công ty có các chiến lưọc kinh
doanh và cũng như tư duy hành động của nó đều hướng ra toàn thế giới (world
Trang 10orientation) Đây là một xu thế và là mục tiêu của các công ty lớn hiện nay trong bối cảnh quốc tế hoa kinh tế diễn ra ngày càng sâu sắc, thế giói đang tiến tới hình thành "một thị trường toàn cầu" Đ ể tồn tại và trở thành người chiến thắng trong "thị trường" đó, các công ty tỉt yếu sẽ trở thành công ty toàn cầu
Như vậy quan điểm này không quan tâm đến nguồn gốc sở hữu, cũng như quốc tịch của công ty, không chú ý đến bản chỉt quan hệ sản xuỉt của quốc gia có công ty đó ha chinh nhánh của nó m à chỉ quan tâm đến các hoạt động sản xuỉt, kinh doanh, thương mại, đầu tư quốc tế của công ty Điều đó
có nghĩa là họ chỉ chú ý đến mặt quốc tế hóa hoạt động kinh doanh của các công ty này
Thứ hai, quan niệm về công ty xuyên quốc gia (Transnational
Corporations, gọi tắt là TNCs) là những công ty tư bản độc quyền, chủ sở hữu
tư bản là của một nước nhỉt định Theo quan niệm này, người ta chú ý đến tính chỉt sở hữu và quốc tịch của tư bản: vốn đầu tư- kinh doanh là của ai, ở đâu Hình thức điển hình của loại công ty này là chủ tư bản của một nước cụ thể nào đó có công ty mẹ đóng tại nước đó và thực hiện kinh doanh trong và ngoài nước, bằng cách lập các công ty con ở nước ngoài Ví dụ, công ty Toyota của Nhật Bản, trong quá trình sản xuỉt kinh doanh đã dần dần trở thành một trong những còng ty khổng lồ của thế giới, và hiện đang đứng đầu trong số các nhà sản xuỉt ô tô của thế giới, với 522 chi nhánh trên khắp toàn cầu và tổng tài sản khoảng 10,5 nghìn tỷ Yên (khoảng 883 tỷ USD)1
[37] Dựa trên tiêu thức sở hữu còn có khái niệm công ty đa quốc gia (Multinational Corporation-MNCs) MNCs cũng là tư bản độc quyền thực hiện thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài để tiến hành các hoạt động kinh doanh quốc tế, nhung khác TNCs ở chỗ tư bản sở hữu của công ty mẹ là hai hay nhiều
1 Tỷ giá Yín/USD= 120 (tháng 9/2007)
Trang 11nước Ví dụ như 2 công ty mẹ Royal Dutch/Shell Group và Unilerver đều có vốn sở hữu thuộc Anh và Hà Lan hoặc công ty Fortis thuộc sở hữu của Bỉ và
Hà Lan Vì sở hữu của công ty thuộc tư bản hai nước, nên người ta gọi chúng
là công ty đa quốc gia, hay còn gọi là công ty liên quốc gia
Như vậy, quan niệm này có sự phân đừnh rõ hai loại hình công ty hoạt động trên thế giới, đó là công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia Sự phân đừnh này chủ yếu căn cứ vào vốn của công ty thuộc chủ sở hữu của chủ tư bản một nước hay nhiều nước và từ đó liên quan đến tập đoàn lãnh đạo quản lý công ty Nếu là công ty xuyên quốc gia thì tập đoàn lãnh đạo, quản lý công ty thuộc về các nhà tư bản của một nước Còn nếu là công ty đa quốc gia thì hội đồng quản trừ gồm các nhà tư bản có cổ phần thuộc nhiều nước khác nhau Sự phân đừnh này chỉ căn cứ vào quốc từch của công ty mẹ chứ không căn cứ vào các chi nhánh ở nước ngoài
Và nếu xét theo góc độ như vậy, các công ty đa quốc gia chỉ chiếm một phần không đáng kể trong các công ty hoạt động xuyên quốc gia Trong số
500 công ty lớn nhất thế giới hiện nay chỉ có 3 MNCs (Royal Dutch/Shell, Unilerver, Fortis) thuộc sở hữu của hai nước, số còn lại chính là 497 TNCs (chiếm 99,4% tổng số công ty) thuộc sở hữu của một nước, không có công ty nào thuộc sở hữu từ ba nước trở lên Có thể thấy tính chất "đa quốc gia" của công ty mẹ là rất thấp, vì vậy mà ngày nay người ta thường dùng thuật ngữ
"công ty xuyên quốc gia" hơn [ll,tr.33]
1.1.2 Định nghĩa
N ă m 1976, OECD đã đừnh nghĩa trong cuốn "Đừnh hướng cho cấc công
ty đa quốc gia": "Một công ty đa quốc gia bao gồm nhiều công ty hay thực thể
kinh tế, Những thực thể này có thể thuộc quyền sở hữu cá nhân, thuộc quyền
sở hữu nhà nước hay sở hữu hỗn hợp, được thành lập ở nhiều nước khác nhau
và có mối liên kết chặt chẽ Chúng ảnh hưởng đến hoạt động của nhau và đặc
Trang 12quốc gia, mức độ tự chủ của các thực thể rất khác nhau, tùy thuộc vào bản chất mối liên kết và lĩnh vực hoạt động giữa chúng "
Nhóm các nhà nghiên cứu thuộc LHQ trong báo cáo 'Tác động của các
công ty đa quốc gia đến quá trình phát triển và quan hệ quốc tế" đã viết: "Công
ty đa quốc gia là những công ty nắm quyền sở hữu hay kiểm soát hoạt động sản xuất và hệ thống bán hàng tại nhiều nước khác ngoài nước của mình Đây không chi là công ty cổ phần, công ty tư nhân mà chúng có thể là những công ty dưới hình thức hẹp tác xã hay thực thể thuộc quyền sở hữu Nhà nước "
N ă m 1998, trong Báo cáo Đầu tư Thế giới của LHQ đã nêu định nghĩa
về công ty xuyên quốc gia cụ thể hơn như sau: "Các công ty xuyên quốc gia là
những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn bao gồm các công ty mẹ và các chi nhánh nước ngoài của chúng Các công ty mẹ là các công ty mà việc kiểm soát tài sản của các thực thề kinh tế khác ở nước ngoài thường đưẹc thực hiện thông qua việc góp vốn tư bản cổ phần của chúng Mức góp vốn 10% thường đưẹc xem như là ngưỡng đối với quyền kiểm soát tài sản của các công
ty khác Các chi nhánh nước ngoài (còn gọi là công ty con) là các công ty TNHH hoặc vô hạn trong đó chủ đầu tư là người sống ở nước ngoài, có mức góp vốn cho phép có đưẹc lẹi ích lâu dài trong việc quản lý công ty đố (mức góp vốn cổ phần 10% đối với công ty TNHH hoặc tương đương với công ty trách nhiệm vô hạn)"
Các chi nhánh nước ngoài (hay là công ty con) là các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn, trong đó chủ đầu tư là người sống ở nước khác,
của công ty đó
Cũng theo LHQ, công ty con (subsidiary enterprises), công ty liền kết (associate enterprises), công ty nhánh (branches) đều được gọi chung là cấc chi nhánh nước ngoài (íoreign affiliates) hay các chi nhánh (affiliates)
Trang 13Tóm lại, có nhiều đinh nghĩa về công ty xuyên quốc gia, nhưng có thể rút ra 3 điểm đặc trung nhất của một TNC như sau: Một là, được cấu thành từ hai bộ phận là Công ty mẹ và các chi nhánh; hai là, phải có mạng lưới các chi nhánh và các chi nhánh hoạt động ở nước ngoài; ba là, giữa công ty mẹ và các chi nhánh có mối quan hệ ràng buộc về kinh tế, tự chức, trong đó các chi nhánh chịu sự kiểm soát ở mức độ nhất định của công ty mẹ
Cuối cùng, có thể hiểu một cách đơn giản rằng, TNCs là những công ty quốc gia thực hiện việc sản xuất kinh doanh quốc tế thông qua việc thiết lập
các hệ thống chi nhánh ở nước ngoài dưới sự kiểm soát của công ty mẹ nhằm
phân chia thị trường thế giới và tìm kiếm lợi nhuận tối đa
1.2 Tiền đề cho sự ra đời của TNCs
Thứ như, tích tụ tư bản và tập trung sản xuất cao độ, dẫn đến độc
quyền của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chính là tiền đề lớn nhất cho sự ra đời của TNCs Với mục tiêu tối đa hoa giá trị thặng dư, các công ty đã không ngừng tích lũy tư bản để mở rộng sản xuất Vói lợi thế kinh tế theo quy mô, các công ty lớn ngày càng phất triển hơn, trở thành những công ty hùng mạnh hơn Bên cạnh đó, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa với cơ chế tự do cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận tối đa khiến cho các công ty nhỏ bị thủ tiêu dần dần, bị loại khỏi thị trường hoặc phải sáp nhập lại thành những còng ty lán hơn, do đó làm nảy sinh tập trung sản xuất và sự tập trung này ở một mức độ nhất định của sự phát triển sẽ dẫn đến độc quyền
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn của chủ nghĩa đế giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản Quy m ô sản xuất và thương mại phát triển không còn dừng lại trong phạm vi quốc gia mà được mở rộng trên phạm vi quốc tế, thúc đẩy sự liên minh giữa các công ty tư bản trong hoạt động sản xuất và phân phối hàng hoa trên thị trường thế giới Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, những tiến bộ to lớn của khoa học công nghệ đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho quá trình quốc tế hoa sản xuất, đẩy mạnh quá trình
Trang 14quốc-Nghiên cứu các hình thức thâm nhập thị trường quốc tế cùa TNCs
tích tụ và tập trung sản xuất trên quy m ô toàn cầu Cùng với quá trình đó, hoạt động xuất khẩu tư bản xuất hiện và tăng lên mạnh mẽ vào thập kỷ 80 Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp, chuyển giao công nghệ, cho vay vốn các công ty độc quyền quốc gia thực hiện chiến lược bành trướng quốc tế của mình Đó chính là cơ sữ hình thành nên TNCs
Thứ hai, cách mạng khoa học công nghệ có tác động rất lớn đến sự
phát triển của cơ sữ hạ tầng, đặc biệt trong lĩnh vục vận tải và thông tin liên lạc, làm giảm đáng kể chi phí kinh doanh của các công ty, từ đó tạo điều kiện cho các công ty vươn tới những thị trường xa hơn để tìm nguồn cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm Các hệ thống TNCs được điều hành và kiểm soát bữi một trung tâm chỉ có thể trữ thành hiện thực trên cơ sữ sự phát triển
cơ sữ hạ tầng về vận tải và truyền thông cũng như quá trình tự do hoa thương mại và thanh toán quốc tế
Thứ ba, tự do cạnh tranh đã khiến cho hao mòn vô hình của tư bản cố
định diễn ra nhanh chóng Đ ể chiếm vị trí thượng phong trong cuộc cạnh tranh gay gắt với các đối thủ, các tập đoàn kinh tế phải đi trước đón đầu trong việc nghiên cứu công nghệ và cho ra đòi những sản phẩm mới Khi vòng đời sản phẩm đến giai đoạn chín muồi, tính cạnh tranh giảm, tức tư bản cố đinh đã bị hao mòn vô hình thì cấc tập đoàn tư bản phải tìm cách chuyển dây chuyền công nghệ đã bị hao mòn vô hình sang các nước đang phát triển thông qua việc thiết lập chi nhánh tại các nước đó
Thứ tư, phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa sau thế
chiến thứ hai đã giúp cho nhiều nước thuộc địa giành được tự do và trữ thành các nền kinh tế độc lập với các nước đế quốc Điều đó làm cho các nước đế quốc không còn được tự do bóc lột tài nguyên, thao túng nền kinh tế của các nước thuộc địa Đ ể thâm nhập vào các nền kinh tế này nhằm thu lợi nhuận cao
từ những thị trường khát vốn và công nghệ nhưng dồi dào các nguồn nguyên liệu và nhân công, thì việc thiết lập mạng lưới chi nhánh xuyên quốc gia chính
là con đường tốt nhất
Trang 15Tóm lại, trong điều kiện quốc tế hóa sản xuất phát triển, sự ra đòi của
TNCs là một tất yếu khách quan và đó là sản phẩm của quá trình quốc tế hoa sản xuất Trong đó, tích tụ và tập trung sản xuất là điều kiện cơ bản để hình thành nên TNCs, vì chỉ có thông qua tích tụ và tập trung sản xuất mói tạo được tiền đề vật chất để các tập đoàn tư bản vươn ra khỏi biên giới quốc gia hoạt động trên phạm vi quốc tế, thực hiện cọm nhánh tại nhiều nước thông qua hoạt động đầu tư nhằm thu lợi nhuận cao
1.3 Đặc trung của TNCs
TNCs có quy mô sản xuất lớn
Tận dụng lợi thế của khoa học công nghệ phát triển, TNCs có khả năng kiểm soát và vận hành một cách rất hiệu quả mạng lưới khổng l ồ của mình Với khoa học quản lý tiên tiến và các tr thiết bị hiện đại, TNCs đã thiết lập được một cơ cấu tổ chức phù hợp, vừa đảm bảo quyền kiểm soát của công ty
mẹ đối với các chi nhánh, vừa đảm bảo tính độc lập, linh hoạt của các công ty con Thông qua đó, TNCs có thể kết hợp một cách tối ưu các yếu tố sản xuất trên quy m ô toàn cầu, tạo thành một hệ thống sản xuất có khả năng sản xuất một khối lượng sản phẩm khổng lồ Nhờ lợi ích kinh tế theo quy mô, TNCs càng tối đa hóa việc tiếp cận với cấc nguồn lực tại nhiều nước, với chi phí rất thấp và khả năng sinh lời cao, tích lũy giá trị thặng dư và ngày một phát triển vói sức sản xuất cực lớn Theo thống kê của UNCTAD, tổng giá trị gia tăng do một số TNCs tạo ra còn lớn hơn nhiều so với tổng giá trị của toàn bộ nền kinh
tế của một số nước Ví dụ, tổng giá trị gia tăng năm 2000 của công ty Exxon đạt 64 tỷ USD, công ty General Motor đạt 56 tỷ USD, Ford Motor đạt 44 tỷ USD trong khi con số đó của toàn bộ nền kinh tế V N là 31 tỷ USD, Cuba là
24 tỷ USD, Tuynisia là Ì tỷ USD [22]
Trang 16Nghiên cứu các hình thức thâm nhập thị trường quốc tế của TNCs
TNCs có năng lực nghiên cứu khoa học công nghệ và phát triển sản phẩm mạnh
Nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ công nghệ và phát triển sản phẩm là đòi hỏi mang tính khách quan của cuộc cạnh tranh khốc liệt trên quy
mô quốc tế, là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự tồn tại của công ty Chính vì vậy, TNCs luôn đề cao chiến lược đi đầu trong công nghệ và trên thực tế, chúng nỹm giữ trong tay phẩn lớn các sáng tạo công nghệ của thế giói 8 0 % bản quyền kỹ thuật công nghệ của thế giói là nằm trong tay TNCs Nhờ có tiềm lực tài chính lớn, TNCs có thể thu hút được số lượng lớn các nhà khoa học và xây dựng được cơ sỏ vật chất hiện đại phục vụ cho việc nghiên cứu và thử nghiệm sản phẩm mới Việc nghiên cứu thường được tiến hành tại các công ty mẹ Sau khi được tung ra thị trường và thu được lợi nhuận độc quyển cao tại nước chính quốc và bước vào giai đoạn chín muồi thì dây chuyên công nghệ lại được chuyển nhượng cho các chi nhành tại các nước đang phát triển Chính nhờ có mạng lưới chi nhánh tại nhiều khu vực có trình độ phát triển khác nhau ữên phạm vi toàn cầu mà TNCs có thể khai thác triệt để lợi nhuận
từ cấc dây chuyền công nghệ kể cả khi nó đã bị hao mòn vô hình, sau đó lại tiếp tục vào nghiên cứu công nghệ mói
TNCs có khả năng cạnh tranh cao
Với hệ thống chi nhánh tại nhiều thị trường, TNCs có thể tiếp cận vói mạng lưới marketing xuyên quốc gia, cho phép chúng nỹm bỹt nhanh nhạy và
có khả năng thích ứng lớn đối với những thay đổi trong nhu cầu đa dạng của các thị trường, từ đó thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng quốc tế Mặt khác, với quy m ô tổ chức lớn, TNCs có thể sản xuất được những sản phẩm tốt nhất vói chi phí thấp nhất, cùng với thương hiệu tốt, mạng lưới các nhà cung cấp và phân phối lớn đã giúp cho TNCs luôn chiếm ưu thế so với các công ty khác, đặc biệt là ở thị trường của các quốc gia đang phát triển, noi mà sức canh tranh của các doanh nghiệp trong nước còn bị hạn chế
Trang 17TNCs có khả năng điều phối vốn trên toàn thế giới
Nắm trong tay một khối lượng tài sản khổng lồ, TNCs là chủ thể của những luồng vốn đầu tư luân chuyển khắp thế giói Với việc kiểm soát mạng lưới chi nhánh rộng khắp thế giới, TNCs chủ động kiểm soát cả việc điều phối, luân chuyển vốn, từ nơi có tỷ suằt lợi nhuận thằp đến nơi có tỷ suằt lợi nhuận cao, từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn, từ nơi có thuế suằt cao đến nơi có thuế suằt thằp thông qua hoạt động đầu tư để thực hiện chiến lược bành trướng của mình Ngoài việc lưu chuyển nguồn vốn tự có trong nội bộ hệ thống, TNCs còn lập ra các công ty tài chính chuyên ngành và các công ty góp
cổ phần nhằm huy động vốn từ bên ngoài như thị trường tài chính tại chỗ hoặc thị trường tiền tệ quốc gia, từ đó đẩy nhanh hơn nữa luồng chu chuyển vốn để thu lợi nhuận cao
2 Lý do các công ty thâm nhập thị trường quốc tế
Hầu hết các công ty đều thích ở lại kinh doanh trong nội địa nếu thị trường đủ lớn Kinh doanh trong nước, họ sẽ không phải đối mặt với những khó khăn, thách thức do sự khác biệt về văn hóa, tập quán, chính tri, luật pháp, ngôn ngữ gây ra Công việc kinh doanh sẽ dễ dàng và an toàn hơn Vậy tại sao các công ty lại lựa chọn phát triển thị trường ra nước ngoài? Lý do đó là:
Thứ nhất, khi hoạt động trên phạm vi quốc tế, các công ty có thể thực
hiện được lợi thế về khả năng riêng biệt của mình ở những thị trường lớn hơn,
thu được doanh thu và lợi nhuận cao hơn Các khả năng riêng biệt là những điểm mạnh duy nhằt khiến các công ty khác biệt hóa sản phẩm, dịch vụ của mình so với những đối thủ cạnh tranh khác Đó có thể là về hiệu quả sản xuằt kinh doanh, chằt lượng sản phẩm, bí quyết công nghệ, khả năng đổi mói, hoặc
sự nhạy cảm cao với khách hàng Nhưng nói chung, tằt cả đều được thể hiện
ra trong sản phẩm hoặc dịch vụ mà công ty đưa ra với khách hàng, các công ty khác khó mà làm theo hoặc bắt chước Chính các điểm mạnh này đã tạo ra nền tảng cho lợi thế cạnh tranh của công ty Do đó, các công ty có thể đạt mức
Trang 18doanh số khổng lồ với các sản phẩm khác biệt trên những thị trường nước ngoài rộng lớn m à ở đó, các đối thủ bản địa thiếu các khả năng và sản phẩm tương tự
Thứ hai, nhờ các hoạt động quốc tế, công ty có thể thực hiện đưậc lợi
ra giá trị ở vị trí tối ưu đối với hoạt động đó, bất kể nơi nào trên thế giói (trong điều kiện các chi phí vận chuyển và các hàng rào thương mại cho phép) Một hoạt động tạo ra giá trị ở vị trí tối ưu có thể đem lại một trong hai ảnh hưởng:
hạ thấp chi phí của việc tạo ra giá trị, giúp công ty có đưậc lậi thế cạnh tranh nhờ chi phí thấp; hoặc giúp công ty khác biệt hóa sản phẩm của mình và đặt giá cao Chẳng hạn, với cấc hoạt động lắp ráp ô tô, hãng Ford không nhất thiết phải thuê nhân công tại Nhật hay Hoa Kỳ để sau đó bán sản phẩm trên thị trường Hoa Kỳ, vì chi phí nhân công ở 2 thị trường này rất đắt đỏ Họ đã thuê thực hiện hoạt động sản xuất buồng lái ở Châu Au, khung xe ở Bác Mỹ, và thuê nhân công lắp ráp ở một quốc gia đang phát triển: Brazil, rồi sau đó mới quay trở về nhập khẩu vào Hoa Kỳ để bán Với việc lựa chọn những vị trí tối
ưu để sản xuất ra sản phẩm, Ford đã hạ thấp đưậc chi phí mà vãn đảm bảo đưậc chất lưậng của sản phẩm [6,tr.462]
Thứ ba, công ty có thể thực hiện đưậc lợi thế quy mô và hiệu ứng
"đường cong kinh nghiệm" Lậi thế quy mò cho phép giảm chi phí của một
sản phẩm do chi phí cố định trên một đơn vị sản phẩm không tăng, hoặc tăng không nhiều khi tăng quy mô sản xuất Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế theo quy
mô có thể không có đưậc nếu một số yêu cầu khác nhau ở những thị trường khác nhau đòi hỏi phải có sự điều chỉnh sản phẩm, hoặc chi phí thâm nhập thị trường (xúc tiến, thiết lập mạng lưới phân phối, quảng cáo ) có thể vưật quá chi phí sản xuất tiết kiệm đưậc
Trang 19Tác động của đường cong kinh nghiệm sẽ Thời gian
làm giảm chi phí biến đổi trên một đơn vị sản
phẩm, do nâng cao kỹ năng, kỹ xảo của người lao
động Khi sản xuất càng nhiều sản phẩm, kỹ năng
của người lao động sẽ tăng lên, và do đó thời gian
lao động cần thiết sẽ giảm xuống
Hình 1: Đường cong kinh nghiệm (learning curve)
Kỹ năng
Ngoài những lý do trên, các công ty, đặc
biệt là các công ty đã hình thành nên mạng lưới xuyên quốc gia, còn thểc hiện
mở rộng thị trường quốc tế do muốn giảm bót sể phụ thuộc vào thị trường nội địa; do muốn khai thác tối đa nhu cầu thị trường rộng lớn bên ngoài; do sản phẩm ở thị trường nội địa đã vào giai đoạn bão hòa, phải đẩy sang các thị trường khác để tiếp tục kéo dài vòng đời sản phẩm; do sức ép cạnh tranh tại thị trường nội địa; hay do xu thế toàn cầu hóa buộc các công ty phải hội nhập và hợp tác trên phạm vi toàn cầu
3 Các hình thức thâm nhập thị trường của TNCs
Điều quan trọng nhất đối với một công ty kinh doanh trên thị trường quốc tế là phải lểa chọn được cách thức thâm nhập vào từng thị trường nước ngoài riêng biệt Chỉ khi lểa chọn được hình thức thâm nhập thì công ty mói
có thể thểc thi một loạt các chiến lược, kế hoạch có liên quan khác M ỗ i một phương thức có những ưu, nhược điểm khác nhau và đòi hỏi công ty phải cân nhắc, lểa chọn cho phù hợp với mục tiêu, khả năng và điều kiện của mình Những phương thức thâm nhập thị trường quốc tế vẫn thường được sử dụng bao gồm: xuất khẩu (Exporting), bán giấy phép (Licensing), nhượng quyền kinh doanh (Franchising), liên doanh (Joint Venture) và đầu tư trểc tiếp nước ngoài (FDI) (trong đó bao gồm: đầu tư mới (greeníield) và sáp nhập và mua lại (M&A)) [2,tr.90] Tuy nhiên, trong phạm vi của khóa luận, tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu ba loại hình chủ yếu, đặc trưng nhất đó là: xuất khẩu, nhượng quyền kinh doanh và sáp nhập và mua lại Đây là ba hình thức m à TNCs đã và
Trang 20đang sử dụng như một công cụ rất hiệu quả trong việc thâm nhập thị trường quốc tế, tạo nên những mạng lưới xuyên quốc gia phát triển vô cùng mạnh mẽ
3.1 Xuất khẩu (Exporting)
3.1.1 Các hình thức xuất khẩu
Xuất khẩu là việc bán các sản phẩm ra thị trường nước ngoài Đây là
hình thức đắu tiên và đơn giản nhất để một công ty thâm nhập thị trường quốc
tế thông qua nhưng hoạt động tiêu thụ hàng hóa được sản xuất ở trong nước ra thị trường nước ngoài Phắn lớn các công ty bắt đắu việc mở rộng ra thị trường thế giới với tư cách là những nhà xuất khẩu và sau đó mới chuyển từ phương thức này sang phương thức khác Công ty có thể tiến hành xuất khẩu một cách thụ động, tức là chỉ thỉnh thoảng xuất khẩu số sản phàm dư thừa của mình hoặc bán sản phẩm cho các khách hàng thường xuyên Trong trường hợp xuất khẩu chủ động thị công ty có kế hoạch xuất khẩu sản phẩm của mình sang một thị trường nhất định nào đó một cách lâu dài và có hệ thống Trong cả hai cách tiếp cận công ty đều sản xuất toàn bộ sản phẩm ở trong nước
Có hai hình thức xuất khẩu, đó là: xuất khẩu gián tiếp và xuất khẩu trực tiếp
chức độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu để xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài Các tổ chức xuất khẩu đó có thể là: hãng buôn xuất khẩu, công ty thương mại, công ty quản lý xuất khẩu, đại lý xuất khẩu, các khách hàng vãng lai và các tổ chức phối hợp Hình thức này đơn giản là hình thức xuất khẩu đơn giản, thường được áp dụng đối với các công ty mới tham gia vào thị trường quốc tế, chưa đủ điều kiện xuất khẩu trực tiếp: chưa quen biết thị trường, khách hành, chưa thông thạo cấc nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu
Ưu điểm: ít phải đắu tư, công ty không phải triển khai một lực lượng
bán hàng ở nước ngoài cũng như cấc hoạt động xúc tiến và khuyếch trương ở
Trang 21Nghiên cứu các hình thức thâm nhập thị trường quốc tế cùa TNCs
nước ngoài, đồng thời hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra ở thị trường nước ngoài vì trách nhiệm bán hàng thuộc về các tổ chức khác
Nhược điểm: giảm lợi nhuận của công ty do do phải chia sẻ với các tổ
chức tiêu thấ và do không có liên hệ trực tiếp với thị trường nước ngoài nên việc nắm bắt thông tin về thị trường nước ngoài bị hạn chế, không thích ứng nhanh được với các biến động của thị trường
với khách hàng nước ngoài để xuất khẩu sản phẩm Hình thức này thường được áp dấng một khi nhà sản xuất đã phát triển đủ mạnh đề tiến tới thành lập
tổ chức bán hàng riêng của mình và trực tiếp kiểm soát thị trường: có trình độ
và quy m ô sản xuất lớn, được phép xuất khẩu trực tiếp, có kinh nghiệm trên thương trường và nhãn hiệu hàng hóa truyền thống của công ty đã từng cổ mặt trên thị trường thế giói Các tổ chức bán hàng trực tiếp của nhà sản xuất bao gồm: cơ sở bán hàng trong nước, đại diện bấn hàng xuất khẩu, chi nhánh bán hàng tại nước ngoài, tổ chức trợ giúp ở nước ngoài và đại lý nhập khẩu
Ưu điểm: làm tăng lợi nhuận cho người sản xuất do giảm bớt được
khoản chi phí cho tổ chức trung gian, nhà sản xuất nắm bắt và thích ứng kịp thời được vói những sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng do trực tiếp liên
hệ đều đặn với khách hàng
Nhược điểm: rủi ro kinh doanh tăng lên do phải tự tiến hành các hoạt
động nghiên cứu, đầu tư và xúc tiến thương mại cần thiết
T H U VIÊN
TU ư a v o ĐA! B Ó C
N I S O A I T U 1101*6
L
Trang 22-Bảng 1: Ư u điểm và nhược điểm của các hình thức xuất khẩu
Xuất khẩu gián tiếp Xuất khẩu trực tiếp
Ư u
điểm
- Chi phí đầu tư thấp
- Hạn chế rủi ro
- Tính linh hoạt cao
- Lợi nhuận cao
- Mức độ kiểm soát hoạt động cao
- Nắm bắt và thích ứng nhanh nhạy với thị trường
Nhược
điểm
- Giảm lợi nhuận
- Khả năng nắm bắt thông tin bị
hạn chế, không thích ứng nhanh
được với các biến động của thị
trường
- Rủi ro kinh doanh tăng
- Chi phí đầu tư cao
- Bị ràng buộc vào thị trường nước ngoài
Nguồn: Giáo trình Marketing Quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân, 2002, tr 96 3.1.3 ưu điểm và nhược điểm của phương thức xuất khẩu
Ưu điểm: tránh được khoản chi phí lớn đầu tư cho các hoạt động sản
xuất ừ nước sừ tại, thực hiện lợi thế về quy m ô thông qua việc sản xuất tập
trung tại một địa điểm rồi xuất khẩu sang các thị trường khấc
Nhược điểm: sản phẩm được sản xuất từ cơ sừ của công ty ở chính quốc
có thể không phù hợp với nhu cầu, thị hiếu và điều kiện của thị trường địa phương; chi phí vận chuyển cao có thể làm cho việc xuất khẩu trừ nên không
kinh tế, đặc biệt là trong trường hợp sản phẩm có kích cỡ lớn, cồng kềnh; chi phí do các hàng rào thuế quan; rủi ro do công ty ít kinh nghiệm, ít am hiểu thị
trường Đ ể khắc phục những nhược điểm trên, công ty có thể chuyển giao các hoạt động tiếp cận thị trường ừ các nước mà họ kinh doanh cho các đại diện địa phương Tuy nhiên, các đại diện cũng có thể chào bán sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, nên sự trung thành bị chia sẻ, và không có gì đảm bảo họ
sẽ hoạt động theo cách tốt nhất vì lợi ích của công ty
Trang 233.2 Nhượng quyền thương hiệu (Franchising)
3.2.1 Định nghĩa
Theo Hội đồng Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (Federal Trade
Commission), Franchise được đinh nghĩa như sau: "Franchise là một hợp
đồng hay một thỏa thuận giữa ít nhất hai bên, trong đố: bên mua Franchise được cấp quyền bán hay phân phối sản phẩm, dịch vụ theo cùng một kế hoạch hay hệ thống tiếp thị của chủ thương hiệu Hoạt động kinh doanh của bên mua Franchise phải triệt để tuân theo kế hoạch hay hệ thống tiếp thị này, gặn liền với nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu, tiêu chí, quảng cáo và những biểu tượng thương mại khác của chủ thương hiệu Bên mua Franchise phải trả một khoản phí, trực tiếp hoặc gián tiếp, gọi là phí Franchise."
Theo Hiệp hội Nhượng quyền thương hiệu Quốc tế (The International
giao và bên nhận quyền, theo đó bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận quyền trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên; bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hoa, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên giao sở hữu hoặc
kiểm soát, và bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đẩu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình "
Theo Luật Thương mại VN 2005, Điều 284: "Nhượng quyến thương
mại (Franchise) là hoạt động thương mại, theo đó bển nhượng quyền cho phép
ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
1 Việc mua bán hàng hoa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gặn với nhãn hiệu hàng hoa, tên thượng mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
Trang 242 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận
Về bản chất, các định nghĩa trên đều chỉ ra đặc trưng cơ bản của Franchise là mối quan hệ giữa các bên đối tác nhượng quyền và nhận quyền, trong đó bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sử dụng các quyền thương mại liên quan tói thương mại của mình với một phương thởc, thời gian
và phí nhất định Đặc trưng của hình thởc này là được xây dựng trên cơ sở thương hiệu mạnh, có tính đồng bộ cao và mối quan hệ hợp tác giữa bên bán
và bên mua rất chặt chẽ
Có 2 loại Franchise điển hình: nhượng quyền phân phối sản phẩm (Product Distribution Franchise) và nhượng quyền sử dụng công thức kinh
doanh (Business Format Franchise)
Đối với hình thởc nhượng quyền phân phối sản phẩm, bên mua Franchise thường không nhận được sự hỗ trợ đáng kể nào từ phía chủ thương hiệu ngoài việc được phép sử dụng tên nhãn hiệu (trade mark), thương hiệu (trade name), biểu tượng (logo), khẩu hiệu (slogan) và phân phối sản phẩm hay dịch vụ của bên chủ thương hiệu trong một phạm vi khu vực và trong một thời gian nhất định Điều này có nghĩa là bên mua Franchise sẽ quản lý điều hành cửa hàng nhượng quyền của mình khá độc lập, ít bị ràng buộc nhiều bởi các quy định từ phía chủ thương hiệu và có thể đưa ra cung cách phục vụ và kinh doanh theo ý mình
Đối với hình thởc nhượng quyền sử dụng công thởc kinh doanh thì hợp đồng nhượng quyền bao gồm thêm việc chuyển giao kỹ thuật kinh doanh và công thởc điều hành quản lý Các chuẩn mực của mồ hình kinh doanh phải tuyệt đối giữ đúng M ố i liên hệ và hợp tác giữa bên bán và bên mua Franchise phải rất chặt chẽ và liên tục Bên mua Franchise thường phải trả một khoản phí cho bên bán Franchise, có thể là một khoản phí trọn gói một lần, hoặc phí hàng tháng dựa trên doanh số hoặc cả hai khoản phí trên Số phí này tùy thuộc
Trang 25vào uy tín, thương hiệu, sự thương lượng và chủ trương mở rộng của chủ thương hiệu
3.2.2 Những lợi thếkhi sử dụng phương thức Franchising
- Franshise giúp nhăn rộng mô hình kinh doanh và tăng gùi trị tài sản thương hiệu: Các doanh nghiệp luôn muốn nhân rộng m ô hình kinh
doanh của mình một khi đã được chứng minh là thành công Thông qua việc bán quyền kinh doanh, m ô hình kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được nhân ra trên phạm vi rộng lớn Franchise cũng giúp giảm đi được những khó khăn, trở ngại do sự khác biệt về địa lý, văn hóa, con người qua đó, giúp việc thâm nhập thị trường dễ dàng hơn Khi mô hình kinh doanh được nhân rộng, danh tiếng và uy tín của bên nhượng quyền cũng tăng theo Do đó, giá trị thương hiệu tăng lên một cách bền vững Điều này là rầt quan trọng trong một môi trường kinh doanh mà thương hiệu được coi như tài sản quý giá nhầt của doanh nghiệp
- Franchise giúp tăng doanh thu cho chủ thương hiệu: Ngoài khoản
doanh thu từ hoạt động kinh doanh thông thường, chủ thương hiệu còn thu được doanh thu từ các khoản tiền sau:
+ Phí nhượng quyền ban đầu (upíront fee): Đây là khoản phí hành chính, đào tạo, chuyển giao công thức kinh doanh cho bên mua Franchise Phí này thường được tính một lần như đối với trường hợp của Me Donald's là 45.000 USD khi được nhượng quyền kinh doanh tại Mỹ [14]
+ Phí hàng tháng (monthly fee): Phí này là phí mà bên mua Pranchise phải trả cho việc duy trì sử dụng thương hiệu của bén bán Franchise và những dịch vụ hỗ trợ mang tính chầt tiếp diễn liên tục như đào tạo nhân viên, tiếp thị, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới Phí này có thể là một khoản phí cố định theo thỏa thuận của hai bên hoặc theo phần trăm trên doanh số của bên mua Franchise và thường dao động từ 2-6% tùy vào loại sản phẩm, lĩnh vực và m ô
Trang 26Nghiên cứu các hình thức thâm nhập thị ưường quốc tế cùa TNCs
hình kinh doanh Trong lĩnh vực nhà hàng, mức phí này thường từ 2-3% Chẳng hạn, bên mua Franchise thương hiệu phở 24 phải trả một khoản phí ban đầu là 7.000 USD tại V N và 12.000 USD tại nước ngoài và phí hàng tháng là
3 % doanh thu Trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn, khu nghỉ dưỡng lớn tại
Mỹ, mức phí này có thể lên tới 10-14% [14]
+ Doanh thu từ việc bán các nguyên liệu đấc thù: Nhiều chủ thương hiệu yêu cầu các đối tác mua Franchise của mình phải mua một số nguyên liệu đấc thù do mình cung cấp, vừa để đảm bảo tính đồng bộ của sản phẩm hay m ô hình kinh doanh, vừa mang lại một nguồn lợi nhuận phát triển song song với tình hình kinh doanh của bên mua Franchise Ví dụ, McDonald's cung cấp và bán cho các cửa hàng nhượng quyền của mình một số nguyên liệu quan trọng như khoai tây chiên, pho mát, bánh táo Hay như Phở 24, sau khi nhận được khoản đầu tư 3 triệu USD của Vina Capital đã chuẩn bị tiến hành xây dựng nhà máy sản xuất bánh phở và các nguyên phụ liệu đấc trưng khác Phở 24 dự định sẽ cung cấp cho cấc cửa hàng nhượng quyền các nguyên liệu này [14] Đây là một nguồn thu rất đáng kể của chủ thương hiệu Khi sử dụng Franchise, mạng lưới kinh doanh càng mở rộng, thì nguồn thu nhập này ngày càng tăng
+ Ngoài ra còn phải kể đến một khoản doanh thu cũng như lợi nhuận tăng thêm từ việc đất giá cao hơn khi kinh doanh theo m ô hình Franchise Khách hàng thường có khuynh hướng chấp nhận mua hàng giá cao hơn đối với một thương hiệu đã có tiếng Những doanh nghiệp kinh doanh theo m ô hình Franchise hầu hết đều là những doanh nghiệp khẳng định được thương hiệu của mình, do đó có thể đất giá cao hơn và thu được nhiều lợi nhuận hơn
- Franchỉse giúp giảm chi phí tiếp thị sản phẩm và dịch vụ, chi phí mua hàng và chi phí đăng ký bảo hộ thương hiệu: Tài chính luôn là vấn đề mà các
doanh nghiệp phải đối mất, đấc biệt là khi muốn đưa thương hiệu của mình vượt
ra khỏi biền giới quốc gia Thông qua Franchise, các chi phí về nghiên cứu và
Trang 27phát triển sản phẩm, tiếp thị và quảng bá sản phẩm đều được giảm bớt nhờ chia
sẻ được cho các đơn vị cùng mang một thương hiệu Trong một số trường hợp, doanh nghiệp nhượng quyền còn có ưu thế mua hàng rẻ hơn do mua với số lượng lớn để phân phối cho các cửa hàng nhượng quyền của mình Ngoài ra, đa số các thương hiệu khi bán Franchise đã được đãng ký bảo hộ tại nhiều nước, nên nguôi mưa Franchise không phải tốn chi phí này và khi có ai đó vi phạm bản quyền thì
sẽ được chủ thương hiệu hỗ trợ trong việc khiếu kiện
- Kinh doanh theo mô hình Franchise có độ rủi ro thấp: Xác suất
thành công của doanh nghiệp mua Franchise thường cao hơn so với các doanh nghiệp mới bởt đầu thử nghiệm mô hình kinh doanh lần đầu và thương hiệu thì chưa ai biết đến Do thương hiệu có sức ảnh hưởng rất lớn đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng, thậm chí còn hơn cả chất lượng thực sự của sản phẩm, nên khi doanh nghiệp bởt đầu kinh doanh bằng một thương hiệu đã có sẵn, thì sẽ có ngay một lượng khách hàng nhất định, và chiếm được sự tin tưởng của khách hàng đó Đ ố i với ngành kinh doanh khách sạn, mua Franchise còn có một lợi thế đặc biệt là được gia nhập mạng lưới đặt phòng tại bất cứ một khách sạn nào có cùng thương hiệu trong một hệ thống Franchise, giúp tâng công suất sử dụng phòng Sự khác biệt trung bình giữa một khách sạn độc lập và một khách sạn mua Franchise là 20%, có nghĩa là một khách sạn đang kinh doanh độc lập với công suất sử dụng phòng là 5 0 % thì khi mua Franchise, tỷ lệ này sẽ là 7 0 % [14]
Franchise luôn nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ từ phía chủ thương hiệu trước và sau khi cửa hàng nhượng quyền khai trương Thời gian trước khai trương, đối tác mua Franchise thường được hỗ trợ về đào tạo, thiết kế, chọn vị trí cửa hàng, nguồn hàng, tiếp thị, quảng cáo Doanh nghiệp mua Franchise cũng được chủ thương hiệu giúp đỡ trong việc vay tiền ngân hàng Các chủ thương hiệu thường chủ động đàm phán, thuyết phục ngân hàng ủng hộ các đối tác
Trang 28mua Franchise tiềm năng của mình Do những thương hiệu bán Franchise hầu hết đều đã được khẳng định và xác suất thành công cao hơn nên các ngân hàng dễ tin tưởng và cho các doanh nghiệp mua Franchise vay tiền hơn Sau khai trương, bên mua Franchise vẫn tiếp tục được hỗ trợ nhiều mặt về tiếp thị, quảng cáo và tái đào tạo
Tuy nhiên, m ô hình kinh doanh Franchise vẫn mang lại mểt số bất lợi cho cả bên nhượng quyền và nhận quyển, đó là:
- BỊ ảnh hưởng từ những doanh nghiệp khác trong cùng hệ thống:
Do đặc trưng của m ô hình Franchise này là các doanh nghiệp trong cùng mểt
hệ thống hoạt đểng kinh doanh theo cùng mểt phương thức, mểt chuẩn mực, nên nếu như có doanh nghiệp nào đó làm những việc trái với chuẩn mực của
hệ thống, sẽ ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu, qua đó ảnh hưởng đến uy túi kinh doanh của những doanh nghiệp khác trong cùng mểt hệ thống, dù có thể
họ không cùng mểt thị trường
- Nảy sinh tranh chấp trong quá trình hợp tác kinh doanh: Franchise
là mô hình dễ nảy sinh tranh chấp nhất, đặc biệt là các tranh chấp về doanh thu Bên nhượng quyền khó kiểm soát được các khoản doanh thu cụ thể của bên nhận quyền để tính % phí thu hàng tháng khi mà quyền quản lý kinh doanh hoàn toàn thuểc về bên nhận quyển
- Mất tính độc lập: Hệ thống nhượng quyền kinh doanh được xây dựng
trong mểt khuôn mẫu, chuẩn mực nhất định mà người chủ thương hiệu sẽ đưa
ra rất nhiều quy tắc buểc bên mua Franchise phải tuân thủ Người chủ cửa hàng Franchise phải bỏ ra 100% vốn đầu tư nhưng không hoàn toàn được tự
do quyết định thay đổi tất cả những gì nằm trong cửa hàng của mình Ví dụ như te trí nểi thất, đổng phục nhân viên, giờ họat đểng phải đồng bể với cấc cửa hàng khác trong cùng mểt hệ thống Franchise Do vậy, tính đểc lập cá nhân của những doanh nghiệp Franchise sẽ giảm đi và có thể làm giảm tính linh hoạt trong hoạt đểng kinh doanh ở những thị trường khác biệt
Trang 293.3 Sáp nhập và mua lại (M&A)
3.3.1 Định nghĩa
Toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã và đang tạo ra sức ép cạnh tranh ngày một lớn hơn giữa các công ty hàng đầu thế giới, diễn ra dưới nhiều hình thức, ở mọi noi và trên mọi lĩnh vực Đặc biệt, dưới tác động của sự phát triển khoa học công nghệ như vũ bão, sức ép cạnh tranh càng đòi hỏi các công ty phải tìm kiếm những phương thức kinh doanh không chồ làm giảm chi phí, rủi
ro, mà còn phải huy động được tối đa các nguồn lực về vốn, công nghệ, cũng như con người để tạo nên sức mạnh vượt qua đối thủ trong cuộc chiến khốc liệt này Từ đó, đã hình thành nên một xu hướng trong TNCs, đó là xu hướng hợp nhất Hợp nhất là sự kết hợp giữa hai hay nhiều công ty thành một hệ thống, thông qua sáp nhập (merger) hoặc mua lại (acquisition)
Sáp nhập là sự kết hợp giữa hai hay nhiều công ty và tạo thành một
pháp nhân mới, mạnh hơn, ít bị rủi ro hơn vì sẽ làm tăng quy m ô vốn, thúc đẩy cải tiến công nghệ và tăng quy m ô hoạt động Có hai loại sáp nhập là:
- Sáp nhập bình đẳng: Sau khi sáp nhập, cả hai công ty tham gia sáp
nhập đều tồn tại như nhau Ví dụ, trường hợp của British Petroleum Co PLC của Anh sáp nhập vói công ty Amoco Corp của Mỹ tạo thành công ty BP-Amoco năm 1998; hay trường hợp công ty Daimler-Benz Á G của Đức và còng
ty Chrysler Corp của Anh sáp nhập với nhau năm 1998 thành công ty
Daimler-ơưysler
- Sáp nhập bất bình đẳng: Sau khi sáp nhập, một công ty bị xoa sổ, chồ
có một trong hai công ty còn tồn tại và trở thành một công ty hoàn toàn mới, chịu trách nhiệm đối với toàn bộ số vốn cũng như số nợ của công ty kia Ví
dụ, trường hợp của công ty Japan Tobacco Inc của Nhật và công ty RJ Reynolds International của Hà Lan năm 1999 và công ty Wal Mart Store của Anh với công ty ASDA Group PLC của Anh năm 1999 [7]
Trang 30Mua lại là hoạt động trong đó quyền sở hữu và kiểm soát tài sản và
hoạt động của công ty bị mua bị chuyển sang công ty đi mua và công ty bị mua trở thành chi nhánh của công ty đi mua, và do đó không tạo thành một
pháp nhân mói Có 3 mức độ mua lại: một là, mua lại ở mức thiểu số (từ l o
đến 4 9 % tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết); hai là, mua lại ở mức đa số (từ 50 đến 9 9 % số cổ phiếu có quyền biểu quyết); ba là: mua lại toàn bộ (mua lại 100% số cổ phiếu có quyền biểu quyết) Trong trường hợp nhà đầu tư chỉ mua dưỷi 1 0 % tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết thì không được coi là mua lại mà chỉ là hình thức đầu tư gián tiếp [7]
3.3.2 Những giá trị gia tăng do M&A mang lại
Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giỷi, nhiều lần các công ty
đã phải liên doanh, hợp nhất vỷi nhau để tăng sức cạnh tranh của mình Lần đầu tiên là vào cuối thế kỷ 19, các xí nghiệp đã hợp nhất vói nhau để tạo thành các công ty độc quyền Các đợt sáp nhập tiếp theo diễn ra vào những năm
1920 và 1960, hình thành nên những công ty khổng lồ, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, như Daimler-Benz AG, PepsiCo, Nokia Đến cuối những năm
1980, M & A đã trở thành một xu hưỷng phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giói, đặc biệt là trong giai đoạn từ 1995 đến nay Nguyên nhân khiến các công ty
ưa chuộng sử dụng M & A như một còng cụ đắc lực nhằm thâm nhập thị trường quốc tế, đó là bởi sự cộng hưởng lợi ích mà công ty có được sau khi tiến hành M&A, thể hiện trong ba khía cạnh, đó là:
Thứ nhất, M&A giúp giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Có rất nhiều động cơ trong mỗi một cuộc mua bán, sáp nhập
Tuy nhiên, lý do đầu tiên vẫn là vì sau khi tiến hành M&A, các công ty có thể hoạt động có hiệu quả hơn hai hay nhiều công ty độc lập Trưỷc hết, M & A giúp giảm chi phí, thông qua: (1) tiết kiệm được những chi phí về phát hành chứng khoán (một tập đoàn lỷn có uy tín phát hành một lượng lỷn chứng khoán sẽ có chi phí thấp hơn một công ty nhỏ hơn phát hành); (2) giảm chi phí
Trang 31sản xuất do đạt được lợi ích kinh tế theo quy mô, do chia sẻ các chi phí R&D, hay do các công ty cùng chia sẻ các nguồn lực chung như trụ sở chính, ban quản lý điều hành, hệ thống mạng lưới máy tính; (3) loại bỏ các hoạt động kém hiệu quả, cơ cấu và phân bố lại các nguồn lực, như cắt giảm bớt các chi nhánh, các bộ phận chồng chéo hay các vỹ trí công việc không cần thiết Bên cạnh đó, các công ty có thể chuyển giao kỹ thuật và công nghệ cho nhau, phát triển năng lực khoa học công nghệ, tăng năng suất lao động, và qua đó tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thứ hai, M&A giúp tăng cường thị phần Trong một môi trường cạnh
tranh gay gắt đang ngày một toàn cầu hóa, đòi hỏi các công ty phải nhanh chóng chớp lấy cơ hội kinh doanh trước các đối thủ, thì M & A xuyên quốc gia
là con đường ngắn nhất, nhanh nhất để thiết lập một vỹ trí vững vàng trên một thỹ trường mói So với hoạt động FDI thông qua đầu tư mới (greenfield) thì
M & A có hai lợi thế: tốc độ và khả năng tiếp cận được với những tài sản hữu hình và vô hình thuộc sở hữu của hãng khấc Thông qua M&A, công ty được thừa hưởng hệ thống nhà cung cấp, khách hàng, những thông tin sẵn có về thỹ trường của công ty bỹ sáp nhập hoặc mua lại, qua đó có thể nhanh chóng thâm nhập được vào thỹ trường mới Khi một còng ty có kế hoạch mở rộng thỹ trường, nhưng bỹ các rào cản thâm nhập thỹ trường do sự bảo hộ thỹ trường, hay sự hạn chế về tài chính, uy tín, họ sẽ chủ động tìm kiếm các đối tác và sáp nhập lại để có thể đẩy manh hơn nữa hoạt động của mình trên thỹ trường Đó không phải đơn thuần chỉ là sự kết hợp giữa hai công ty, mà đó là việc dựa vào nhau để phất triển Bên cạnh việc mở rộng thỹ phần theo phạm vi đỹa lý, M & A xuyên quốc gia còn có thể mở rộng thỹ phần nhờ đa dạng hóa sản phẩm, trong trường hợp M & A được tiến hành theo chiều dọc (giữa các ngành khác nhau)
Thứ ba, M&A giúp củng cố và nâng cao vị thế của công ty trên thương trường Đ ể chiến thắng trong cuộc chiến cạnh tranh, các công ty nhỏ
không ngừng liên kết với nhau, các công ty lớn thì thôn tính các công ty nhỏ
Trang 32hoặc liên doanh, hợp tác với nhau, tất cả đều chỉ nhằm một mục đích là lớn mạnh hơn Không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp trong cạnh tranh là bớt đi được một đối thủ, M & A còn giúp cho công ty có sức mạnh hơn về năng lực tài chính, kinh nghiệm quản lý hay đội ngũ nhân lực , tạo nên lợi thế trong đàm phấn, giao dịch với các đối tác Khả năng kiởm soát của các công ty này được củng cố vững chắc hơn nữa, sức ảnh hưởng không chỉ dừng lại ở việc gây áp lực đối vói các công ty khác mà còn có thở gây áp lực đối với cả chính phủ của cấc quốc gia, thở hiện ở những thay đổi trong chính sách, luật pháp
Như vậy, M & A là một phương thức thâm nhập thị trường quốc tế đem lại lợi ích cho TNCs về nhiều mặt: cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất lánh doanh, củng cố và tăng cường vị trí của công ty trên thương trường quốc tế Nhưng bên cạnh đó, cũng có rất nhiều khó khăn có thở phát sinh cho công ty khi tiến hành M&A Các bên đối tác có thở không đổng ý một số điều khoản sáp nhập, ví dụ, ai sẽ nắm quyền điều hành công ty mói Chính phủ cùa các nước cũng có thở ngăn cản các thương vụ M & A đở tránh dẫn đến tình trạng độc quyền trong một ngành hay một lĩnh vực kinh doanh nào đó Hoặc công ty đang làm ăn có lãi có thở vấp phải sự phản đối của cấc cổ đông khi có
ý định mua lại một công ty nào đó đang làm ăn thua lỗ, vì họ lo ngại về tình hình kinh doanh và những triởn vọng phát triởn cho tương lai Tuy vậy,
M & A vẫn đã và đang là phương thức được TNCs ưa chuộng sử dụng, hình thành nên một làn sóng M & A dâng cao mạnh mẽ từ những năm 1980 đến nay
Tóm lại, khi một công ty xem xét việc kinh doanh trên các thị trường
nước ngoài, công ty đó phải quyết định được cách thức sẽ sử dụng đở thâm nhập thị trường Có rất nhiều cách thức thâm nhập thị trường quốc tế khác nhau, và ba phương thức vừa được đề cập đến ở trên (xuất khẩu, nhượng quyền kinh doanh, sáp nhập và mua lại) là những phương thức đặc trưng nhất, đã và đang được sử dụng phổ biến nhất của TNCs M ỗ i phương thức có những ưu điởm và nhược điởm riêng, đòi hỏi các nhà lãnh đạo công ty phải biết phối hợp
Trang 33hài hòa tất cả những điều kiện về tài chính, nhân sự, những cơ hội hay rủi ro
để tìm ra được con đường phát triển đúng đắn, hiệu quả nhất cho mình Công
ty có thể sản xuất sản phẩm ngay trong nước rồi xuất khẩu sang thị trường nước ngoài nếu như phương thức đó vọn đảm bảo được chất lượng cao mà chi phí thấp, hoặc để cho công ty khác được phép kinh doanh sản phẩm của mình
và thu về tiền bản quyền như trong phương thức Franchising Nhưng nếu gặp phải những rào cản bảo hộ, những sự khác biệt hay những rủi ro trên các thị trường mới, thì M & A sẽ trở thành sự lựa chọn hàng đầu Tuy nhiên, không có một phương thức thâm nhập nào là lý tưởng trong mọi trường hợp, và trên mọi thị trường Hơn nữa, các phương thức này không loại trừ nhau Vì vậy, công ty
có thể sử dụng linh hoạt và tổng hợp nhiều phương thức thâm nhập, nhằm chiếm lĩnh và khai thác sâu hơn nữa các thị trường nước ngoài rộng lớn
5 K i n h nghiệm của một số nước đang phát triển trong việc tham gia vào
đó nổi bật nhất những hoạt động có trình độ công nghệ cao Cho đến nay, ấn
Độ đã thu hút được gần như tất cả cấc cấp độ hoạt động R&D của TNCs Hầu hết TNCs trong ngành công nghệ thông tin của Mỹ và Châu Âu đã thiết lập các trung tâm R&D tại nước này, đặc biệt tại Bangalore Hiện nay, chỉ riêng Bangalore đã thu hút được sự có mặt của 140 trung tâm phát triển của TNCs
và của các công ty lớn của Ân Độ 100% các trung tâm này đều hướng về xuất khẩu nhằm phát huy lợi thế của nguồn lao động có trình độ của nước này cho thị trường quốc tế Ngành công nghiệp phần mềm Ân Đ ộ là một ví dụ điển hình của một ngành có hàm lượng công nghệ cao và có khả năng cạnh tranh quốc tế với tư cách là một nền kinh tế đang phát triển Sự đầu tư mạnh mẽ của
Trang 34TNCs đã biến Ân Đ ộ thành một trung tâm phất triển phần mềm quan trọng của thị trường thế giới Không chỉ thiết lập các trung tâm nghiên cứu phát triển, TNCs còn thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh tại An Độ, góp phần thúc đởy các hoạt động xuất khởu của ngành công nghiệp này Kim ngạch xuất khởu phần mềm của Ấn Đ ộ tăng từ 128 triệu USD giai đoạn 1990-1991 lên 8.3 tỉ USD năm 2001 Nhiều công ty nội địa đã tham gia vào liên kết vói TNCs và nhanh chóng trở thành những nhà cung cấp lớn với kim ngạch xuất khởu không ngừng tăng lên, chủ yếu hướng vào thị trường Mỹ [19]
Yếu tố cơ bản và quan trọng nhất giúp Ấn Đ ộ trở thành điểm đến của các dự án R&D và các hoạt động sản xuất trình độ cao đó là: nguồn nhân lực
có sẵn trình độ cao về R&D, nói tiếng Anh tốt, mức lương không quá cao Chính phủ đã dành riêng một khoản đầu tư trong ngân sách để chi cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực ban đầu, bao gồm nhiều kỹ sư, tạo nên sức hút mạnh mẽ TNCs vào thị trường này Hiện nay, hàng năm Ấn Đ ộ tiếp tục đào tạo khoảng 80.000 chuyên gia phần mềm máy tính với nhiều kĩ năng đa dạng
và rất giỏi tiếng Anh trong đó khoảng 16500 người là do các cơ sở đào tạo nhà nước, số còn lại là do các cơ sở tư nhân Bên cạnh đó, việc đào tạo lực lượng lao động hùng hậu này còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều viện nghiên cứu tầm cỡ thế giới như Viện khoa học của Ân Độ, nhiều Viện Công nghệ và TNCs lớn như HP, ÍT, Intel Sự có mặt của TNCs, ngược lại, đã thúc đởy quá trình tích tụ nguồn vốn, nhân lực cho đất nước, càng làm tăng sự hấp dẫn của đất nước này với TNCs khác [19]
Bên cạnh đó, chính phủ Ân Đ ộ còn nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng thuận lợi cho TNCs, thông qua việc điều chỉnh các quy định trên liên quan đến môi trường đầu tư, kiến tạo các cơ sở hạ tầng hiện đại phục
vụ nghiên cứu khoa học và khai triển công nghệ như việc xây dựng và phát triển Trung tâm Công nghệ phần mềm vào năm 1998, nơi cung cấp cơ sở vật
Trang 35chất, văn phòng, điện, các phương tiện viễn thông và những đường vệ tinh tốc
độ cao cho các tập đoàn kinh doanh Công cuộc cải tổ thị trường bắt đầu từ năm 1991 tại Ấn Đ ộ đã làm tăng độ mự cửa của nén kinh tế thị trường và đã tạo ra lực đẩy mạnh mẽ đối với ngành công nghiệp này
5.2 Kinh nghiệm của Singapore trong việc hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gùi
Các hoạt động đầu tư của TNCs nước ngoài đem lại rất nhiều thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế quốc gia Tuy nhiên, nếu phụ thuộc quá nhiều vào TNCs nước ngoài thì sẽ không đảm bảo được cho sự phát triển lâu dài
N ă m 1993, đầu tư nước ngoài tại Singapore chiếm tói 6 0 % tổng đầu tư cho lĩnh vực sản xuất, chiếm 7 4 % sản lượng và 8 4 % tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành này Sự phát triển của Singapore phần lớn dựa vào các hoạt động đầu tư từ TNCs bên ngoài Chính phủ nước này đã nhanh chóng nhận ra điều
đó và bắt đầu chuyển hướng chiến lược sang chủ động phát triển khả năng kinh tế trong nước Một trong những chiến lược kinh tế được đặt ra nhằm mục tiêu phát huy nội lực là "Chương trình kinh tế chiến lược" (1991) trong đó nhà nước coi việc hình thành và phát triển TNCs trong nước là một trong những công cụ chiến lược trong việc đưa đất nước trự thành một nước phát triển vào những năm đầu thế kỷ XXI
Bước đầu cho việc thực hiện chiến lược hình thành và phát triển TNCs, chính phủ Singapore đưa ra chương trình "Khu vực hoa 2000" với mục tiêu là khu vực hoa các doanh nghiệp trong nước nhằm bắt kịp với sự phát triển của thị trường khu vực, thí điểm ban đầu với các doanh nghiệp nhà nước Để thực hiện chiến lược phát triển nội lực thông qua khu vực hoa hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, chính phủ Singapore đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ: (1) khu vực hoa các công ty gắn với chính phủ (Global linked
Trang 36Nghiên cứu các hình thức thâm nhập thi trường quốc tế của TNCs
corporations- GLCs)2 và các công ty thành lập từ Ban điều hành (Statutory Board- SB)3
; (2) thực hiện các biện pháp chính trị, ngoại giao nhằm tạo cơ hội kinh doanh tại nước ngoài cho các doanh nghiệp Keppel Corporation là một
ví dụ minh chứng cho vai trò của chính phủ trong việc hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng quy m ô hoạt động ra nước ngoài N ă m 1968, công ty TNHH Keppel Shipyard được sáp nhập với Cảng Singapore đấ tạo thành một doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước Từ điấm khôi đầu rất khiêm tốn, doanh nghiệp đã phát triấn thành một trong những tập đoàn công nghiệp đa ngành lớn nhất tại Singapore, bao gồm 9 công ty chính và 140 chi nhánh Keppel được liệt vào danh sách 50 công ty lớn nhất châu á năm 1990 của Viện nghiên cứu Nomura và hiện nay Kappel là một trong 50 TNCs phi tài chính lớn nhất (xét trên tiêu chí tài sản tại nước ngoài) của các nước đang phát triấn [16] Bên cạnh đó, Singapore thực hiện mục tiêu đưa lĩnh vực kinh tế tư nhân lên làm lực lượng đi đầu trong khu vực hoa Chính phủ tiến hành hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh lên tầm quốc gia đấ từ đó thâm nhập vào thị trường nước ngoài và thiết lập các hoạt động xuyên quốc gia Kế hoạch phát triấn SMEs được đưa ra vào năm
1989 Thông qua Ban chỉ đạo phát triấn kinh tế (EDB: Economic Development Board), chính phủ thực hiện nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ với mục tiêu phát triấn 100 SMEs thành những doanh nghiệp lớn trong khu vực như: Chương trình Tài chính doanh nghiệp địa phương (LIUP) cung cấp những khoản vay với lãi suất thấp phục vụ việc mua sắm trang thiết bị hiện đại cần thiết cho các hoạt động xuyên quốc gia; chương trình ưu đãi về thuế nhằm khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài (ví dụ như Chính sách Giảm hai lần thuế cho các khoản Chi phí Phát triấn Đầu tư tại Nước ngoài); chương trình Đào tạo Khu vực hoa
2 Là những công ty nhà nước được tư nhân hóa nhưng nhà nước vãn giữ một lượng cổ phần đa số, do đó vãn
có ảnh huống lớn đến việc quàn lý doanh nghiệp
3 Là cơ quan được thành lập nhằm thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế
Trang 37(Regionalization Training Scheme) thực hiện các đạt đào tạo tại Singapore cho đội ngũ các kỹ sư, nhà quản lý, điều hành, giám sát của các doanh nghiệp; các chương trình nghiên cứu thị trường do các hiệp hội ngành hoặc các cơ quan chính phủ như EDB tổ chức để cung cấp các thông tin về thị trường và cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp muốn mở rộng hoạt động ra các thị trường nưậc ngoài
Vậi chiến lược phát triển nội lực, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nưậc, khuyến khích các doanh nghiệp trong nưậc mở rộng quy m ô hoạt động ra ngoài biên giậi quốc gia, từng bưậc phát triển thành các tập đoàn xuyên quốc gia, Singapore đã thực sự xây dựng được một nền kinh tế phất triển vững chắc, không chỉ hấp dẫn vậi TNCs nưậc ngoài m à còn có khả năng cạnh tranh trực tiếp vậi những tập đoàn kinh tế lận hàng đầu thế giậi
Tóm lại, sự thành công trong các chiến lược thu hút đầu tư trình độ cao
và phát triển nội lực của các nưậc đang phát triển ữong khu vực là những bài học kinh nghiệm hữu ích cho các quốc gia khác, ưong đó có VN Vậi những chính sách thích hợp, các nưậc này đã khai thác tối đa lọi ích từ hoạt động của TNCs và nâng cao được sức cạnh tranh của chính các doanh nghiệp trong nưậc, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia Vậi những điểm tương đổng về nhiều mặt, bài học thành cóng của các quốc gia này thực sự có ý nghĩa lận đối vói VN
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG sử DỤNG CẤC HÌNH THỨC
T H Â M NHẬP THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ CỦA TNCS
1 Thực trờng sử dụng các hình thức thâm nhập thị trường quốc tế của TNCs
1.1 Xuất khẩu
Xuất khẩu là hình thức đầu tiên và đơn giản nhất trong quá trình thâm nhập thị trường quốc tế của TNCs Mặc dù hình thức này có những mặt hạn chế nhất định như đã phân tích ở chương Ì, nhưng về cơ bản, đây vẫn là hình thức truyền thống được TNCs sỉ dụng rộng rãi Thông qua phương thức xuất khẩu, TNCs không chỉ thu về một khoản doanh thu khổng lổ, mà còn đóng góp phần lớn vào các giao dịch thương mại quốc tế, thúc đẩy sự giao thương, buôn bán trên toàn thế giới
Với ba dòng lưu thông hàng hóa cơ bản là: hàng hóa bán ra từ công ty
mẹ cho các chi nhánh tại nước ngoài, hàng hóa bán từ các chi nhánh nước ngoài cho công ty mẹ và hàng hóa các chi nhánh trao đổi cho nhau, TNCs chi phối hầu hết các dòng chu chuyển hàng hóa giữa cấc quốc gia, thu hút phần lớn các sản phẩm vào các kênh lưu thông xuyên quốc gia của mình Chưa có
dữ liệu để đưa ra một con số chính xác về thị phần của TNCs trong thương mại quốc tế, nhưng nếu có thể lấy số liệu từ Mỹ suy rộng ra cả thế giói thì TNCs có thể chiếm từ 2/3 đến 3/4 tổng xuất khẩu của thế giới, và trong đó 1/3
là trao đổi thương mại nội bộ giữa các công ty Giá trị xuất nhập khẩu của TNCs luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc nội của nhiều quốc gia phất triển nói riêng và cả thế giới nói chung
Bảng 2: Tỷ lệ doanh thu của TNCs so với GDP của một số nước
phát triển tiêu biểu
Doanh thu của
Nguồn: Giorgio Barba Navaretti and Anthony J.Venables,
"Multinational Firms in the World Economy", 2004, table 1.1., tr 5
Trang 39Nhờ quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới ngày một mạnh mẽ, TNCs không ngừng mở rộng hoạt động của mình ra các thị trường bên ngoài Doanh thu của các chi nhánh của TNCs đã tăng mạnh từ 6,045 tỷ USD năm
1990 lên 22,171 tỷ USD năm 2005, trong đó doanh thu xuất khẩu tăng từ 1,366 tỷ USD lên 4,214 tỷ USD trong cùng thời kỳ Điểu đó cho thấy, hoạt động thương mại quốc tế nói chung hay xuất khẩu nói riêng chiếm tỷ trọng rất lớn trong hoạt động kinh doanh của TNCs (70,5% năm 1982, 54,3% năm
%
G D P
Giá trị (tỷUSD)
%
G D P Giá trị (tỷUSD)
khẩu của các nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế hướng về xuất khẩu Trung bình, tỷ trọng xuất khẩu của các chi nhánh TNCs đều chiếm từ 2 0 % đến 5 0 % tổng kim ngạch của các nước, từ các nước phát triển, đang phát triển
Trang 40đến các nước Trung và Đông Âu Đặc biệt, một số nước như Hungary và Estonia, tỷ trọng xuất khẩu của các chi nhánh nước ngoài chiếm tới 6 0 % và
8 0 % tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia
Bảng 4: Tỷ trọng XK của các chi nhánh NN trong tổng kim ngạch XK
của một số nước
Các nước phát triê ti
Australia 1999 26 Hà Lan 1996 44 Canada 1995 44 Thúy Điển 1999 39
Các nước đang phát triển
Achentina 2000 29 Trung Quốc 2001 50 Brazil 2000 21 Costa Rica 2000 50 Chile 2000 28 Mexico 2000 24
Các nước Trung và Đông Âu
Estonia 2000 60 Rumani 2000 21 Hungary 1999 80 Slovenia 1999 26
Ba Lan 2000 56
Nguồn: WorldInvestment Report 2002, UNCTAD, tr 154
Cơ cấu giao dịch hàng hóa của TNCs trên thị trường thế giới hiện đang
hướng về nhửng mặt hàng có hàm lượng vốn hoặc kỹ thuật cao Các mặt hàng
sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu có xu hướng giảm tỷ trọng N ă m 1983, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao chỉ chiếm 2 4 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng đến năm 1998 con số đó đã tăng lên đến 39,3%- Nhửng sản phẩm chủ yếu hiện nay thuộc về cách ngành công nghệ thông tin, viễn thông,
ô tô, và các hàng điện tử tiêu dùng