Đã có nhiều nghiên cứu về nuôi cấy mô cây cà chua, trong đó phải kể đến là các nghiên cứu tái sinh cây cà chua từ callus có nguồn gốc từ lá thật và lá mầm hoặc nuôi cấy lát mỏng Compton
Trang 1NGHIÊN CỨU LƯU GIỮ VÀ NHÂN NHANH GIỐNG THUẦN
CÀ CHUA DT28 BẰNG KỸ THUẬT NUÔI CẤY IN VITRO
Trịnh Thị Thanh Hương1, Lê Thanh Nhuận1,
Lê Thị Liễu1, Nguyễn Ngọc Lan1, Đặng Trọng Lương1, Đinh Văn Luyện1
SUMMARY
Callus induction, micropropagation and in vitro conservation of tomato
Lycopersicon esculentum via cotyledon culture
Different growth regulators combinations were tested on the production of cotyledon callus in tomato cultivar DT28 Calli were induced on media supplemented with 1.0mgL-α-naphthaleneacetic acid (NAA), 0.5mgL-1 6-benzylaminopurine (BAP), or with 1.0mgL-1 2,4D plus 1.0mgL-1 NAA The medium containing 0.5mgL-1 BAP and 1.0mgL-1 NAA produced the highest calli frequency, and promoted plant regeneration by indirect organogenesis, when calli were transferred to 1mgL-1 BAP and 1mgL-1 Zeatin Plants regenerated reaches 3-4 cm in length were transferred to the rooted medium supplemented with 1mgL-1IBA,, after two weeks in culture, plants rooted with rate one handred percent In addition, the The effects of sorbitol and manitol
concentrations and low temperature on in vitro conservation of tomato have been examined
Sorbitol and manitol concentrations of 20 g 1-l and 20 g 1-l and temperatures of 20°C -23oC revealed slow growth for 12 months in 68% of tomato samples survived
Keywords: DT28 tomato variety, growth regulators, α-naphthaleneacetic acid (α-NAA),
6-benzylaminopurine (BAP), Kinetin, sorbitol, manitol, cotyledon
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cà chua (Lycopersicon esculentum) là
một trong những cây rau cao cấp chủ lực
được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới
trong đó có Việt Nam Cà chua giàu
vitamin A, C và chất xơ, không chứa
cholesterol (Hobson và Davies, 1971)
Trung bình 148 g cà chua chỉ chứa 35
calories và trong 100 g quả khô chứa xấp xỉ
20 - 50 mg lycopene Lycopene là chất có
tác dụng chống oxi hoá bảo vệ con người
tránh được các gốc tự do làm phân huỷ các
tế bào của cơ thể, ngăn ngừa bệnh ung thư
Phương pháp nuôi cấy mô thực vật đã
phát triển rộng rãi kể từ những năm 1930,
khi các nhà khoa học sử dụng kỹ thuật này
để nuôi cấy các tế bào Gần đây việc nuôi
cấy mô được sử dụng cho nhiều mục đích
khác nhau như nhân nhanh cây giống thông qua giai đoạn tạo callus, nuôi cấy bao phấn
để tạo dòng thuần, nuôi cấy lục lạp
Công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật
là công cụ hữu ích trong cải tiến cây trồng
Đã có nhiều nghiên cứu về nuôi cấy mô cây
cà chua, trong đó phải kể đến là các nghiên cứu tái sinh cây cà chua từ callus có nguồn gốc từ lá thật và lá mầm hoặc nuôi cấy lát mỏng (Compton và Veilleux, 1991; Vnuchkova, 1977a, b; Hamza và Chupeau,
1993) Sự tái sinh in vitro thông qua phát
sinh các cơ quan và phát sinh phôi vô tính
đã được sử dụng trong nhân nhanh các dòng, giống cà chua đồng nhất về mặt di truyền Sự tái sinh chồi từ rễ gần đây cũng
đã được nghiên cứu (Koornneeff và CS, 1993) Ngoài ra Faria và CS (1996) cũng đã 1
Viện Di truyền Nông nghiệp
Trang 2thành công trong việc tạo chồi từ callus có
nguồn gốc từ trụ dưới lá mầm và nuôi cấy
tế bào trần (Morgan và Cocking, 1982)
Bảo quản, lưu giữ in vitro các nguồn gen
đã có những bước tiến đáng kể từ năm 1975,
CIP đã góp phần phát triển kỹ thuật nuôi cấy
mô để bảo quản in vitro tập đoàn khoai tây
(Roca, 1975), khoai lang (Siguenas, 1987) và
cây cà chua (Toledo và cộng sự, 1994) Bảo
quản in vitro là phương pháp hiệu quả và hữu
hiệu nhất để phân loại các vật liệu vô tính
Phương pháp này giúp các vật liệu trở nên
sẵn có, tránh được sự lây nhiễm các nguồn
bệnh chính và có khả năng loại trừ virus
thông qua nuôi cấy in vitro (Roca và cộng sự,
1979; George, 1993) Ngoài ra, phương pháp
bảo quản in vitro còn tiết kiệm hơn phương
pháp bảo quản lạnh sâu các loài sinh sản vô
tính sinh trưởng ngoài đồng ruộng
(Florkowski và Jarret,1990)
Việc nghiên cứu ứng dụng nuôi cấy
in vitro trong lưu giữ và nhân nhanh giống
cà chua đang là một vấn đề cần được quan
tâm nghiên cứu Vì vậy chúng tôi thực hiện
nghiên cứu tái sinh cây cà chua và bảo quản
in vitro, phục vụ cho công tác nhân giống
và giữ giống
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Vật liệu
Vật liệu là giống cà chua DT28 do Trung tâm Thực nghiệm Sinh học nông nghiệp công nghệ cao, Viện Di truyền Nông nghiệp cung cấp
2 ội dung nghiên cứu
Nghiên cứu các điều kiện thích hợp cho
nuôi cấy mô in vitro cây cà chua Nghiên
cứu tạo callus, tái sinh cây và tạo rễ cây Từ
đó đưa ra quy trình tái sinh cây cà chua Cải tiến chế độ nuôi cấy để lưu giữ các mẫu giống cà chua nuôi cấy
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Khử trùng mẫu
Sử dụng các hợp chất HgCl2 0,2% và NaClO 5% Hạt sau khi khử trùng được gieo vào môi trường (I): MS (Murashige and Skoog) + 8 g/l agar + 30 g/l đường Theo dõi sau 2-3 ngày nuôi cấy
3.2 Các công thức môi trường nuôi cấy
Ký hiệu công thức
Trang 33.3 Môi trường tạo callus từ lá mầm
cà chua
Cây con sau gieo hạt từ 7-10 ngày tuổi,
tách lá mầm và thân chuyển vào môi trường
tạo callus Môi trường MS có bổ sung các
thành phần: 8 g/l agar + 30 g/l đường và các
phytohormon 2,4-D, BAP, NAA Sau khoảng
2-3 tuần thì bắt đầu theo dõi và đánh giá kết
quả tạo callus của các môi trường khác nhau
3.4 Môi trường tái sinh cây cà chua
Những callus được tạo thành có màu
xanh và xốp là những callus có khả năng tái
sinh thành cây và sẽ được chuyển sang môi
trường tái sinh cây Môi trường tái sinh cây
là môi trường (I) và bổ sung một số
phytohormon như NAA, BAP và Zeatin
Đánh giá tỷ lệ tái sinh cây và chất lượng
cây tái sinh
3.5 Môi trường tạo rễ cà chua
Những cây tái sinh mà sinh trưởng và
phát triển tốt thì tiếp tục chuyển sang môi
trường tạo rễ Môi trường tạo rễ cây là môi
trường bổ sung các phytohormon như NAA, IBA Đánh giá ảnh hưởng của môi trường đến khả năng tạo rễ cây và khả năng sinh trưởng của cây
3.6 Phương pháp bảo quản, lưu giữ
cà chua in vitro
Bảo quản ngắn hạn dựa vào hàm lượng đường sorbitol và manitol, chế độ chiếu sáng
1000 lux và nhiệt độ nuôi cấy 20-230C III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 ghiên cứu ảnh hưởng của thời gian
và các chất khử trùng đến khả năng nảy mầm của hạt cà chua
Hạt cà chua được khử trùng bằng HgCl2 0,2% và NaOCl 5% trong 3 khoảng thời gian khác nhau Sau khi hạt gieo được 3-5 ngày, chúng tôi tiến hành theo dõi và đánh giá hiệu quả của các chất khử trùng và ảnh hưởng của chúng đến khả năng nảy mầm của hạt Kết quả thể hiện ở bảng 1
Bảng 1 ghiên cứu ảnh hưởng của các chất khử trùng và thời gian xử lý
đến khả năng nảy mầm của hạt cà chua
Qua bảng 1 cho thấy: Khi khử trùng
bằng HgCl2 0,2% thì tỷ lệ cây sống tỷ lệ
nghịch với thời gian khử trùng, có nghĩa là
thời gian khử trùng tăng thì tỷ lệ cây sống
giảm Mặc dù tỷ lệ nhiễm không cao nhưng
hạt bị chết nhiều, khả năng nảy mầm kém
nên tỷ lệ sống không cao Ở nồng độ HgCl2
0,2%, tỷ lệ cây sống đạt cao nhất là 42% ở
thời gian khử trùng là 10 phút Trong khi đó
khử trùng bằng NaOCl 5% thì hiệu quả
ngược lại, tỷ lệ cây sống tăng theo chiều tăng thời gian khử trùng Ở nồng độ này tỷ
lệ cây sống đạt cao nhất là 85% với thời gian khử trùng là 25 phút Khi khử trùng bằng NaOCl 5%, hạt cà chua bị nhiễm khuNn và nấm nhiều, tuy nhiên tỷ lệ cây sống lại cao hơn khi khử trùng bằng HgCl2
0,2% Điều đó cho thấy khử trùng bằng
N aOCl 5% đạt hiệu quả cao hơn so với
HgCl
Trang 42 ghiên cứu ảnh hưởng của các chất
kích thích sinh trưởng đến khả năng tạo
callus từ lá mầm cà chua
Các mẫu lá mầm 7-10 ngày tuổi và các
đốt thân được cấy vào môi trường tạo
callus Ở thí nghiệm này, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu ảnh hưởng của hai tổ hợp
BAP + N AA và 2,4D + N AA đến khả năng
tạo callus từ mẫu lá mầm và mẫu đốt thân
2.1 Ảnh hưởng của tổ hợp BAP và
;AA đến khả năng tạo callus cà chua
Các mẫu lá mầm và đốt thân được cấy vào môi trường có bổ sung BAP và N AA Sau hai tuần nuôi cấy, theo dõi và đánh giá khả năng tạo callus và sự phát sinh hình thái của mẫu nuôi cấy Kết quả được thể hiện ở bảng 2
Bảng 2 Ảnh hưởng của tổ hợp BAP và AA đến khả năng tạo callus cà chua
Công thức
môi
trường
Tỷ lệ tạo
callus (%)
Tỷ lệ tạo chồi (%)
Tỷ lệ mẫu chết (%)
Tỷ lệ tạo callus (%)
Tỷ lệ tạo chồi (%)
Tỷ lệ mẫu chết (%)
Theo kết quả của bảng 2, ta thấy khi
tăng nồng độ BAP từ 0,5 mg/ml đến 2
mg/ml thì tỷ lệ tạo callus giảm dần Đối với
mẫu lá, khi cấy vào môi trường tạo callus
thì mẫu chết nhiều, tỷ lệ tạo callus đạt cao
nhất là 50% (Môi trường MS bổ sung 0,5
mg/ml BAP và 1 mg/ml NAA Trong khi
đó, mô thân tạo callus đạt tỷ lệ cao hơn so với mô lá Cũng ở môi trường C1, mô thân đạt tỷ lệ tạo callus cao nhất là 75% Như vậy để tạo callus cà chua nên sử dụng lá mầm và cấy trong môi trường có bổ sung 0,5 mg/ml BAP và 1 mg/ml NAA
Ảnh 1A: Callus tạo thành trên môi trường có bổ sung BAP và NAA
Ảnh 1B: Callus tạo thành trên môi trường có bổ sung 2,4D và NAA
Trang 52.2 Ảnh hưởng của tổ hợp 2,4D và
;AA đến khả năng tạo callus cà chua
Tương tự như với tổ hợp BAP + NAA, ở
thí nghiệm này chúng tôi cũng tiến hành tạo
callus từ hai nguồn mẫu đó là mô lá và mô thân Nồng độ 2,4D được bổ sung vào môi trường theo dải gradient là từ 1-1,5-2 mg/ml, còn NAA giữ nguyên ở nồng độ 1 mg/l
Bảng 3 Ảnh hưởng của tổ hợp 2,4D và AA đến khả năng tạo callus cà chua
Công thức
môi trường
Tỷ lệ tạo callus (%)
Tỷ lệ tạo chồi (%)
Tỷ lệ mẫu chết (%)
Tỷ lệ tạo callus (%)
Tỷ lệ tạo chồi (%)
Tỷ lệ mẫu chết (%)
Kết quả thu được ở bảng 3 cho thấy: Tỷ
lệ tạo callus của mẫu cấy tỷ lệ thuận với
nồng độ 2,4D Có nghĩa là khi tăng nồng độ
2,4D thì các mẫu có xu hướng tạo callus
càng cao Ở môi trường có bổ sung 2 mg/ml
2,4D + 1 mg/l NAA, mẫu tạo callus đạt tỷ lệ
cao nhất là: 30% (đối với mô lá) và 56% (đối
với mô thân) Tuy nhiên, tỷ lệ tạo callus khi
bổ sung 2,4D + NAA lại không cao bằng
môi trường có bổ sung BAP + NAA Mặt
khác, các callus hình thành trên các môi
trường này không tơi xốp, trắng vàng như
trên môi trường có bổ sung BAP và NAA
Như vậy, môi trường tốt nhất để tạo callus
cà chua là môi trường có bổ sung 0,5 mg/l BAP + 1 mg/l NAA (môi trường C1)
3 Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến khả năng tái sinh cây cà chua từ callus
Đối với thí nghiệm tái sinh cây cà chua, những callus đẹp, có màu xanh, có khả năng tái sinh tốt sẽ được chuyển sang môi trường tái sinh Môi trường tái sinh callus cà chua
có chứa thành phần cơ bản của MS và bổ sung một số phytohormon Sau 3 tuần chuyển sang môi trường thí nghiệm, bắt đầu theo dõi và đánh giá hiệu quả tái sinh callus
Bảng 4 Ảnh hưởng các chất kích thích sinh trưởng đến khả năng tái sinh cây cà chua
từ callus
Công thức
C8 68 Callus có màu xanh, bắt đầu xuất hiện chồi
C9 87 Callus có màu xanh, bắt đầu xuất hiện chồi
C10 11 Callus lúc đầu có màu xanh, sau phát triển to hơn, xốp hơn và có
màu xám C11 8 Callus lúc đầu có màu xanh, sau có màu xám
C12 12 Callus có màu xanh, phát triển to hơn, chuyển màu xanh nhạt
Qua kết quả bảng 4 thấy rằng mẫu
callus tái sinh tốt nhất trên môi trường có
bổ sung 1 mg/l Zeatin và 0,5 mg/l BAP, còn
trên các môi trường khác tỷ lệ tái sinh của
callus rất kém và mẫu thí nghiệm thậm chí
còn bị chết dần Những đánh giá của nghiên
cứu này trùng khớp với nhận xét của Koornneeff và CS (1993) Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp Zeatin và BAP đến nhân nhanh chồi, kết quả này được nêu lên trong bảng 5
Trang 6Ảnh 2 Sự phân hoá và phát sinh chồi trên môi trường tái sinh
Bảng 5 Ảnh hưởng của tổ hợp Zeatin và BAP đến nhân nhanh chồi sau 7 tuần nuôi cấy
CT
Chất ĐTST (mg/l môi
(lần)
Chiều cao chồi (cm)
Số lá/chồi
1 (Đ/C) 0 0 1 2,21 1,5 Chồi nhỏ, lá nhỏ, thân lá xanh nhạt C8 0,5 0,5 1,82 5,16 2,6 Thân nhỏ, lá nhỏ, thân lá xanh nhạt C9 1 0,5 4,93 3,84 4,3 Thân trung bình, lá nhỏ, xanh nhạt C10 1,5 0,5 4,29 4,09 3,7 Thân nhỏ, lá trung bình, xanh nhạt C11 2 0,5 3,46 4,44 3,0 Thân nhỏ, lá trung bình, xanh nhạt C12 2,5 0,5 2,59 4,97 2,1 Thân nhỏ, lá trung bình, xanh nhạt
Các số liệu ở bảng 5 cho thấy:
Ngoài công thức đối chứng có số chồi
không tăng, các công thức còn lại đều có số
chồi tăng lên rõ rệt, tuy nhiên mức độ tăng
có khác nhau Động thái đẻ chồi của công
thức C9 (1 mg/l Zeatin + 0,5 mg/l BAP)
luôn có sự vượt trội ngay từ những tuần đầu
Ở thời điểm 7 tuần sau nuôi cấy, số chồi ở
công thức này đã lên đến 141,3 chồi và đạt
hệ số nhân cao nhất (4,93 lần) Trong số các
công thức thí nghiệm có bổ sung Zeatin và
BAP thì công thức C12 (2,5 mg/l Zeatin +
0,5 mg/l BAP) có hệ số nhân chồi thấp nhất
(1,82 lần) Chất lượng chồi ở tất cả các công
thức còn lại nhìn chung không cao, thân chồi
từ nhỏ đến trung bình, kích thước lá cũng
nhỏ, số lá từ ít đến trung bình Tuy nhiên,
các chồi ở công thức C9 có biểu hiện sinh
trưởng tốt hơn 5 công thức còn lại Công
thức có chiều cao chồi trung bình cao nhất là
công thức C12 (5,16 cm), thấp nhất là công
thức C9 (3,84 cm) (không kể công thức đối
chứng) Số lá trung bình nhiều nhất ở công
thức C9 (4,3 lá/chồi), ít nhất ở công thức
C12 (2,1 lá/chồi) Mầu sắc thân lá chồi của các công thức đều kém, nhạt hơn nhiều so với giống Tóm lại, công thức C9 với hàm lượng chất điều tiết sinh trưởng là 1 mg/l Zeatin + 0,5 mg/l BAP là công thức nhân nhanh chồi tốt nhất trong số các công thức thí nghiệm, biểu hiện là hệ số nhân cao nhất
và chất lượng chồi cũng tốt nhất
4 Ảnh hưởng của AA và IBA đến khả năng tạo rễ cây cà chua
Thí nghiệm tạo rễ cây cà chua được thực hiện đối với các chồi tái sinh Môi trường thí nghiệm ra rễ cũng có chứa các thành phần
cơ bản của MS và bổ sung các phytohormon khác nhau Kết quả thu được ở bảng 6 cho thấy: môi trường có bổ sung IBA cho khả năng ra rễ tốt hơn NAA Các mẫu cấy trên môi trường bổ sung 1 mg/l IBA tỷ lệ ra rễ 100%, trong khi đó môi trường bổ sung 1mg/l và 2mg/ml NAA chỉ ra rễ cao nhất là 19% (đối với mẫu chồi ngọn, chồi tái sinh)
và 9% (đối với mẫu chồi thân)
Trang 7Bảng 6 Ảnh hưởng AA và IBA đến khả năng ra rễ cây cà chua
Công thức
môi trường
Tỷ lệ
ra rễ (%)
Hình thái cây
Hình thái
rễ
Tỷ lệ
ra rễ (%)
Hình thái cây
Hình thái
rễ
C14 13 Không tạo chồi ngọn Có nhiều rễ, rễ ngắn 7 Tốt Nhiều rễ, rễ ngắn C15 17 Không tạo chồi ngọn Có nhiều rễ, rễ ngắn 9 Tốt Nhiều rễ, rễ ngắn C16 100 Có tạo chồi ngọn Nhiều rễ, rễ dài 100 Tốt Nhiều rễ, rễ dài C17 100 Có tạo chồi ngọn Nhiều rễ, rễ dài 100 Tốt Nhiều rễ, rễ dài
Qua kết quả bảng 6 thấy rằng, cà chua ra
rễ tốt trên môi trường có chứa IBA và thời
gian bắt đầu cảm ứng rễ nhanh hơn so với
môi trường chứa NAA Tuy nhiên những
chồi cho cảm ứng rễ trên môi trường có NAA có rất nhiều rễ, rễ ngắn nhưng khoẻ
Vì vậy môi trường tốt nhất để tạo ra cây cà chua là môi trường có bổ sung 1 mg/ml IBA
Ảnh 3 Cây cà chua trên môi trường ra rễ
5 ghiên cứu bảo quản, lưu giữ cà chua
in vitro ngắn hạn
Đây là những quy trình hoàn thiện để vi
nhân giống và bảo quản cây cà chua (Toledo
và cộng sự, 1994) Các mẫu giống đem vào
lưu giữ được xác định là các mẫu đã tái sinh
nhưng dưới dạng chồi Kỹ thuật bảo quản
in vitro ngắn hạn tập đoàn cà chua của nghiên
cứu này được trình bày sau đây Các mẫu bổ sung được bảo quản trong môi trường bổ sung 1,5% và 2% sorbitol và 2% manitol ở nhiệt độ 20-23oC và cường độ ánh sáng
1000 lux Phương pháp này giúp kéo dài thời gian bảo quản cà chua 6 tháng-12 tháng mà không cần cấy chuyển (bảng 7)
Bảng 7 Tỷ lệ mẫu sống sót sau 12 tháng lưu giữ in vitro
Số tháng 2% sorbitol và 2% manitol 1,5% sorbitol và 2% manitol 2% sorbitol
Trang 8T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
8
Cà chua là cây trồng nhiệt đới nên thường mất khả năng phát triển trong điều kiện nhiệt
độ thấp hơn điều kiện nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển ngoài đồng ruộng Tuy nhiên cây
cà chua vẫn có khả năng sinh trưởng ở nhiệt độ thấp hơn một vài độ C với điều kiện nhiệt
độ thông thường Cây cà chua được trồng ở nhiệt độ dưới 15oC trong thời gian dài đã cho thấy những tác động bất lợi như sự phenol hoá hay sự chết hoại (Desamero, 1990) Nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra rằng nhiệt độ từ 16-18oC kéo dài thời gian bảo quản tối đa là 1 năm trong môi trường bổ sung sorbitol 2% Tuy nhiên các tác động bất lợi xuất hiện ở 25%
mẫu giống cà chua in vitro Nhiệt độ từ 18-21oC cũng đã được thí nghiệm Môi trường nuôi cấy chứa 2% sorbitol bảo quản ở nhiệt độ từ 23-25oC, cường độ chiếu sáng 3000 lux (Lizarraga và cộng sự, 1990) đã duy trì thành công tập đoàn cà chua trong vòng 6 tháng không cần cấy chuyển Mới đây, một môi trường mới chứa 2% sorbitol và 2% mannitol đã được kiểm tra sử dụng để lưu giữ giống cà chua DT28 Tỉ lệ sống của chúng là 90% sau 6 tháng bảo quản và số mẫu sống sót tối thiểu là 68% (bảng 7) Việc thống kê với vài trăm mẫu đưa vào của các giống khác cũng đang được tiến hành
IV KẾT LUẬN
Qua những kết quả nghiên cứu trình bày ở trên, chúng tôi rút ra những kết luận dưới đây:
1 Hiệu quả khử trùng tốt nhất là sử dụng NaOCl 5% trong thời gian 25 phút
2 Nguồn mẫu tốt nhất để tạo callus là lá mầm và môi trường cho khả năng tạo callus tốt nhất là C1 (có bổ sung 0,5 mg/ml BAP và 1 mg/ml NAA)
3 Môi trường tái sinh cây từ callus thích hợp nhất là C9 (bổ sung 0,5 mg/l BAP và 1 mg/l zeatin)
4 Môi trường ra rễ thích hợp nhất là bổ sung 1 mg/l IBA
5 Kỹ thuật lưu giữ cà chua in vitro được xác định là môi trường nuôi cấy bổ sung 2%
Sorbitol và 2% Manitol, chế độ chiếu sáng duy trì ở 1000 lux và nhiệt độ thích hợp
20-230C
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 PGS.TS Lê Duy Thành, 2001 Cơ sở di truyền chọn giống thực vật NXB Khoa học và
Kỹ thuật, 260 trang
2 guyễn Văn Thắng, Trần Khắc Thi, 2000 Sổ tay người trồng rau, NXB Nông nghiệp
3 Đỗ ăng Vịnh, 2005 Công nghệ thực vật tế bào ứng dụng, NXB Nông nghiệp, 252
trang
4 Bhatia B., Ashwath ., Senaratna T và Midmore D., 2004 “Tissue culture studies of
tomato”, Plant cell, tissue and organ culture, 78
5 Brasileiro A.C., Willadino L., Carvalheiro G và Guerra M., 1999 “Callus induction and plant regeneration of tomato via anther culture”, Ciência Rural, Santa Maria, 29
(4), p919-623
6 Jozef Gubis Z., Lajchová Z., Faragó J., Zureková Z., 2004 “Effect of growth regulators
on shoot induction and plant regeneration in tomato (Lycopersicon Esculentum Mill)”, Biologia, Bratislava, p 405-408
7 Jose´ M Seguı´-Simarro* and Fernando uez, 2007 “Embryogenesis induction, callogenesis, and plant regeneration by in vitro culture of tomato isolatedmicrospores and whole anthers”, Journal of Experimental Botany, P1-14
Trang 9T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
9
8 Rhaman M., Asaduzzaman M., ahar và Bari M A., 2006 “Efficient plant regeneration from cotyledon and midrib dirived callus in eggplant (Solanum
melongena L.)”, Bio-sci, p31-38
gười phản biện: Trần Duy Quý