đánh Giá khả năng áp dụng kỹ thuật kiềm hoá rơm làm thức ăn cho bò trong điều kiện nông hộ qui mô nhỏ An evaluation of adoptability of alkali treatment of rice straw as feed for growing
Trang 1đánh Giá khả năng áp dụng kỹ thuật kiềm hoá rơm làm thức ăn
cho bò trong điều kiện nông hộ qui mô nhỏ
An evaluation of adoptability of alkali treatment of rice straw as feed for growing
cattle under smallholders' circumstances
Nguyễn Xuân Trạch1
Summary
A feeding trial with participation of beef cattle smallholders was conducted in a rice growing village in the countryside of Hanoi to evaluate adoptability of urea treatment of rice straw as feed for growing beef cattle A total of 40 households were selected and divided into 2 groups, one raising their growing cattle as usually practiced, and the other applying urea-treated rice straw Results confirmed the positive effect of rice straw treatment: the cattle fed on urea-treated straw ate more and grew faster than those raised as usual However, following the demonstration trial, farmers
in the studied village did not continue to apply the technique due to a number of reasons such as inconvenience in reorganization of routine activities, psychological issues and socio-economic concerns Overall, too small a scale of cattle production is the main reason for not adopting the technique
Key words : beef cattle, rice straw, smallholders, treatment, urea
1 đặt vấn đề
Chăn nuôi bò ở nước ta chủ yếu ở quy mô nông hộ nhỏ với các nguồn lực có hạn Trong vụ đông xuân bò thường thiếu cỏ nghiêm trọng Để khắc phục tình trạng này nhiều phương pháp nhằm nâng cao khả năng sử dụng rơm rạ làm thức ăn vụ đông cho trâu bò đã được nghiên cứu Kiềm hoá rơm (khô) là một giải pháp đã được khẳng định có tác dụng tốt về mặt kỹ thuật (Doyle et al., 1986, Nguyen Xuan Trach, 1998) Tuy nhiên, trong thực tế kỹ thuật này vẫn chưa được nông dân áp dụng rộng rãi (Devendra, 1997) Trong điều kiện hạn chế của nông hộ chăn nuôi quy mô nhỏ, ngoài khía cạnh kỹ thuật thì có thể còn có rất nhiều yếu tố khác chi phối cần phải được giải quyết trước khi một
kỹ thuật “tốt” có thể được nông dân tự nguyện áp dụng Chính vì vậy, một thí nghiệm nuôi bò bằng rơm kiềm hoá đã được tiến hành với sự tham gia trực tiếp của người chăn nuôi đã được tổ chức nhằm mục đích:
- Trình diễn tác dụng của việc kiềm hoá rơm làm thức ăn cho bò
- Xác định các yếu tố tác động đến khả năng áp dụng kỹ thuật này trong điều kiện nông hộ chăn nuôi bò quy mô nhỏ
2 Vật liệu và phương pháp
2.1 Thí nghiệm trình diễn
Một thí nghiệm nuôi dưỡng bê sinh trưởng được tiến hành trong vụ đông xuân với sự tham gia của 40 hộ nông dân chăn nuôi bò quy mô nhỏ ở Đông Anh (Hà Nội) Tổng số 40 bê đực (giống bò Vàng địa phương) gồm 20 con ở độ tuổi 9-12 tháng (136 ± 4,2 kg) và 20 con ở độ tuổi 13-16 tháng (169 ± 5,3 kg) được phân đều thành hai nhóm nuôi theo mô hình nhân tố 2x2 như sau:
- Hai nhóm đối chứng: được nuôi theo tập quán địa phương (gặm cỏ 4 giờ/ngày và bổ sung
rơm khô cho ăn tự do tại chuồng), không có can thiệp gì thêm ngoài việc theo dõi thí nghiệm
- Hai nhóm thí nghiệm: được nuôi tương tự như nhóm đối chứng, nhưng rơm được kiềm hoá (ủ
4% urê trong 3 tuần) trước khi cho ăn
Thí nghiệm được tiến hành trong 90 ngày sau 2 tuần tập làm quen Bê được cân vào đầu và cuối thí nghiệm, mỗi lần trong 2 ngày liên tiếp vào 7 giờ sáng Lượng thức ăn thu nhận được xác định 3 lần, mỗi lần trong 7 ngày vào giữa mỗi tháng thí nghiệm
Trang 2Số liệu được xử lý bằng chương trình Minitab (1996) Mô hình phân tích phương sai được áp dụng là mô hình nhân tố 2x2, trong đó tuổi bê và xử lý rơm là hai nhân tố cố định Phương pháp Tukey được dùng để so sánh cặp đôi giữa các giá trị trung bình
2.2 Đánh giá khả năng áp dụng kỹ thuật kiềm hoá rơm
Trong quá trình chuẩn bị thí nghiệm trình diễn, nông dân (gồm cả những người trực tiếp thí nghiệm và cả những người nuôi bò khác trong thôn) được hướng dẫn về kỹ thuật kiềm hoá rơm bằng urê Quá trình và kết quả thí nghiệm được phổ biến rộng rãi cho cộng đồng theo dõi Sau khi kết thúc thí nghiệm 9 tháng, tiến hành điều tra lại các gia đình đã tham gia thí nghiệm xem họ có tiếp tục áp dụng kỹ thuật kiềm hoá rơm không; đồng thời các hộ này được phỏng vấn theo phiếu điều tra
để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng hay không áp dụng kỹ thuật này
3 kết quả và thảo luận
3.1 Tác dụng của việc kiềm hoá rơm đến sinh tr ưởng của bê
Kết quả thí nghiệm trình bày trong bảng 1 cho thấy ở cả hai nhóm tuổi những bê được ăn rơm kiềm hoá cho tăng trọng cao hơn những bê ăn rơm không xử lý (P<0,001) Tuy bê ở nhóm tuổi lớn hơn có tốc độ tăng trọng tuyệt đối cao hơn (P=0,05), nhưng phân tích ở bảng 2 cho thấy phản ứng của hai nhóm đối với việc kiềm hoá gần như nhau (tăng 45 và 49% so với đối chứng), tương tác giữa tuổi và xử lý không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Như vậy, trong điều kiện của nông hộ chăn nuôi quy mô nhỏ kiềm hoá vẫn có tác dụng rõ rệt trong việc nâng cao giá trị dinh dưỡng của rơm, nhờ đó
mà làm tăng tốc độ sinh trưởng của bê Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây về tác dụng của việc kiềm hoá rơm bằng urê (Doyle et al., 1986; Nguyen Xuan Trach, 2000; Nguyen Xuan Trach et al., 2002)
Kết quả thu được cho thấy bê ăn được nhiều rơm kiềm hoá hơn là rơm không kiềm hoá (P<0,05) Đó là chưa nói đến tác dụng của việc kiềm hoá làm tăng tỷ lệ tiêu hoá của rơm như các nghiên cứu trước đây đã làm sáng tỏ (Nguyen Xuan Trach, 2000) Vì vậy, có thể giải thích rằng nhờ tác dụng của kiềm hoá mà bê ăn được nhiều rơm hơn với tỷ lệ tiêu hoá cao hơn nên đã có tăng trọng cao hơn bê đối chứng ăn rơm không kiềm hoá
Bảng 1 Lượng thu nhận rơm và tăng trọng của bê theo nhóm tuổi và loại rơm được nuôi
Khối lượng bê (kg)
Đầu kỳ 136,4a 168,6b
Cuối kỳ 162,9a 200,0b
176,2a 186,6b 1,8 0,000 0,000
Tăng trọng
(kg/con/ngày)
0,294a 0,349b
0,260a 0,383b 0,019 0,050 0,000
Thu nhận rơm
(kg VCK/ngày)
2,03a 2,47b
1,81a 2,69b 0,12 0,015 0,000
Ghi chú: ab Các giá trị trung bình trong cùng hàng thuộc theo nhóm tuổi hay kiềm hoá rơm có mang chữ khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức P<0,05
Trang 3Bảng 2 ảnh hưởng của kiềm hoá rơm đến lượng thu nhận rơm và tăng trọng của bê theo từng
nhóm tuổi
kiềm hoá
Rơm kiềm hoá
Rơm không kiềm hoá
Rơm kiềm hoá
SE* Mức ý nghĩa (P)
của tương tác (tuổi x kiềm hoá)
Khối lượng bê (kg)
Tăng trọng
(kg/con/ngày)
Thu nhận rơm
(kg VCK/ngày)
Ghi chú: ab Các giá trị trung bình trong cùng hàng thuộc mỗi nhóm tuổi có mang chữ khác nhau thì sai
khác có ý nghĩa thống kê ở mức P<0,05 SE* dùng để so sánh gía trị trung bình giữa lô thí nghiệm và lô
đối chứng trong cùng nhóm tuổi
3.2 Khả năng áp dụng kỹ thuật kiềm hoá rơm trong nông hộ chăn nuôi ỏ qui mô nhỏ
Lúc đầu, khi mới giới thiệu kỹ thuật kiềm hoá rơm hầu hết nông dân chăn nuôi bò nơi thí
nghiệm tỏ ra rất hào hứng và ủng hộ việc áp dụng kỹ thuật này Thế nhưng, điều tra sau khi kết thúc
thí nghiệm lại cho thấy rõ ràng rằng không có nông dân nào tiếp tục áp dụng kỹ thuật này sau đó,
mặc dù hầu hết số nông dân được hỏi đều thừa nhận kiềm hoá rơm có tác dụng tốt, kỹ thuật khá đơn
giản và có thể tự thực hiện được Điều đó có nghĩa là bản thân kỹ thuật này có hiệu quả về mặt “kỹ
thuật”, nhưng việc chuyển giao nó cho nông dân áp dụng đã không thành công Một số lý do chính
để nông dân không áp dụng kỹ thuật này được thống kê trong bảng 3
Bảng 3 Những lý do chính để người chăn nuôi quy mô nhỏ không áp dụng kỹ
thuật kiềm hoá rơm (kết quả điều tra 40 hộ)
Bất tiện (ảnh hưởng đến các công việc khác) 29 72,25
Như vậy, việc điều tra sau thí nghiệm đã phát hiện ra rằng mỗi hộ chăn nuôi có một hoặc một vài
lý do để không áp dụng kỹ thuật kiềm hoá rơm Một số hộ (30%) có khó khăn về vốn đầu tư để làm
hố ủ và mua nguyên liệu Điều này có thể do một thực tế là người tiểu nông vốn có tập quán chỉ đầu
tư tiền mua bò, ngoài ra không đầu tư gì thêm mà chỉ tận dụng nguồn lao động của gia đình để chăn
dắt và kiếm thức ăn có sẵn nhằm hạn chế chi tiêu tiền mặt hàng ngày Một số hộ khác (20%) lại có
tâm lý sợ rủi ro khi xử lý rơm cho bò ăn Mặt khác, nơi thí nghiệm là một nơi đất chật người đông
nên rất nhiều hộ (42%) khó tìm được nơi tiện lợi trong khuôn viên của họ để xử lý rơm Hơn nữa,
theo phần lớn số hộ (72,25%) thì việc áp dụng kỹ thuật kiềm hoá rơm cho 1-2 con bò ăn làm trở ngại
nhiều đến việc sắp xếp hợp lý các công việc thường nhật mà họ vốn đã quen làm Điều này một phần
cũng vì nuôi 1-2 con bò bê chỉ là một phần nhỏ trong các hoạt động kinh tế hỗn hợp của nông hộ,
Trang 4trong khi đó lợi ích kinh tế đem lại từ việc kiềm hoá rơm theo tính toán của họ (45%) là chưa rõ rệt Tóm lại, chăn nuôi với quy mô quá nhỏ có lẽ là lý do bao trùm cho việc nông dân không áp dụng kỹ thuật “mới” như kỹ thuật kiềm hoá rơm để nuôi bò
4 kết luận
Nghiên cứu này đã làm nổi bật được hai mặt trái ngược nhau của việc kiềm hoá rơm để nuôi bò trong điều kiện của nông hộ quy mô nhỏ là:
Kiềm hoá rơm bằng urê là một kỹ thuật tốt, có tác dụng làm tăng chất lượng dinh dưỡng của rơm như là một loại thức ăn thô nuôi bò sinh trưởng
Việc ứng dụng kỹ thuật kiềm hoá rơm để nuôi bò trong điều kiện chăn nuôi nông hộ quy mô quá nhỏ bị trở ngại bởi nhiều lý do kinh tế-xã hội và tâm lý khác nhau
Tài liệu tham khảo
Devendra C (1997), “Crop Residues for Feeding Animals in Asia: Technology Development and adoption in Crop/Livestock Systems” In Renard C (ed.) “Crop Residues in Sustainable Mixed Crop/Livestock Farming Systems” CAB International ICRISAT-ILRI Pp: 241-267
Doyle P T., Devendra C and Pearce G R (1986), “Rice straw as a feed for ruminants”,
International Development Program of Australian Universities and Colleges Limited (IDP) Canberra
Minitab Release 11 (1996), MINITAB User’s Guide USA
Nguyen Xuan Trach (1998), “The need for improved utilization of rice straw as feed for ruminants in Vietnam: An overview” Livestock Research for Rural Development 10 (2) http://www.cipav.org.co/lrrd/lrrd10/2/trach102.htm
Nguyen Xuan Trach (2000), “Treatment and supplementation of rice straw for ruminant feeding in Vietnam”, Doctor Scientarum Thesis Agricultural University of Norway Nguyen Xuan Trach, Magne Mo and Cu Xuan Dan (2002), “Treatment and supplementation
of rice straw for ruminant feeding”, Proceedings of the Workshop on Improved
Pp: 178-204