1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng prostaglandin (pgf2α) và progesterone kết hợp với huyết thanh ngựa chửa (htnc) khắc phục tình trạng chậm sinh ở bò lai hướng sữa docx

4 660 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 168,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nhược điểm trong sinh sản đã bộc lộ như tuổi phối giống lần đầu cao, khoảng cách giữa hai lần đẻ dài, các bệnh sinh sản như u nang buồng trứng, thể vàng tồn lưu, viêm nhiễm đường

Trang 1

Sử dụng prostaglandin (pGF 2α) và progesterone

kết hợp với huyết thanh ngựa chửa (HTNC) khắc phục tình

trạng chậm sinh ở bò lai hướng sữa Use of prostaglandin (PGF 2α) or progesterone plus PMSG to treat delayed

resumption of estrus in post-partum crossbred dairy cows

Nguyễn Thị Tú và Đặng Thái Hải

Summary

An experiment was carried out to examine effects of treatment using either prostaglandin or progesterone plus PMSG on return to estrus and conception rate of postpartum crossbred dairy cows It was found that the treatment regimes improved estrus and conception rates Most cows showed estrus within 48-72 hours after treatment Both treatment regimes resulted in high economic benefits

Keywords: Dairy cattle, prostaglandin, progesterone, PMSG, estrus, conception

1 đặt vấn đề

Kết quả khảo sát trên đàn bò lai hướng

sữa tại Ba Vì cho thấy các chỉ tiêu về sinh

sản không ổn định Một số nhược điểm trong

sinh sản đã bộc lộ như tuổi phối giống lần

đầu cao, khoảng cách giữa hai lần đẻ dài, các

bệnh sinh sản như u nang buồng trứng, thể

vàng tồn lưu, viêm nhiễm đường sinh dục

còn nhiều… dẫn đến tỷ lệ đẻ toàn đoàn thấp,

tốc độ phát triển đàn chậm làm ảnh hưởng

đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa

Bên cạnh dinh dưỡng kém, khuyết tật bẩm

sinh, thiếu sót trong công tác quản lý, mùa

vụ, còn có sự mất cân bằng về hormon sinh

dục trong cơ thể Vì vậy chúng tôi tiến hành

thử nghiệm điều trị một số hiện tượng rối

loạn sinh sản bằng prostaglandin (PGF2α) và

progesterone kết hợp với huyết thanh ngựa

chửa (HTNC) nhằm khắc phục tình trạng

chậm sinh ở bò lai hướng sữa

2 đối tượng, nội dung và phương

pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài thực hiện trên đàn bò cái lai

hướng sữa (HF x Lai Sind) F1 và F2 nuôi tại

Trung tâm Nghiên cứu Bò và đồng cỏ Ba Vì

(Hà Tây), một số bò của hợp tác xã Hài Hoà

và vùng phụ cận Trung tâm

2.2 Nội dung nghiên cứu

Điều tra tỷ lệ chậm sinh và vô sinh của

đàn bò lai

thích động dục đối với bò cái có thể vàng tồn lưu bệnh lý

Sử dụng progesterone kết hợp với huyết thanh ngựa chửa (HTNC) để kích thích động dục đối với bò cái tơ chậm động dục, bò cái sinh sản sau khi đẻ 5 tháng không có thể vàng tồn lưu nhưng cũng không động dục

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Để đánh giá tỷ lệ chậm sinh và vô sinh, chúng tôi tiến hành điều tra qua sổ sách ghi chép của phòng kỹ thuật, phỏng vấn trực tiếp các hộ chăn nuôi, đồng thời khám trực tiếp một số bò

Lan) cho những bò có thể năng tồn lưu bệnh

lý Liều dùng 25 mg/con, tiêm dưới da Sau 2-4 ngày bò động dục và phối giống Nếu

bò không thụ thai, ở chu kỳ kế tiếp tiếp tục theo dõi động dục và phối giống ở chu kỳ sau Tỷ lệ thụ thai được tính ở cả 2 chu kỳ

Sử dụng progesterone kết hợp với HTNC cho những bò cái tơ chậm động dục,

bò sinh sản 5-6 tháng sau khi đẻ chưa động dục, không có thể vàng tồn lưu Bò được

Trang 2

tiêm vào các ngày 1, 3, 5 với liều tương ứng

25, 50 và 75 mg, ngày thứ 7 tiêm HTNC với

liều 6-8 đvc/kg thể trọng Ngày thứ 9 và 10

theo dõi động dục và phối giống

Tất cả những bò động dục, đều được

thụ tinh nhân tạo 1 lần (phối đơn) bằng tinh

cọng rạ, thời gian phối 14-16h kể từ khi

xuất hiện động dục

Xác định bò có thai bằng phương pháp

khám qua trực tràng sau khi phối 2-3 tháng

3 kết quả và thảo luận

3.1 Tỷ lệ chậm sinh và vô sinh của bò lai

hướng sữa nuôi tại Ba Vì

Hiện tượng chậm sinh, đặc biệt là vô

sinh ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất

sinh sản của đàn bò Kết quả điều tra về các

chỉ tiêu này trên đàn bò cái lai hướng sữa

nuôi tại BaVì thể hiện ở bảng 1

Qua bảng 1 chúng tôi thấy trong số 303

bò ở độ tuổi sinh sản được điều tra có tới 61

trường hợp chậm sinh, chiếm 20,13%, trong

đó đàn bò vùng phụ cận trung tâm chiếm tỷ

lệ cao nhất 27,41% Tỷ lệ vô sinh tạm thời ở

cả 3 đàn tương đương nhau Tỷ lệ vô sinh

vĩnh viễn vẫn còn xuất hiện, chiếm 1,98%;

đặc biệt ở đàn bò của trung tâm, tỷ lệ này

lên tới 2,53%

chậm động dục do thể vàng tồn lưu

Đối với những bò cái chậm động dục,

chúng tôi tiến hành khám và chẩn đoán

những bò có thể vàng tồn lưu Để làm thoái

hoá những bò có thể vàng tồn lưu bệnh lý,

chúng tôi sử dụng chế phẩm prostaglandin

Kết quả tác dụng của prostaglandin được

thể hiện ở bảng 2

tiêm cho bò có thể vàng tồn lưu bệnh lý thì

có 83,3% số bò động dục ở nhóm F1 và

87,5% ở nhóm F2 với tỷ lệ bò phối có chửa

ở hai nhóm F1 và F2 đạt tương ứng là 60,0

và 71,4% ở cả hai nhóm, bò đều dộng dục

nhóm F1 đạt tỷ lệ 70,0% và F2 đạt 71,4%

Tỷ lệ thụ thai của những bò động dục trong khoảng 48-72h ở nhóm F1 cao hơn ở nhóm F2, tương ứng là 83,3 và 60,0% (α<0,01) ở giai đoạn sau 72h, nhóm F2 có tỷ lệ thụ thai cao hơn F1: 20,0 và 16,7% với α<0,05

Kết quả nghiên cứu này tương đương với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tấn Anh và CS (1995) Các tác giả này thông

hướng sữa tại Hà Nội, tỷ lệ bò động dục đạt 82% và tỷ lệ thụ thai đạt 65,8% Hoàng Kim Giao và CS (1999) cũng cho biết tỷ lệ

85,7% và tỷ lệ thụ thai đạt 68,6%

3.3 Kết quả gây động dục của

progesteron kết hợp với HTNC trên bò chậm sinh

Kết quả tác dụng của HTNC và progesteron trên bò chậm sinh được thể hiện

ở bảng 3

Bảng 3 cho thấy : ở nhóm F1, có 7 bò

được tiêm trong đó có 5 bò động dục, chiếm

tỷ lệ 71,4% và tỷ lệ thụ thai đạt 80,0% ở nhóm F2, tỷ lệ động dục chỉ đạt 66,7% và

tỷ lệ thụ thai 75,0% Sự sai khác giữa 2 nhóm là đáng kể (P<0,05) ở cả 2 nhóm, bò

đều động dục tập trung trong khoảng 48-72h sau khi tiêm progesteron và HTNC Tỷ

lệ thụ thai của bò động dục trong thời gian 48-72h ở nhóm F1 (75,0%) cao hơn nhóm F2 (66,7%) Sau 72h tỷ lệ thụ thai nhóm F2 cao hơn F1 Đây là điểm cần chú ý trong quá trình phối giống Tỷ lệ bò động dục trước 48h chỉ đạt 20% ở nhóm F1, còn ở nhóm F2 không có con nào

Hoàng Kim Giao và CS (1997) cũng thông báo rằng tỷ lệ động dục của bò khi

được tiêm progesteron kết hợp với HTNC

đạt 80-90%; tỷ lệ có chửa khoảng 50-70%

3.4 Giá thành của các biện pháp can

thiệp

Các biện pháp can thiệp đều đưa đến kết quả bò động dục và đạt tỷ lệ thụ thai khá cao, tỷ lệ thụ thai khá cao, song có

Trang 3

được người chăn nuôi chấp nhận hay

không còn phụ thuộc rất nhiều vào giá

thành và hiệu quả kinh tế của từng biện

pháp Vấn đề này đang được nhiều người

chăn nuôi quan tâm Xuất phát từ thực tế

đó, chúng tôi tính toán giá thành của các biện pháp can thiệp

Kết quả được thể hiện ở bảng 4

Bảng 1 Tỷ lệ chậm sinh và vô sinh của đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì

Đàn bò

n (con) Số lượng

(con)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (con)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (con)

Tỷ lệ (%)

Bảng 2 Kết quả gây động dục của prostaglandin trên bò lai có thể vàng tồn lưu

F1 F2

Số bò động dục

Phối có chửa Số bò động dục Phối có chửa

(con)

SL (con)

Tỷ lệ (%)

SL (con)

Tỷ lệ (%)

n (con)

SL (con)

Tỷ lệ (%)

SL (con)

Tỷ lệ (%)

Bảng 3 Kết quả gây động dục của progesteron kết hợp với HTNC

F1 F2

Số bò động

Số bò động

lượng (con)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (con)

Tỷ lệ (%)

n (con) Số lượng (con)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (con)

Tỷ lệ (%)

Bảng 4 Giá thành của các biện pháp can thiệp bò chậm sinh

(đồng)

Hệ số phối giống

Tiền công (đồng)

Giá thành (đồng)

Trang 4

Với giá thành 112.000 đồng ở biện

pháp dùng progesteron kết hợp HTNC và

tế, người chăn nuôi có thể chấp nhận được

do hiệu quả kinh tế lớn hơn nhiều lần nếu

bò đẻ sớm hơn Như vậy số lứa đẻ/1 bò sữa

và số chu kỳ cho sữa/1 bò sữa sẽ tăng lên,

dẫn đến chi phí cho chăm sóc, thức ăn và tỷ

lệ hao hụt ở bò mẹ giảm Các biện pháp kỹ

thuật khắc phục chậm sinh trong nghiên cứu

đã đưa lại hiệu quả kinh tế cho người chăn

nuôi bò lai hướng sữa

4 kết luận

Đàn bò của Trung tâm, của một số hộ

chăn nuôi ở HTX và vùng phụ cận có tỷ lệ

chậm sinh và vô sinh tạm thời tương đối cao

(20,13% và 6,60%) Tỷ lệ bò vô sinh vĩnh

viễn vẫn còn, chiếm tỷ lệ 1,98%

lưu bệnh lý đã có 85,0% bò động dục và tỷ lệ

thụ thai đạt 64,7% ở cả hai nhóm F1 và F2,

bò đều động dục tập trung vào 48-72 h sau

khi tiêm

Khi tiêm progesteron kết hợp với HTNC

cho bò cái chậm sinh, có 69,2% bò động dục

và tỷ lệ thụ thai đạt 77,8% Bò động dục chủ

yếu vào 48-72h sau khi tiêm HTNC

So với lợi ích bò sữa mang lại thì chi phí cho một biện pháp can thiệp khoảng 113.000-158.000 đồng là chấp nhận được

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Thiện, Lưu Kỷ, Trịnh Quang Phong, Đào Đức Thà, (1995)

"Biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của

đàn bò cái" Tuyển tập công trình nghiên

cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi (1969-1995) Nxb Nông nghiệp Hà Nội Trang

325-329

Nguyễn Thanh Dương, Hoàng Kim Giao, Lưu Công Khánh, (1995) "Một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản của

bò" Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa

học kỹ thuật chăn nuôi Viện Chăn nuôi

quốc gia Nxb Nông nghiệp Hà Nội Trang 246-250

Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương,

(1997) Công nghệ sinh sản trong chăn

nuôi bò Nxb Nông nghiệp Hà Nội

Tăng Xuân Lưu, Cù Xuân Dần, Hoàng Kim Giao, Nguyễn Kim Ninh, Lưu Công Khánh (2001) "Nghiên cứu và ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò lai

hướng sữa" Báo cáo khoa học Chăn

nuôi Thú y Bộ NN & PTNT tháng

4/2001 (Trang 32-40)

Ngày đăng: 03/04/2014, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tỷ lệ chậm sinh và vô sinh của đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì - Sử dụng prostaglandin (pgf2α) và progesterone kết hợp với huyết thanh ngựa chửa (htnc) khắc phục tình trạng chậm sinh ở bò lai hướng sữa docx
Bảng 1. Tỷ lệ chậm sinh và vô sinh của đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w