1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập

114 1,3K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập

Trang 1

MỤC LỤC

Doanh nghiệp có vốn FDI và cơ chế tài chính đối với doanh nghiệp có

1.1 vai trò Đầu tư trực tiếp nước ngoài và những vấn đề chung về doanh

1.1.3 Những vấn đề chung về doanh nghiệp có vốn FDI 11 1.1.4 Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn FDI 19

1.2 Cơ chế tài chính đối với doanh nghiệp có vốn FDI trong điều kiện cạnh

1.2.1 Nhận thức chung về cơ chế tài chính doanh nghiệp 20 1.2.2 Nội dung cơ bản của cơ chế tài chính doanh nghiệp có vốn FDI 23 1.2.3 Vai trò của cơ chế tài chính đối với việc phát triển doanh nghiệp có

Thực trạng cơ chế tài chính đối với doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt Nam

2.1 Thực trạng doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt Nam 35

2.1.2 Đánh giá chung về thực trạng doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt Nam.

2.3 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về tài chính đối với các doanh nghiệp

2.3.1 Kinh nghiệm của các nước công nghiệp mới châu á 55

2.3.3 Kinh nghiệm một số quốc gia thuộc khối ASEAN 58 2.3.4 Những bài học rút ra từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước 61

Giải pháp hoàn thiện cơ chế tài Chính đối với các doanh nghiệp có vốn

3.1 Xu hướng vận động, quan điểm phát triển các doanh nghiệp có vốn

3.1.1 Xu hướng vận động của các doanh nghiệp có vốn FDI 63 3.1.2 Tác động của cạnh tranh và hội nhập đối với doanh nghiệp có vốn FDI

65

Trang 2

3.1.3 Các quan điểm phát triển doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt nam 67

3.2 Quan điểm hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn

3.3 Giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt nam trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập 73

3.3.1 Cải thiện tổng thể môi trường đầu tư kinh doanh thúc đẩy doanh

3.3.2 Giải pháp tăng cường năng lực tài chính, nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp có vốn FDI trong xu thế hội nhập 76 3.3.3 Hoàn thiện chính sách thuế phù hợp tiến trình hội nhập thúc đẩy

3.3.4 Hoàn thiện thị trường ngoại hối theo hướng toàn diện, hiện đại phục

vụ đắc lực cho hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI 85 3.3.5 Hoàn thiện chính sách tín dụng để phát triển doanh nghiệp có vốn FDI

89

3.4 Một số điều kiện cần thiết để thực hiện các giải pháp 92

3.4.1 Sự ổn định chính trị, ổn định kinh tế - xã hội và năng lực tổ chức quản

3.4.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật, kết hợp đồng bộ các giải pháp tài

3.4.3 Đổi mới công tác quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn FDI.

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số hiệu Tên bảng Trang

2.1 Số lượng doanh nghiệp và lao động năm

1995-2002

35

2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư 36 2.3 Tốc độ tăng vốn của các doanh nghiệp 36 2.4 So sánh một số chi phí sản xuất tại một số thành

phố trong khu vực và Việt Nam

42

2.5 So sánh chi phí bưu chính viễn thông giữa Việt

Nam và một số nước trong khu vực.

42

Trang 4

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu dài, bìnhđẳng với các thành phần kinh tế khác Qua hơn 15 năm kể từ khi có Luật đầu tưtrực tiếp nước ngoài tại Việt nam năm 1987, các doanh nghiệp có vốn FDI đãhình thành và không ngừng phát triển mạnh mẽ, có mặt trên khắp các tỉnh thànhtrong cả nước, hoạt động trong hầu hết các ngành kinh tế quốc dân Doanhnghiệp có vốn FDI được coi là nhân tố quan trọng góp phần tăng trưởng kinh

tế, nâng cao tính cạnh tranh cho thị trường trong nước, làm nên sức mạnh tổnghợp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phát triển đất nước, tạođiều kiện cho Việt nam hoà nhập vào nền kinh tế thế giới

Cùng với quá trình phát triển đó, cơ chế tài chính đối với doanh nghiệp

có vốn FDI đã hình thành và từng bước được cải thiện, có tác động tích cực đếnquá trình phát triển của các doanh nghiệp có vốn FDI Tuy nhiên, thực tế cònphát sinh nhiều bất cập trong công tác quản lý nói chung, quản lý tài chính nóiriêng làm hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp có vốn FDI Hiện tại môitrường đầu tư ở nước ta còn chưa thực sự hấp dẫn, môi trường kinh tế và pháp

lý đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đồng bộ Cơ cấu về đầu tư trực tiếpnước ngoài còn có mặt bất hợp lý và hiệu quả tổng thể về kinh tế - xã hội màcác doanh nghiệp có vốn FDI mang lại chưa cao, Việt nam đang cam kết mởcửa hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng Sự phát triểnmạnh mẽ của các doanh nghiệp có vốn FDI sẽ tạo động lực tốt thúc đẩy pháttriển doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế khác, nhằm đổi mới công nghệmới, tăng năng suất lao động, tăng năng lực quản lý điều hành, tạo thế cạnh

Trang 5

tranh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt nam hội nhập kinh tế khu vực vàthế giới Đây là một vấn đề thực tế đặt ra hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải cómột cơ chế quản lý nhà nước về tài chính cho các doanh nghiệp có vốn FDI,nhờ cơ chế tài chính để từ đó tổ chức quản lý, định hướng, thúc đẩy sự pháttriển của các doanh nghiệp này.

Với ý nghĩa đó, tác giả tập trung nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập", góp phần giải quyết những vấn đề về lý luận

và thực tiễn nêu trên

2. Mục đích nghiên cứu

- Góp phần làm rõ lý luận về vị trí vai trò của các doanh nghiệp có vốnFDI trong nền kinh tế thị trường tính cạnh tranh cao và trong điều kiện hộinhập kinh tế khu vực và thế giới;

- Phân tích, làm rõ lý luận về cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệpnói chung và doanh nghiệp có vốn FDI riêng;

- Đánh giá thực trạng tình hình các doanh nghiệp có vốn FDI, cơ chế tàichính các doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt nam trong thời gian qua và kháiquát những bài học kinh nghiệm về quản lý tài chính các doanh nghiệp có vốnFDI của một số nước, từ đó góp phần cho việc đề xuất các định hướng, cácquan điểm đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính để phát triển cácdoanh nghiệp có vốn FDI trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập

3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng chính của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận vàthực tiễn của cơ chế tài chính và các giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính đốivới các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt nam trong điều kiện cạnh tranh và hộinhập

Trang 6

Cơ chế tài chính là một vấn đề rộng lớn, bao quát nhiều lĩnh vực, nhiềukhâu trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, phạm vi nghiên cứu của luậnvăn chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu cơ chế tài chính doanh nghiệp có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài tại Việt nam, đó là: cơ chế huy động và tạo lập vốn, cơ chếquản lý sử dụng vốn, cơ chế phân phối kết quả kinh doanh, cơ chế giám sát tàichính, cơ chế cho việc sáp nhập, giải thể, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Tậptrung nghiên cứu tình hình của Việt Nam, có nghiên cứu kinh nghiệm một sốnước ở châu Á và các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính các doanhnghiệp có vốn FDI ở Việt nam trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.

Phương pháp cơ bản và chủ yếu được vận dụng để nghiên cứu đề tài này

là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử.Đồng thời kết hợp với các phương pháp cụ thể khác như: thống kê so sánh,tổng hợp phân tích các dữ liệu thực tế Ngoài ra còn vận dụng các quan điểm lýluận của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển nền kinh tế trong sựnghiệp đổi mới

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.

- Hệ thống hoá một số vấn đề về các doanh nghiệp có vốn FDI và cơ chếtài chính đối với các doanh nghiệp có vốn FDI

- Khẳng định vai trò quan trọng của các doanh nghiệp có vốn FDI trongmục tiêu phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta và khẳng định vaitrò quan trọng của cơ chế tài chính nhằm phát triển các doanh nghiệp có vốnFDI

- Phân tích đánh giá thực trạng về cơ chế tài chính các doanh nghiệp cóvốn FDI trong thời gian qua, tạo tiền đề cho các giải pháp nhằm hoàn thiện cơchế tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt nam

- Đề xuất một số quan điểm định hướng phát triển các doanh nghiệp cóvốn FDI ở Việt nam khi hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Trang 7

- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tàichính các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt nam trong điều kiện cạnh tranh vàhội nhập.

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được trình bày thành 3 chương:

Chương 1: Doanh nghiệp có vốn FDI và cơ chế tài chính đối với các

doanh nghiệp có vốn FDI trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập

Chương 2: Thực trạng cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn

FDI ở Việt nam và kinh nghiệm một số nước trên thế giới

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp

có vốn FDI trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập

Trang 8

Chương 1DOANH NGHIỆP CÓ VỐN FDI VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN FDI TRONG ĐIỀU KIỆN CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP

1.1 VAI TRÒ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ra đời và phát triển là một tất yếu của quátrình quốc tế hoá kinh tế - xã hội và phân công lao động quốc tế FDI là loại đầu tư

mà các nhà tư bản nước ngoài bỏ vốn đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý điềuhành, tổ chức sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận và hoàn toàn tự chịu tráchnhiệm về vốn và kết quả kinh doanh Loại hình đầu tư này đã xuất hiện vào thời kỳđầu của chủ nghĩa tư bản– thời kỳ mà các nước tư bản có thuộc địa ngoài phạm vilãnh thổ của mình

Từ những năm cuối thập niên 80 thế kỷ 20 đến nay, sự vận động và các điềukiện của thế giới có những chuyển biến cơ bản, sâu sắc (sự cách biệt giữa hai hệthống xã hội đã giảm, kinh tế của hầu hết các nước đều theo thể chế thị trường, xuhướng khu vực hoá, toàn cầu hoá các hoạt động kinh tế đang trở thành phổ biến vàdiễn ra với tốc độ nhanh, khoa học, kỹ thuật, công nghệ đạt tới trình độ phát triểncao, …), FDI không những được sử dụng như một trong những hình thức hợp táckinh tế, như phương tiện thực hiện phân công lao động Quốc tế, mà còn được xem

là điều kiện quyết định sự phát triển của kinh tế thế giới

Theo Hiệp hội luật Quốc tế (1996): FDI là sự di chuyển vốn từ nước củangười đầu tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinh

Trang 9

doanh hoặc dịch vụ Theo Luật ĐTNN tại Việt nam: ĐTNN là việc các tổ chức và

cá nhân trực tiếp nước ngoài đưa vào Việt nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất

kỳ tài sản nào được chính phủ Việt nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ

sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hay xí nghiệp 100% vốn nướcngoài

Từ các góc độ nhìn nhận khác nhau về FDI, ta có thể rút ra các đặc trưngchung về FDI như sau: Đó là sự di chuyển vốn từ nước này sang nước khác; vốnđược huy động vào các mục đích thực hiện các hoạt động kinh tế và kinh doanh

Quan hệ kinh tế quốc tế đã hình thành nên các dòng lưu chuyển vốn: dòng

từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển, dòng vốn lưu chuyển trongnội bộ các nước phát triển… Sự lưu chuyển của các dòng vốn diễn ra dưới nhiềuhình thức như: tài trợ phát triển chính thức (gồm viện trợ phát triển chính thức –ODA và các hình thức khác), nguồn vay tư nhân (tín dụng từ các ngân hàng thươngmại) và FDI Mỗi nguồn vốn có đặc điểm riêng của nó:

- Nguồn tài trợ phát triển chính thức là nguồn vốn do các tổ chức quốc tế,chính phủ (hoặc đại diện chính phủ) cung cấp Loại vốn này có đặc điểm là có sự ưuđãi nhất định về lãi suất, khối lượng cho vay lớn, thời hạn vay tương đối dài

- Nguồn vay tư nhân: Đây là nguồn vốn thường không có những điều kiệnràng buộc như ODA, tuy nhiên thủ tục vay loại vốn này rất khắt khe, lãi suất cao,thời hạn trả nợ nghiêm ngặt

Nhìn chung sử dụng hai loại nguồn vốn này đều để lại cho nền kinh tế củanước đi vay gánh nặng nợ nần – một trong những yếu tố chứa đựng tiềm ẩn nguy cơdẫn đến khủng hoảng, nhất là khủng hoảng tài chính tiền tệ

- Nguồn vốn FDI: Trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, FDI là loại vốn

có nhiều ưu điểm hơn so với các loại vốn kể trên, nhất là đối với các nước đang pháttriển, khi khả năng tổ chức sản xuất đạt hiệu quả thấp thì ưu điểm đó càng rõ rệt

Về bản chất, FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư vàmột bên khác là nước nhận đầu tư

Trang 10

Đối với nhà đầu tư, thông qua FDI để duy trì và nâng cao hiệu quả sản xuất

của chủ đầu tư (vốn, kỹ thuật, sản phẩm,…), khai thác các nguồn nhân lực và xâmnhập thị trường của nước nhận đầu tư, tranh thủ tận dụng chính sách khuyến khíchcủa nước nhận đầu tư, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp để thực hiện các ý đồkinh tế (hoặc phi kinh tế) mà các hoạt động khác không thực hiện được

Đối với nước nhận đầu tư, trước hết đó là những nước đang có một số lợi thế

mà họ chưa có điều kiện khai thác hoặc các nhà đầu tư không có, đó là các nước cónguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ,thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, thiếu công nghệ tiên tiến và ít có khả năng tổ chức … sốnày phần lớn là các nước đang phát triển

FDI được đánh giá như là lối thoát cho các nước nghèo, với lý thuyết “cáivòng luẩn quẩn” và “cú hích” từ bên ngoài, P.A.Samuelson nhấn mạnh rằng: đa sốcác nước đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp, chỉ đủ sống ở mức tốithiểu, do khả năng tích luỹ rất hạn chế Để tự thân vận động thì các nước nghèo rấtkhó khăn để thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ

1.1.2 Vai trò của FDI

Mặc dù còn nhiều tranh luận, còn nhiều ý kiến khác nhau về vai trò, về mặt tíchcực, tiêu cực… của FDI đối với nước nhận đầu tư, nhưng chỉ điểm qua nhu cầu, quatrào lưu cạnh tranh thu hút cũng đủ cho ta khẳng định rằng FDI hiện nay đối với cácnước nhận đầu tư, có tác dụng tích cực là chủ yếu, đa phần các dự án FDI khi thựchiện đều đưa lại lợi ích cho nước nhận đầu tư Đối với nhiều nước, FDI thực sựđóng vai trò là điều kiện, là cơ hội, là cửa ngõ giúp thoát khỏi tình trạng của mộtnước nghèo, bước vào quĩ đạo của sự phát triển chung trong quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế Vai trò của FDI được thể hiện qua các điểm sau:

- FDI có khả năng giải quyết có hiệu quả những khó khăn về vốn cho nền kinh

tế Đối với nước nghèo, vốn được xem là yếu tố cơ bản, là điều kiện khởi đầu quantrọng để phát triển kinh tế, trong khi đó các nguồn vốn khác từ bên ngoài (ODA,vay thương mại ) bị ràng bởi nhiều điều kiện khó khăn (như đã phân tích ở trên)

Trang 11

- Thông qua các dự án FDI, nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp nhận những kỹthuật mới, những công nghệ tiên tiến, góp phần cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng, pháttriển công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói chung, từ đó củng cố năng suấtchung của toàn nền kinh tế, đồng thời tạo ra các điều kiện kinh tế – kỹ thuật choviệc thực hiện việc cải biến cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp,tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ…

- Các dự án FDI có thể thu hút một lượng lớn lao động trực tiếp và tạo ranhiều việc làm cho các dịch vụ tương ứng Thông qua thực hiện các dự án FDI cóthể làm cho đội ngũ cán bộ của nước nhận đầu trưởng thành hơn về năng lực quản

lý phù hợp với nền sản xuất hiện đại, hình thành một lực lượng công nhân lànhnghề…

- FDI có các điều kiện cần thiết cho việc tạo lập một hệ thống thị trường phùhợp với một nền sản xuất hiện đại, tiếp cận thị trường mới, tăng cường quan hệ hợptác kinh tế quốc tế…Hình thành được những khu công nghiệp, khu chế xuất…

FDI có vai trò rất lớn trong quá trình công nghiệp hoá của các nước đangphát triển Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thành công khi thực hiệncông nghiệp hoá của các nước đang phát triển hiện nay, trong đó có 4 yếu tố cơ bảnnhất được xem là điều kiện quyết định khả năng thực hiện công nghiệp hoá là côngnghệ, kỹ thuật, nguồn nhân lực, cải cách thể chế (thị trường, hội nhập,…) FDI làloại hình hoạt động kinh tế hội tụ tương đối đầy đủ tiềm năng của 4 yếu tố trên

1.1.3 Những vấn đề chung về doanh nghiệp có vốn FDI

1.1.3.1 Khái niệm doanh nghiệp có vốn FDI

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch

ổn định, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm thực hiện cáchoạt động kinh doanh với mục đích sinh lời (hoặc công ích)

Doanh nghiệp có đặc điểm là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân, mụcđích hoạt động kinh doanh là thu lợi nhuận (hoặc công ích) Các doanh nghiệp ở

Trang 12

Việt nam được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luậtdoanh nghiệp, Luật ĐTNN tại Việt nam, Luật hợp tác xã.

Trong nền KTTT các loại hình doanh nghiệp rất đa dạng và bao gồm rấtnhiều loại, trong đó có doanh nghiệp có vốn FDI

Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm doanh nghiệp có vốn FDI:

- Doanh nghiệp có vốn FDI là những loại hình doanh nghiệp có vốn của bênnước ngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài Doanh nghiệp này hoạtđộng theo luật pháp của nước sở tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằmthu được lợi ích cho tất cả các bên

- Doanh nghiệp có vốn FDI là những tổ chức quốc tế có tư cách pháp nhân,

có vốn của bên nước ngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài để tiếnhành các hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi ích

- Doanh nghiệp có vốn FDI là những pháp nhân mới được thành lập tại nướcnhận đầu tư Trong đó, các đối tác có quốc tịch khác nhau và bên nước ngoài có tỷ

lệ góp vốn tối thiểu để trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp

Tóm lại: Doanh nghiệp có vốn FDI là một thuật ngữ chỉ tất cả các loại hìnhdoanh nghiệp có tư cách pháp nhân tại nước tiếp nhận đầu tư, bên nước ngoài có tỷ

lệ góp vốn tối thiểu đủ để tham gia quản lý trực tiếp hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp nhằm thu được lợi ích cho tất cả các bên đầu tư

1.1.3.2 Các đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp có vốn FDI

Doanh nghiệp có vốn FDI là một phạm trù chỉ tất cả các loại hình doanhnghiệp có vốn bên nước ngoài ở nước tiếp nhận đầu tư Tuy doanh nghiệp có vốnFDI bao gồm nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau nhưng chúng đều có các đặcđiểm cơ bản sau đây:

- Doanh nghiệp có vốn FDI là những tổ chức kinh doanh quốc tế và là nhữngpháp nhân của nước nhận đầu tư, hoạt động theo luật pháp nước nhận đầu tư, cáchiệp định và các điều ước quốc tế

Trang 13

- Các doanh nghiệp có vốn FDI không chỉ gắn liền với việc di chuyển vốn

mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệmquản lý, tạo thị trường mới cho cả hai bên đầu tư và nhận đầu tư

- Quá trình thành lập và điều hành doanh nghiệp là trách nhiệm của các bên.Hoạt động của doanh nghiệp có vốn FDI thường gắn liền với hoạt động kinh doanhquốc tế của các công ty đa quốc gia Trong các doanh nghiệp có vốn FDI có sự quản

lý trực tiếp của nước ngoài Quyền quản lý của các bên phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn.Các nhà đầu tư phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu theo qui định của từng quốcgia Luật ĐTNN tại Việt nam qui định nhà ĐTNN phải góp vốn tối thiểu bằng 30%vốn pháp định của dự án

- Lợi nhuận của các nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh

và được phân chia cho các nhà đầu tư theo tỷ lệ góp vốn sau khi nộp thuế và trả cổtức cổ phần

Trên đây là những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp có vốn FDI mà cácdoanh nghiệp trong nước không có Nhờ các đặc điểm này mà chúng ta có thể nhậndiện được doanh nghiệp có vốn FDI dù chúng hoạt động ở bất cứ quốc gia nào trênthế giới

1.1.3.3 Phân loại doanh nghiệp có vốn FDI.

Doanh nghiệp có vốn FDI bao gồm rất nhiều loại doanh nghiệp, hoạt độngtrong các lĩnh vực khác nhau, có các đối tác khác nhau, quy mô khác nhau, hìnhthức khác nhau Để tiện cho việc nghiên cứu và quản lý các doanh nghiệp này, cầnphải tiến hành phân loại chúng

Thứ nhất, căn cứ vào loại hình pháp lý của doanh nghiệp có vốn FDI: có thể chia các doanh nghiệp có vốn FDI làm 3 loại:

Công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn FDI: là một loại hình công ty đối

vốn, gồm các thành viên liên kết với nhau để kinh doanh trên cơ sở bản điều lệ công

ty, trong đó các thành viên thoả thuận hình thức góp vốn, phân chia kết quả kinhdoanh và quyền quản lý giữa các thành viên

Trang 14

Công ty đối vốn là công ty trong đó các thành viên cùng góp vốn để tiếnhành hoạt động kinh doanh và mỗi thành viên chỉ chịu trách nhiệm trong phần vốncủa mình đối các khoản nợ của công ty, tức là chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn.

Công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn FDI có đặc điểm giống với công tytrách nhiệm hữu hạn nói chung như: nguồn vốn của công ty là do các thành viênđóng góp một cách tự nguyện và phần của mỗi thành viên không nhất thiết phảibằng nhau Các thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn FDI phải cóquốc tịch khác nhau Các thành viên có thể góp vốn bằng tiền, bất động sản hoặccông nghệ Phần góp vốn của tất cả các thành viên phải được góp đủ ngay khithành lập công ty và được ghi rõ trong điều lệ công ty Công ty chỉ chịu trách nhiệmtrên phần vốn mà các thành viên đã đóng góp và không cho phép phát hành bất kỳmột loại chứng khoán nào Việc chuyển nhượng vốn giữa các thành viên diễn ra tự

do, nhưng nếu một thành viên muốn chuyển nhượng vốn cho một người bên ngoàicông ty thì ít nhất phải có số thành viên đại diện cho 3/4 vốn điều lệ của công tychấp nhận Công ty có thể tăng vốn điều lệ bằng cách gọi thêm vốn góp trong cácthành viên, kết nạp thêm thành viên mới hay tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại theoquyết định của HĐQT

Hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ thích hợp với giai đoạn đầu tronghoạt động doanh nghiệp và thường được áp dụng ở những nước thiếu vốn và ít kinhnghiệm trong quản lý kinh doanh

Công ty cổ phần có vốn FDI: Là một loại công ty đối vốn, trong đó các

thành viên (cổ đông) có cổ phiếu và chỉ chịu trách nhiệm đến hết giá trị những cổphần mà mình nắm giữ

Theo Nghị định của Chính phủ số 38/2003/NĐ-CP, ngày 15/4/2003, Công ty

cổ phần có vốn FDI là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phầnbằng nhau gọi là “cổ phần”; trong đó các cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giữ ítnhất 30% vốn điều lệ

Trang 15

Công ty cổ phần có vốn FDI có các đặc điểm cơ bản giống với công ty cổphần nói chung: vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổphần Các cổ phần được trao đổi trên thị trường chứng khoán gọi là cổ phiếu Công

ty cổ phần được phát hành các loại cổ phiếu, trái phiếu Số cổ phiếu tối thiểu mà cácthành viên HĐQT phải có không được chuyển nhượng trong suốt thời gian tại chức

và trong thời hạn 2 năm kể từ ngày thôi giữ chức thành viên HĐQT Đại hội đồng là

cơ quan quyết định cao nhất của công ty

Công ty sở hữu hoàn toàn và công ty sở hữu chung: Công ty sở hữu hoàn

toàn là công ty có trên 95% vốn thuộc quyền sở hữu của một thành viên nào đó.Còn ngược lại thì được coi là công ty sở hữu chung

Thứ hai, căn cứ vào tỷ trọng vốn góp của bên nước ngoài vào vốn pháp định, doanh nghiệp có vốn FDI được chia ra làm hai loại cơ bản:

Doanh nghiệp liên doanh (DNLD):

Một số quan điểm về cách tiếp cận DNLD:

- Quan điểm 1: Luật kinh doanh của Hoa Kỳ định nghĩa như sau: “Liêndoanh là một quan hệ bạn hàng trong đó hai hoặc nhiều chủ thể cùng đóng góp laođộng và tài sản để thực hiện một mục tiêu đặt ra và cùng chia sẻ các khoản lợinhuận và rủi ro ngang nhau hoặc do các bên thoả thuận” Quan điểm này chưa chỉ

ra tính chất pháp lý và tính chất quốc tế của DNLD

- Quan điểm 2: “Liên doanh là một tổ chức kinh doanh hợp nhất hoặc liênkết, được thành lập ở nước sở tại và hoạt động theo luật pháp nước sở tại, trong đócác bên tham gia có quốc tịch khác nhau (OECD) Quan điểm này chưa chỉ ra đượcbản chất kinh doanh của DNLD

- Quan điểm 3: Theo Luật ĐTNN tại Việt Nam, DNLD là doanh nghiệp dohai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liêndoanh, hoặc hiệp định ký giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chínhphủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàihợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với

Trang 16

nhà ĐTNN trên cơ sở hợp đồng liên doanh Khái niệm này nhấn mạnh khía cạnhpháp lý của liên doanh và các trường hợp thành lập liên doanh nước ngoài mà chưachỉ rõ bản chất kinh doanh của các liên doanh.

Từ các phân tích trên đây, trên giác độ chung, có thể định nghĩa như sau:DNLD là một tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khácnhau trên cơ sở cùng góp vốn, cùng kinh doanh, nhằm thực hiện các cam kết tronghợp đồng liên doanh và điều lệ DNLD phù hợp với khuôn khổ luật pháp nước sở

tại.

Nói cách khác, DNLD là một pháp nhân của nước sở tại, một tổ chức kinhdoanh trong đó các bên đối tác có quốc tịch khác nhau, cùng góp vốn, cùng kinhdoanh, cùng quản lý và cùng chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của doanhnghiệp tương ứng với phần góp vốn của bên mình vào doanh nghiệp, nhằm thựchiện các cam kết trong hợp đồng liên doanh và điều lệ DNLD phù hợp với khuônkhổ pháp luật của nước sở tại

DNLD có một số đặc điểm cơ bản như sau:

- Về pháp lý: DNLD là một pháp nhân của nước nhận đầu tư Do đó, doanhnghiệp này phải hoạt động theo luật pháp nước nhận đầu tư Hình thức của DNLD

là do các bên thoả thuận phù hợp với các qui định của pháp luật nước nhận đầu tư,như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty trách nhiệm vô hạn, các hiệp hội gópvốn Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp, quyền lợi và nghĩa

vụ của các bên được ghi trong hợp đồng liên doanh và điều lệ của DNLD

- Về tổ chức: HĐQT doanh nghiệp là mô hình tổ chức chung cho mọi DNLDkhông kể quy mô nào, lĩnh vực nào, ngành nghề nào Đây là cơ quan lãnh đạo caonhất của DNLD

- Về kinh tế: luôn có sự gặp gỡ và phân chia lợi ích giữa các bên trong liêndoanh DNLD luôn phải giải quyết việc phân phối lợi ích giữa các bên trong liêndoanh và cả các bên đứng ở phía sau các liên doanh Đây là vấn đề hết sức phức tạp

Trang 17

- Về điều hành SXKD: quyết định SXKD dựa vào các qui định pháp lý củanước nhận đầu tư về việc vận dụng nguyên tắc nhất trí hay quá bán.

Trên đây là một số đặc điểm của DNLD, tuy nhiên tuỳ vào từng loại DNLD

mà sự thể hiện cụ thể của các đặc điểm này cũng khác nhau

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:

Có nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu hoàntoàn của nhà ĐTNN được thành lập và hoạt động ở nước sở tại, do nhà ĐTNN trựctiếp bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh quốc tế,

có tư cách pháp nhân, trong đó các nhà ĐTNN góp 100% vốn pháp định, tự quản lýdoanh nghiệp và tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanh của doanhnghiệp

- Luật ĐTNN tại Việt Nam định nghĩa: “Doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN”

là doanh nghiệp do nhà ĐTNN đầu tư 100% vốn tại Việt Nam”

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có các đặc điểm sau:

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là pháp nhân của nước nhận đầu tưnhưng toàn bộ doanh nghiệp lại thuộc sở hữu của người nước ngoài Hoạt độngSXKD theo hệ thống pháp luật của nước nhận đầu tư và điều lệ doanh nghiệp Hìnhthức pháp lý của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là do nhà ĐTNN lựa chọntrong khuôn khổ pháp luật Quyền quản lý doanh nghiệp do nhà ĐTNN hoàn toànchịu trách nhiệm

- Mô hình tổ chức của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là do nhà ĐTNN

tự lựa chọn Nhà ĐTNN tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của doanhnghiệp Phần kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau khi hoàn thành nghĩa vụ tàichính với nước sở tại là thuộc sở hữu hợp pháp của nhà ĐTNN

Trang 18

- Nhà ĐTNN tự quyết định các vấn đề trong doanh nghiệp và các vấn đề liênquan để kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất trong khuôn khổ pháp luật cho phép.Hoạt động sản xuất kinh doanh của DNLD và doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài bị tác động rất lớn bởi các yếu tố của môi trường kinh doanh ở nước nhận đầu

tư, như trình độ nền kinh tế nơi doanh nghiệp đang hoạt động, mức độ cạnh tranhtrong ngành hàng (lĩnh vực) mà doanh nghiệp đang tiến hành các hoạt động kinhdoanh, thị trường lao động, các yếu tố văn hoá trong kinh doanh

Trên đây là các cách phân loại chính, làm cơ sở để phân tích các nội dung về

cơ chế tài chính doanh nghiệp có vốn FDI, ngoài ra còn có nhiều tiêu thức khácnhau để phân loại các doanh nghiệp có vốn FDI như:

Căn cứ lĩnh vực đầu tư, các doanh nghiệp có vốn FDI chia thành các doanhnghiệp có vốn FDI hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ

Căn cứ vào tính chất của SXKD, các doanh nghiệp có vốn FDI chia thànhdoanh nghiệp có vốn FDI chuyên khai thác; doanh nghiệp có vốn FDI chuyên hoạtđộng chế biến và doanh nghiệp có vốn FDI hoạt động phục vụ

Căn cứ vào địa giới hành chính: các doanh nghiệp có vốn FDI hoạt động tạicác tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như Hà nội, TP Hồ Chính Minh…, cácdoanh nghiệp có vốn FDI ở tỉnh Bình dương, Thanh hoá,

1.1.3.4 Phân biệt doanh nghiệp có vốn FDI với nhau và với các doanh nghiệp trong nước

Phân biệt DNLD và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Tuy cả hai loại hình doanh nghiệp này đều là các doanh nghiệp có vốn FDInhưng giữa chúng có nhiều điểm khác biệt Sau đây là các điểm khác biệt chủ yếu:

- Về cơ sở pháp lý: Hợp đồng liên doanh và điều lệ DNLD là hai văn bảnpháp lý quan trọng nhất của DNLD, trong khi doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàihoạt động theo điều lệ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Trang 19

- Về mức độ sở hữu doanh nghiệp: các bên chỉ sở hữu một phần, tương ứngvới tỷ lệ góp vốn vào vốn điều lệ DNLD, trong khi nhà đầu tư nước ngoài sở hữutoàn bộ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vì họ đầu tư toàn bộ vốn pháp định củadoanh nghiệp.

- Về mức độ trách nhiệm của các bên trong quá trình hoạt động: trong DNLDmức độ cộng đồng của các bên cao hơn vì kết quả kinh doanh của DNLD được chiacho các bên tương ứng với tỷ lệ góp vốn của các bên vào vốn pháp định của DNLD.Còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nhà ĐTNN tự chịu hoàn toàntrách nhiệm về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Vấn đề ra quyết định quản lý: Trong DNLD phải có sự bàn bạc thảo luậncủa các bên để ra quyết định quản lý Ngược lại, trong doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài thì nhà ĐTNN tự quyết định toàn bộ

Trong quản lý và điều hành, DNLD có mức độ phức tạp cao hơn rất nhiều sơvới doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Phân biệt doanh nghiệp có vốn FDI với các doanh nghiệp trong nước.

Giữa hai loại doanh nghiệp này có sự khác nhau ở một số khía cạnh chính sau đây:

- Về nguồn vốn: Một loại doanh nghiệp chỉ có vốn trong nước, không có vốncủa nước ngoài còn loại doanh nghiệp kia lại có vốn của bên nước ngoài và do bênnước ngoài trực tiếp quản lý doanh nghiệp

- Về cơ sở pháp lý: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước hoạt động theokhuôn khổ pháp luật trong nước Còn doanh nghiệp có vốn FDI vừa phải tuân thủluật pháp trong nước vừa phải tuân thủ luật pháp nước chủ nhà và luật pháp quốc tế

- Về quan hệ lợi ích trong doanh nghiệp: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trongnước đại diện cho lợi ích của một quốc gia Còn doanh nghiệp có vốn FDI đại diệncho lợi ích của đa quốc gia

- Về mức độ phức tạp trong quan hệ của doanh nghiệp: Do sự khác biệt vềtrình độ quản lý, nền văn hoá xuất thân của các đối tác trong các doanh nghiệp có

Trang 20

vốn FDI nên mức độ phức tạp trong quan hệ của các doanh nghiệp này cao hơn rấtnhiều so với trong các doanh nghiệp có vốn trong nước.

Ngoài những sự khác biệt trên đây, giữa doanh nghiệp có vốn FDI với cácdoanh nghiệp trong nước còn có sự khác biệt về các mặt thuận lợi và bất lợi trongquá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh Các nhà quản lý dù ở cương vị nàocũng cần nhận thức rõ sự khác biệt này để có các giải pháp phù hợp trong quá trìnhquản lý các loại hình doanh nghiệp khác nhau trong cùng một quốc gia

1.1.4 Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn FDI.

Doanh nghiệp có vốn FDI là đối tượng quản lý của Nhà nước Mối quan hệqua lại giữa Nhà nước và các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp có vốn FDI nóiriêng là chặt chẽ và hết sức quan trọng Nhà nước có ảnh hưởng quyết định tới cáchthức hoạt động của các doanh nghiệp trong một quốc gia và ngược lại, tình trạng vàkết quả hoạt động của các doanh nghiệp lại quyết định tới sức mạnh của Nhà nước

và ảnh hưởng lớn đến các vấn đề xã hội Do đó, thực hiện quản lý Nhà nước đối vớicác doanh nghiệp có vốn FDI là tất yếu đối với mọi quốc gia

Vai trò của Nhà nước trong quản lý kinh tế đối với các doanh nghiệp có vốnFDI thể hiện: Chính phủ phải duy trì sự ổn định của kinh tế vĩ mô, tạo dựng mộtmôi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng, khuyến khích tất cả các thành phầnkinh tế tham gia đầu tư kinh doanh Tuy nhiên, các doanh nghiệp hoạt động trongnền KTTT phải tôn trọng các qui luật kinh doanh khách quan trong nền KTTT Vàđiều đó có nghĩa là Chính phủ cũng phải tôn trọng kỷ cương thị trường song songvới kỷ cương của Nhà nước Các chính sách và biện pháp mà Chính phủ áp dụngnhất định phải tôn trọng các qui luật kinh tế khách quan trong nền KTTT

Để thực hiện được vai trò của Nhà nước như trình bày ở trên, cần phải thựchiện chức năng cơ bản của quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn FDI:định hướng và hướng dẫn hoạt động các doanh nghiệp có vốn FDI; quy định cơquan đầu mối quản lý hoạt động của doanh nghiệp có vốn FDI; kiểm tra, thanh trahoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI…

Trang 21

Nội dung quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn FDI, bao gồm:Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển các doanhnghiệp có vốn FDI, ban hành các văn bản pháp luật về hoạt động của các doanhnghiệp có vốn FDI Cấp, thu hồi, điều chỉnh GPĐT Quy định việc phối hợp giữacác cơ quan Nhà nước trong việc quản lý hoạt động và thực hiện việc kiểm tra,thanh tra và giám sát hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI…

Những vấn đề quản lý Nhà nước liên quan đến hoạt động của các doanhnghiệp có vốn FDI gồm rất nhiều lĩnh vực: vốn đầu tư, thuế, xuất nhập khẩu, tiềnthuê đất, khấu hao, kế toán, kiểm toán, ngoại tệ, vay vốn và trả nợ nước ngoài, xuấtnhập cảnh, tranh chấp, thanh lý tài sản, phá sản, xử lý quyền sử dụng đất, thanh tra,kiểm tra doanh nghiệp, công nghệ kỹ thuật, môi trường

Doanh nghiệp có vốn FDI bao gồm nhiều loại hình có đặc điểm khác nhau,trong công tác quản lý Nhà nước phải nghiên cứu và vận dụng các chính sách phùhợp thì hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI mới có thể phát triển mang lạihiệu quả mong muốn

1.2 CƠ CHẾ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN FDI TRONG ĐIỀUKIỆN CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP

1.2.1 Nhận thức chung về cơ chế tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính và là khâu cơ sở,gắn liền với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có các quan hệ tàichính doanh nghiệp đa dạng (quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước, quan hệthanh toán giữa các chủ thể kinh doanh khác, với người lao động .)

Hoạt động SXKD của doanh nghiệp nếu xét về mặt giá trị là quá trình tuầnhoàn chu chuyển vốn kinh doanh: từ hình thái tiền tệ ban đầu, vốn kinh doanh lầnlượt chuyển qua các giai đoạn dự trữ sản xuất, sản xuất, lưu thông và sau cùng trởlại hình thái ban đầu là vốn tiền tệ với qui mô lớn hơn trước, hay nói cách khác sựvận động của vốn kinh doanh luôn gắn liền với các yếu tố vật tư và lao động, ngoài

Trang 22

phần tạo lập ban đầu chúng còn được bổ sung từ kết quả kinh doanh; sự vận độngcủa vốn kinh doanh vì mục tiêu doanh lợi.

Từ đó ta có thể khái quát tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phátsinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quĩ tiền tệ trong quátrình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu của doanhnghiệp

Tình hình tài chính của doanh nghiệp phản ánh trung thực nhất mọi hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp, do vậy vai trò của tài chính doanh nghiệp trở nên hếtsức quan trọng, đặc biệt trong nền KTTT cạnh tranh cao

Trong quản lý kinh tế nói chung việc tạo lập một cơ chế quản lý được xem làcông việc quan trọng hàng đầu nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển của các bộphận cấu thành trong nền kinh tế quốc dân qua các giai đoạn khác nhau Chính sách

và cơ chế tài chính là bộ phận không thể tách rời của cơ chế quản lý kinh tế, nó cóquan hệ mật thiết và tác động tương hỗ đối với các yếu tố cấu thành cũng như đốivới toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế Với ý nghĩa là những vấn đề tổ chức bên trongcủa tài chính, cơ chế quản lý tài chính có mối quan hệ hữu cơ với việc thực hiện cókết quả chính sách tài chính

Quản lý tài chính doanh nghiệp được thực hiện thông qua sự tác động củacác nhà quản lý tài chính tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Các nhà quản lý tài chính phải tạo lập và duy trì một cơ chế tài chính phù hợp vớinhững điều kiện cụ thể của doanh nghiệp

Vậy, Cơ chế tài chính doanh nghiệp là hệ thống các nguyên tắc, phươngpháp và định chế quản lý chi phối và định hướng các quan hệ tài chính trong doanhnghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt các mục tiêu nhất định

Các hoạt động tài chính của các doanh nghiệp nói chung, của doanh nghiệp

có vốn FDI nói riêng - hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm các hoạt động kinh tế, cácquan hệ kinh tế trong đó có sự vận động hoặc sự biểu hiện của tiền tệ thông qua cácquan hệ tiền tệ Cốt lõi của các quan hệ đó là quan hệ về giá trị được biểu hiện dưới

Trang 23

các hình thức khác nhau Do đó cơ chế tài chính trong các doanh nghiệp là hết sức

đa dạng, linh động, phụ thuộc vào nhiều nhân tố

Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến cơ chế tài chính doanh nghiệp: căn cứpháp lý tổ chức doanh nghiệp; môi trường kinh doanh của doanh nghiệp; đặc điểmngành nghề, lĩnh vực kinh doanh

Cơ chế tài chính doanh nghiệp có các đặc điểm sau:

- Tính đồng bộ, hệ thống: Cơ chế tài chính là sự kết hợp hữu cơ giữa các công

cụ trong một chỉnh thể mang tính hệ thống Trong hệ thống các công cụ, có công cụvừa phát huy tác dụng điều tiết, có công cụ đóng vai trò là đòn bẩy khuyến khíchdoanh nghiệp đi theo định hướng của Nhà nước, của nền kinh tế

- Tính năng động: Cơ chế tài chính là một sản phẩm chủ quan của chủ thểquản lý - Nhà nước, mặt khác cơ chế quản lý phải tuân thủ các qui luật kinh tếkhách quan của nền kinh tế, nhất là trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập kinh tếthế giới và các qui luật kinh tế đó có tác động trở lại đối với cơ chế quản lý kinh tế

Do vậy tuỳ theo đường lối phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ mà cơ chế tài chínhcũng thay đổi cho phù hợp

- Tính mục đích: Cơ chế quản lý là một hệ thống và nó nhằm một mục đíchnhất định Trong nền kinh tế tập trung bao cấp, cơ chế tài chính doanh nghiệp chỉđơn thuần là quan hệ cấp phát và giao nộp, Nhà nước can thiệp trực tiếp vào quátrình hình thành và sử dụng các quĩ tiền tệ cũng như sự vận động của các luồng tàichính doanh nghiệp, doanh nghiệp không có quyền tự chủ Ngược lại trong nềnKTTT có sự quản lý của Nhà nước, cơ chế quản lý tài chính chuyển từ trực tiếpsang gián tiếp, doanh nghiệp hoàn toàn có quyền tự chủ trong mọi hoạt động SXKDcủa mình

Hoạt động tài chính doanh nghiệp hết sức đa dạng Các hoạt động tài chínhdoanh nghiệp bao gồm nhiều nhóm khác nhau, như: huy động vốn, quản lý tài sản,

sử dụng vốn, phân phối lợi nhuận, kiểm soát tài chính…Như vậy cơ chế tài chính

Trang 24

doanh nghiệp bao gồm rất nhiều yếu tố cấu thành và có liên quan mật thiết vớinhau

Đối với các doanh nghiệp, cơ chế tài chính bao gồm những nội dung chủ yếusau:

- Cơ chế huy động và tạo lập vốn kinh doanh

- Cơ chế quản lý sử dụng vốn kinh doanh

- Cơ chế phân phối kết quả kinh doanh

- Cơ chế kiểm tra giám sát tài chính doanh nghiệp

- Cơ chế tài chính cho việc giải thể, phá sản hoặc chuyển đổi sở hữu doanhnghiệp

Cơ chế tài chính trong một doanh nghiệp không thể tách rời đặc điểm, điều kiệnhoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp đó Đây là mối quan hệ khách quan, mang tínhtất nhiên, các doanh nghiệp có vốn FDI không nằm ngoài qui luật đó Như vậy nộidung cơ bản của cơ chế tài chính trong các doanh nghiệp cơ bản giống nhau, trongnhững loại hình doanh nghiệp khác nhau thì cơ chế tài chính có sự khác nhau ở mức

độ nào đó, điều đó phụ thuộc vào các yếu tố như: quan hệ sở hữu, ngành nghề kỹthuật, qui mô kinh doanh…

Trong các doanh nghiệp có vốn FDI, với các đặc điểm khác biệt với các doanhnghiệp khác trong nước (như đã phân tích ở mục 1.1.3.4.), do đó cơ chế tài chính cónội dung đặc điểm đáng chú ý là cơ chế huy động tạo lập vốn, cơ chế quản lý sửdụng vốn kinh doanh, cơ chế phân chia kết quả kinh doanh

1.2.2 Nội dung cơ bản của cơ chế tài chính doanh nghiệp có vốn FDI

1.2.2.1 Cơ chế huy động và tạo lập vốn kinh doanh

Việc huy động tạo lập vốn kinh doanh giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì khảnăng tài chính của doanh nghiệp trước hết phụ thuộc vào các nguồn vốn huy độngđược Cơ chế huy động vốn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động tàichính doanh nghiệp trong ngắn hạn mà còn đối với cả sự tồn tại và phát triển của

Trang 25

doanh nghiệp trong dài hạn Với tư cách là một bộ phận của cơ chế quản lý tàichính, cơ chế huy động vốn của doanh nghiệp có vốn FDI chịu ảnh hưởng của cácnhân tố kinh tế xã hội và phản ánh cơ chế quản lý kinh tế qua từng thời kỳ khácnhau.

Chế độ sở hữu là một yếu tố nền tảng, có ảnh hưởng quyết định đối với cơchế tài chính cũng như đối với cơ chế huy động vốn của doanh nghiệp, các phươngthức và công cụ tài chính để huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào hìnhthức sở hữu Trong chính sách và cơ chế huy động vốn đối với các doanh nghiệp cóvốn FDI, Nhà nước chủ yếu tạo lập môi trường pháp lý, môi trường đầu tư, kêu gọi

và khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào các lĩnh vực, các vùng hoặc nhữngngành nghề mà trong nước chưa đáp ứng được…

Luật ĐTNN tại Việt nam qui định các hình thức góp vốn, tỷ lệ góp vốn,quyền chuyển nhượng vốn góp, quyền quản lý sử dụng tài sản, qui định lĩnh vựcngành nghề khuyến khích đầu tư, ưu đãi đầu tư, cho phép các doanh nghiệp có vốnFDI đang hoạt động được phép tái đầu tư và được hoàn thuế chuyển lợi nhuận ranước ngoài, hoặc liên doanh thành lập các công ty liên doanh mới, quy định hướngdẫn về bảo đảm vay vốn, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh đối với doanh nghiệp có vốn FDInhằm tạo thuận lợi để doanh nghiệp có vốn FDI vay tín dụng tại các tổ chức tín dụnghoạt động tại Việt Nam và các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài

Trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập, việc huy động vốn hoàn toàn dựavào các động lực kinh tế và cung cầu về vốn trên thị trường, không những thịtrường trong phạm vi một quốc gia mà diễn ra trên toàn cầu với mục tiêu tối đa hoálợi nhuận của các nhà đầu tư, từ đó các doanh nghiệp hoàn toàn chủ động trong việchuy động vốn kinh doanh

Vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn FDI là mức vốn phải có để thànhlập doanh nghiệp được ghi trong điều lệ doanh nghiệp Phần vốn góp là phần vốncủa mỗi bên góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp Phần vốn góp của các bênliên doanh, phương thức và tiến độ góp vốn được qui định trong hợp đồng liên

Trang 26

doanh Vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn FDI ít nhất phải bằng 30% vốn đầu

tư của doanh nghiệp Trong trường hợp đặc biệt, tỷ lệ này có thể thấp hơn 30%,nhưng phải được cơ quan quản lý Nhà nước về ĐTNN chấp thuận Trong quá trìnhhoạt động, doanh nghiệp có vốn FDI không được giảm vốn pháp định Việc tăngvốn pháp định, vốn đầu tư hay thay đổi tỷ lệ vốn góp của các bên liên doanh dodoanh nghiệp quyết định và phải được cơ quan cấp GPĐT chấp thuận

Bên nước ngoài tham gia DNLD góp vốn pháp định bằng:

- Tiền nước ngoài, tiền Việt Nam có nguồn gốc từ đầu tư tại Việt Nam;

- Thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công trình xây dựng khác;

- Giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch

vụ kỹ thuật

Bên Việt Nam tham gia DNLD góp vốn pháp định bằng:

- Tiền Việt Nam, tiền nước ngoài;

- Giá trị quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luật về đất đai;

- Các nguồn tài nguyên, giá trị quyền sử dụng mặt nước, mặt biển theo qui địnhcủa pháp luật;

- Thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công trình xây dựng khác;

- Giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch

vụ kỹ thuật

Việc các bên góp vốn bằng các hình thức khác phải được Chính phủ chấp thuận.Phần vốn góp của bên nước ngoài hoặc các bên nước ngoài vào vốn pháp định củaDNLD không bị hạn chế về mức cao nhất theo sự thoả thuận của các bên, nhưngkhông dưới 30% vốn pháp định, trừ những trường hợp do Chính phủ quy định Đốivới DNLD nhiều bên, tỷ lệ góp vốn tối thiểu của mỗi bên Việt Nam do Chính phủquy định Đối với cơ sở kinh tế quan trọng do Chính phủ quyết định, các bên thoảthuận tăng dần tỷ trọng góp vốn của bên Việt Nam trong vốn pháp định của DNLD.Giá trị phần vốn của mỗi bên trong DNLD được xác định trên cơ sở giá thị trường

Trang 27

tại thời điểm góp vốn Các bên góp vốn phải chịu trách nhiệm về tính trung thực,chính xác đối với phần giá trị vốn góp của mình Trong trường hợp cần thiết, cơquan quản lý Nhà nước về ĐTNN có thể chỉ định tổ chức giám định để giám địnhlại giá trị các khoản vốn góp của các bên

Đối với các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, mức vốn pháp định cũng đượcqui định giống như đối với DNLD

Trong quá trình hoạt động, Doanh nghiệp có vốn FDI có thể cơ cấu lại vốn đầu

tư, vốn pháp định khi có những thay đổi về mục tiêu, quy mô dự án, đối tác, phươngthức góp vốn và các trường hợp khác Việc cơ cấu lại vốn không được làm giảm tỷ

lệ vốn pháp định xuống dưới mức qui định của Luật ĐTNN tại Việt nam Việc cơcấu lại vốn, thay đổi tỷ lệ góp vốn của các bên liên doanh do HĐQT doanh nghiệpquyết định và được cơ quan cấp GPĐT chuẩn y

Doanh nghiệp có vốn FDI được chính phủ Việt nam cho thuê đất Khung giáthuê đất thực hiện theo qui định của Nhà nước UBND tỉnh được quyền ban hànhgiá thuê đất trên địa bàn trong khung qui định của Nhà nước Ngoài một số quyềnkhác, doanh nghiệp có vốn FDI thuê đất tại Việt Nam được quyền: thế chấp giá trịquyền sử dụng đất đai gắn liền với tài sản thuộc sở hữu của mình đã đầu tư và xâydựng trên đất đó tại Ngân hàng Việt Nam trong thời gian thuê đất theo quy định củapháp luật Việt Nam Cho thuê lại đất nếu đầu tư trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạtầng tại các khu chế xuất, khu công nghiệp Tổ chức và cá nhân Việt Nam đượcphép dùng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn liên doanh với đối tác nước ngoài

Ngoài nguồn vốn góp của các bên tham gia đầu tư, doanh nghiệp có vốn FDI

có thể được tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ, vay vốn tín dụng hoặc huy động trên thịtrường chứng khoán

Tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo lập nguồn vốn phổbiến của các tập đoàn kinh doanh trên thế giới, nhờ đó các doanh nghiệp phát huyđược nguồn lực từ chính mình, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, nhất là khi có

sự bất ổn về thị trường tài chính Nhiều doanh nghiệp coi trọng biện pháp tái đầu tư

Trang 28

từ lợi nhuận để lại Thông thường hàng năm HĐQT công ty quyết định mức lợinhuận tái đầu tư căn cứ vào kế hoạch đầu tư sản xuất kinh doanh năm tới và lợinhuận luỹ kế… Tuy nhiên đối với DNLD việc để lại lợi nhuận để tái đầu tư có liênquan đến một số yếu tố rất nhạy cảm Việc dùng lợi nhuận để tái đầu tư tức làkhông dùng số lợi nhuận đó để chia cho các bên liên doanh, trong đó có phía Việtnam Các bên không được nhận lợi nhuận nhiều hơn nhưng bù lại các bên đều cóquyền sở hữu số vốn tăng lên của doanh nghiệp Trong điều kiện cạnh tranh và hộinhập mạnh mẽ, việc sử dụng nguồn vốn nội bộ của các doanh nghiệp có vốn FDI làhết sức cần thiết, duy trì sự ổn định và tăng trưởng của doanh nghiệp.

Nguồn vốn tín dụng là một nguồn vốn rất quan trọng trong SXKD của doanhnghiệp có vốn FDI Trong nền KTTT, với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tàichính, các doanh nghiệp có vốn FDI có thể khai thác được những nguồn vốn tíndụng đa dạng như: Vốn vay từ các ngân hàng thương mại, nợ thương mại (nợ giữacác doanh nghiệp trong SXKD), vốn vay của các tổ chức phi ngân hàng (công ty tàichính, tín dụng thuê mua,…)… Vốn tín dụng giữ vị trí rất quan trọng, đáp ứng đượcnhư cầu vốn rộng rãi, giao dịch thuận lợi, chi phí thấp hơn so với vay vốn của các tổchức khác, mặt khác tính an toàn, hiệu quả cũng cao hơn Đối với các doanh nghiệp

có vốn FDI, cơ chế quản lý tín dụng bao gồm một số nội dung chủ yếu như: cơ chếkiểm soát nội bộ của doanh nghiệp có vốn FDI đối với quá trình huy động vốn tíndụng; các qui trình thủ tục cụ thể đối với việc vay vốn (xây dựng luận chứng, vayvốn và sử dụng vốn,…); phương thức kiểm soát đối với các quan hệ tín dụng củaNhà nước…

Thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn quan trọng của các doanhnghiệp trong nền KTTT Thị trường chứng khoán phát triển tạo điều kiện cho cáccông ty cổ phần, trong đó có công ty cổ phần có vốn FDI phát hành chứng khoánrộng rãi để huy động vốn đầu tư dài hạn, mở rộng đầu tư kinh doanh Ngoài ra,thông qua thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp đảm bảo hoạt động hiệu quả,tăng khả năng cạnh tranh Hầu hết các quốc gia trên thế giới theo cơ chế thị trường

Trang 29

đều có thị trường chứng khoán, kể cả quốc gia đang phát triển, đang chuyển đổi cơchế kinh tế như Việt Nam.

1.2.2.2 Cơ chế quản lý sử dụng vốn kinh doanh

Do tính chất về sở hữu vốn và tài sản quyết định đến quyền quản lý và sửdụng tài sản của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp có vốn FDI, việc quản lý và sửdụng vốn kinh doanh hoàn toàn do doanh nghiệp quyết định Chính phủ đưa ra cácqui định hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện phù hợp luật pháp hiện hành và cácthông lệ quốc tế

Doanh nghiệp có vốn FDI là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân, vì thế

có quyền tự chủ quản lý, sử dụng vốn kinh doanh của mình sao cho có hiệu quảnhất, phù hợp với mục tiêu, phạm vi được qui định trong GPĐT HĐQT là cơ quanlãnh đạo của DNLD gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác Các thànhviên trong HĐQT là đại diện của các bên tham gia liên doanh Các bên liên doanh

cử người của mình tham gia vào HĐQT tương ứng với tỷ lệ vốn góp vào vốn phápđịnh của doanh nghiệp Nhiệm kỳ Hội đồng quản trị do các bên liên doanh thoảthuận, nhưng không quá 5 năm Chủ tịch HĐQT do các bên liên doanh cử ra và giữvai trò chủ chốt trong việc giám sát đôn đốc thực hiện các nghị quyết của HĐQT.HĐQT thông qua các quyết định thuộc thẩm quyền theo hình thức biểu quyết tạicuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản Tổng Giám đốc, phó Tổng giám đốc doHĐQT bổ nhiệm, miễn nhiệm, chịu trách nhiệm trước HĐQT và pháp luật Việt nam vềviệc quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có vốn FDI có thể sử dụng vốn kinh doanh cho các hoạt độngđầu tư dài hạn hoặc cho các hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp Trong đầu

tư dài hạn, các doanh nghiệp có thể sử dụng vốn kinh doanh để nhập khẩu máy mócthiết bị, vật tư cho việc thực hiện dự án đầu tư, nhưng các thiết bị máy móc đó phảiđược giám định giá trị, chất lượng bởi các cơ quan chức năng trước khi nhập khẩuhoặc lắp đặt Doanh nghiệp có vốn FDI phải thực hiện qui chế đấu thầu, sau khicông trình xây dựng cơ bản hoàn thành, doanh nghiệp phải nghiệm thu quyết toán

Trang 30

công trình, có xác nhận của tổ chức giám định Nhà nước Việt nam khuyến khích và

ưu đãi đối với các hoạt động đầu tư chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệtiên tiến và nghiêm cấm chuyển giao công nghệ có ảnh hưởng xấu đến môi trườngsinh thái, an toàn lao động

Trong trường hợp sử dụng vốn cho các hoạt động kinh doanh thường xuyên,doanh nghiệp có vốn FDI hoàn toàn có quyền tự chủ quản lý và sử dụng vốn theo kếhoạch SXKD của doanh nghiệp sao cho có hiệu quả nhất Nhà nước tạo môi trườngthuận lợi cho các doanh nghiệp có vốn FDI sử dụng hiệu quả vốn của mình như:ngoài nhiệm vụ SXKD chính, được thực hiện các hoạt động gia công hoặc gia cônglại sản phẩm được qui định trong GPĐT; được tự do tuyển dụng lao động Việt nam;doanh nghiệp chủ yếu sản xuất hàng xuất khẩu được phép mở kho bảo thuế; doanhnghiệp có vốn FDI tự đảm bảo nhu cầu ngoại tệ, Chính phủ Việt nam đảm bảo hỗtrợ cân đối ngoại tệ cho những dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sản xuấthàng thay thế hàng nhập khẩu hay các dự án đặc biệt được Chính phủ phê duyệt;được mở tài khoản tiền Việt nam, ngoại tệ tại các ngân hàng, chi nhánh ngân hàngđược phép hoạt động tại Việt nam; một số trường hợp có thể được vay vốn ở cácngân hàng ở nước ngoài nhưng phải được Ngân hàng Nhà nước Việt nam chấpthuận…

1.2.2.3 Cơ chế phân phối kết quả kinh doanh

Cơ chế phân phối kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn FDI đượcthực hiện chủ yếu thông qua công cụ thuế và phân phối lợi nhuận trích lập các quĩcủa doanh nghiệp Sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và thực hiện các nghĩa

vụ tài chính khác, doanh nghiệp có vốn FDI được trích lợi nhuận còn lại để lập cácquỹ dự phòng, quỹ phúc lợi, quỹ mở rộng sản xuất, các quỹ khác và chia lợi nhuậncho các bên liên doanh theo quyết định của doanh nghiệp

Trong việc phân phối kết quả kinh doanh, Nhà nước với chức năng quản lýkinh tế có thể khuyến khích hoặc hạn chế các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bằngcác cơ chế, chính sách tài chính phù hợp mà chính sách thuế là một công cụ tài

Trang 31

chính vĩ mô có tác dụng điều tiết và tác động trực tiếp đến khả năng đầu tư mở rộngcủa doanh nghiệp

Động cơ để các nhà đầu tư bỏ vốn vào kinh doanh là lợi nhuận, các quyếtđịnh đầu tư đều dựa trên cơ sở dự tính các khoản thu nhập trong tương lai do đầu tưmang lại Thuế - đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp – là một yếu tố ảnh hưởngtrực tiếp đến thu nhập của doanh nghiệp Nếu chính sách thuế phù hợp sẽ có tácdụng khuyến khích được các nhà đầu tư, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộngsản xuất kinh doanh Ngược lại, một chính chính sách thuế không phù hợp sẽ kìmhãm hoặc thu hẹp hoạt động SXKD của doanh nghiệp

Nhà nước có thể tạo ra động lực hấp dẫn nhà đầu tư, tạo môi trường đầu tưthuận lợi, giảm rủi ro cho nhà đầu tư, nâng cao khả năng mang lại lợi nhuận cho nhàđầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp có vốn FDI không ngừng mở rộng đầu tư,như: việc miễn thuế, giảm thuế, chuyển lỗ cho các doanh nghiệp có vốn FDI mớithành lập hoặc dùng lợi nhuận để tái đầu tư…

1.2.2.4 Cơ chế kiểm tra giám sát tài chính doanh nghiệp

Vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra tài chính đối với các doanh nghiệp cóvốn FDI là nhằm hỗ trợ tháo gỡ khó khăn vướng mắc, giải quyết kịp thời những vấn

đề phát sinh trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp Đây là một công việc nhằmkhông ngừng hoàn thiện môi trường đầu tư, đảm bảo tuân thủ luật pháp Việt nam vàcác thông lệ quốc tế

Nhà nước thực hiện việc kiểm tra giám sát đối với các doanh nghiệp có vốnFDI theo các nội dung chủ yếu như giám sát việc thực hiện góp vốn, thực hiện cácqui định của GPĐT; giám sát việc thực hiện các qui định về nghĩa vụ tài chính,quan hệ lao động tiền lương, bảo vệ môi trường sinh thái

Việc thanh tra, kiểm tra tài chính của Doanh nghiệp có vốn FDI phải bảođảm thực hiện đúng chức năng, đúng thẩm quyền và tuân thủ qui định của pháp luật

về ĐTNN và pháp luật về thanh tra, kiểm tra Các cơ quan có chức năng về thanhtra, kiểm tra có trách nhiệm lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ gửi Bộ Kế

Trang 32

hoạch và Đầu tư, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chếxuất có liên quan để phối hợp thực hiện việc thanh tra, kiểm tra.

Việc kiểm tra định kỳ, kiểm tra chuyên ngành được thực hiện không quá mộtlần trong một năm đối với một doanh nghiệp Các cơ quan quản lý Nhà nước khôngcan thiệp quá sâu vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp

Nhà ĐTNN, Doanh nghiệp có vốn FDI có quyền khiếu nại, khởi kiện đối vớicác quyết định và hành vi trái pháp luật, gây khó khăn, phiền hà của viên chức, cơquan Nhà nước Việc khiếu nại, khởi kiện và việc giải quyết khiếu nại, khởi kiệnđược thực hiện theo qui định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo

1.2.2.5 Cơ chế tài chính cho việc giải thể, phá sản hoặc chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp.

Trong điều kiện cạnh tranh của nền KTTT, tất yếu sẽ dẫn đến sự tăng trưởng,phát triển của một số doanh nghiệp này và sự suy thoái, phá sản của một số doanhnghiệp khác

Giải thể doanh nghiệp là việc xoá tên doanh nghiệp và chấm dứt hoạt độngSXKD do nhiều nguyên nhân Doanh nghiệp có vốn FDI chấm dứt hoạt động trongnhững trường hợp sau đây: hết thời hạn hoạt động ghi trong GPĐT; theo các điềukiện chấm dứt hoạt động được quy định trong hợp đồng, điều lệ doanh nghiệp hoặcthoả thuận của các bên; theo quyết định của cơ quan quản lý Nhà nước về ĐTNN do

vi phạm nghiêm trọng pháp luật hoặc qui định của GPĐT; do bị tuyên bố phá sản

Khi chấm dứt hoạt động trong trường hợp như trên (trừ lý do bị tuyên bố phásản), doanh nghiệp có vốn FDI phải tiến hành thanh lý tài sản doanh nghiệp, thanh

lý hợp đồng Trong quá trình thanh lý tài sản doanh nghiệp, nếu phát hiện doanhnghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì việc giải quyết phá sản của doanh nghiệpđược thực hiện theo thủ tục quy định trong pháp luật về phá sản doanh nghiệp Việcgiải quyết phá sản doanh nghiệp có vốn FDI được thực hiện theo qui định của phápluật về phá sản doanh nghiệp Trong trường hợp bên Việt Nam tham gia DNLD,góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất mà doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản thì

Trang 33

giá trị còn lại của quyền sử dụng đất đã góp vốn thuộc tài sản thanh lý của doanh

nghiệp.

Việc chấm dứt hoạt động, thanh lý, giải thể doanh nghiệp có vốn FDI đượcthực hiện theo trình tự: cơ quan cấp GPĐT ra quyết định chấm dứt hoạt động củaDoanh nghiệp có vốn FDI; doanh nghiệp có vốn FDI có trách nhiệm thành lập banthanh lý để thanh lý tài sản doanh nghiệp; sau khi kết thúc thanh lý, doanh nghiệp

có vốn FDI lập báo cáo và gửi hồ sơ thanh lý trình cơ quan cấp GPĐT xem xét, raquyết định giải thể doanh nghiệp

Phá sản là tình trạng doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ kéo dàitrong kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà vẫn mất khả năngthanh toán các khoản nợ đến hạn

Về mặt tài chính, nội dung chủ yếu trong quyết định phá sản doanh nghiệp làphương án phân chia tài sản doanh nghiệp Thông thường giá trị còn lại của doanhnghiệp bị phá sản ưu tiên dùng để trang trải các chi phí cho việc giải quyết phá sảndoanh nghiệp (quản lý, tổ chức bán tài sản, thu hồi công nợ…), sau đó dành để hoàntrả các khoản nợ của doanh nghiệp như: thuế phải nộp Nhà nước, tiền lương, bảohiểm nợ người lao động, các khoản nợ đối với các pháp nhân và thể nhân khác…cuối cùng mới đến hoàn trả vốn góp cho các bên liên doanh trong doanh nghiệp

Tổ chức lại doanh nghiệp là việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanhnghiệp, chuyển đổi hình thức đầu tư

Chia doanh nghiệp là việc chia toàn bộ vốn bằng tiền và tài sản của mộtdoanh nghiệp có vốn FDI để thành lập hai hoặc một số doanh nghiệp mới

Tách doanh nghiệp là việc chuyển một phần vốn bằng tiền và tài sản của doanhnghiệp có vốn FDI để thành lập thêm một hoặc một số doanh nghiệp mới

Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hay một số doanh nghiệp có vốn FDIchuyển toàn bộ vốn bằng tiền và tài sản của mình để sáp nhập vào một doanhnghiệp có vốn FDI khác

Trang 34

Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hay một số doanh nghiệp có vốn FDImang toàn bộ vốn bằng tiền và tài sản của mình để hợp nhất với nhau chuyển thànhmột doanh nghiệp có vốn FDI mới.

Chuyển đổi hình thức đầu tư là việc dự án đã được cấp GPĐT theo một hìnhthức của Luật ĐTNN chuyển đổi sang một hình thức đầu tư khác của Luật ĐTNN

Việc tổ chức lại doanh nghiệp phải được sự đồng ý của HĐQT (đối vớiDNLD), hoặc chủ ĐTNN (đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) và được cơquan Nhà nước quản lý về ĐTNN chuẩn y

1.2.3 Vai trò của cơ chế tài chính đối với việc phát triển doanh nghiệp có vốn FDI trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.

Cơ chế tài chính luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý củadoanh nghiệp, nó quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và cạnhtranh đang diễn ra gay gắt trên toàn cầu thì cơ chế tài chính càng trở nên cực kỳquan trọng Bất kỳ nhà ĐTNN nào muốn đầu tư vào doanh nghiệp dưới mọi hìnhthức đều có cơ hội thu được lợi nhuận nếu như quản lý tài chính doanh nghiệp cóhiệu quả, ngược lại họ sẽ bị lỗ, thậm chí mất vốn đầu tư khi quản lý tài chính kémhiệu quả hoặc không có hiệu quả Vai trò của cơ chế tài chính đối với các doanhnghiệp nói chung và với các doanh nghiệp có vốn FDI được thể hiện:

- Cơ chế tài chính góp phần thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp có vốnFDI: cơ chế huy động vốn, cơ chế sử dụng vốn… phù hợp sẽ tạo môi trường thuậnlợi cho mọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp Giống như các loại hình doanhnghiệp khác, để tạo lập và mở rộng các doanh nghiệp có vốn FDI, trước hết cầnvốn Nhưng xuất phát từ đặc tính đa sở hữu của loại hình doanh nghiệp này nên cơchế huy động vốn cũng có những đặc điểm riêng để khai thác các tiềm năng trong

xã hội nhằm phát triển chúng Mặt khác các doanh nghiệp có vốn FDI không thểhoạt động chỉ bằng nguồn vốn chủ sở hữu, nó cần tới sự đa dạng của nguồn vốn đầu

tư thông qua hoạt động đi vay hay tham gia thị trường chứng khoán… để phục vụ

Trang 35

cho quá trình SXKD nếu có một cơ chế tài chính phù hợp thì sẽ giải quyết tốt vấn

đề này

- Cơ chế tài chính góp phần tạo lập môi trường kinh doanh ổn định, bìnhđẳng, thông thoáng và minh bạch Điều này không những mang lại niềm tin cho cácdoanh nghiệp có vốn FDI trong SXKD, mà còn giải phóng được tiềm lực từ chính

họ Các doanh nghiệp có vốn FDI với lợi thế kinh nghiệm về tiếp thị thị trườngquốc tế, sử dụng các phương pháp quản lý, marketing hiện đại… chỉ có thể thuđược hiệu quả khi cơ chế tài chính tạo một sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanhnghiệp tham gia không những chỉ trong nước mà cả ở phạm vi khu vực và thế giới

- Cơ chế tài chính phù hợp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có vốn FDItăng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh một cách thực sự và qua đó doanh nghiệpmới có những hoạch định cụ thể trong mở rộng đầu tư, tận dụng lợi thế cạnh tranh

và việc hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trở nên chủ động hơn

Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó có thành phầnkinh tế ĐTNN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta ĐTNN tại Việt namđược khuyến khích thu hút mạnh mẽ, các doanh nghiệp có vốn FDI được hìnhthành, ngày càng phát triển và giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Nhà nước sửdụng các công cụ quản lý kinh tế khác nhau, trong đó cơ chế tài chính có vai trò rấtquan trọng để thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này Cơ chế tàichính đối với các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp có vốn FDI nói riêng cótính đồng bộ, hệ thống, tính mục đích và tính năng động rất cao Nội dung chủ yếu

cơ chế tài chính doanh nghiệp có vốn FDI bao gồm cơ chế huy động và tạo lậpvốn, cơ chế quản lý sử dụng vốn, cơ chế phân phối kết quả kinh doanh, cơ chếgiám sát tài chính, cơ chế cho việc sáp nhập, giải thể, chuyển đổi sở hữu doanhnghiệp Để thúc đẩy doanh nghiệp có vốn FDI phát triển, cơ chế tài chính phảiluôn được bổ sung, hoàn thiện Sau khi phân tích lý luận về doanh nghiệp cóvốn FDI và cơ chế tài chính đối với các các doanh nghiệp có vốn FDI, vi ệcnghiên cứu thực trạng cơ chế tài chính đối với doanh nghiệp có vốn FDI tại Việtnam là rất cần thiết, để phát huy những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế và

Trang 36

đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính doanh nghiệp cóvốn FDI trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.

Chương 2THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN FDI Ở VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

2.1 THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN FDI TẠI VIỆT NAM

2.1.1 Tổng quan FDI tại Việt nam

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về CNXH và con đường đilên CNXH ở Việt Nam, nhằm đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xãhội, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam (tháng12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện hiệu quảhơn công cuộc xây dựng CNXH Đại hội đã đưa ra những quan niệm mới về con

Trang 37

đường, phương pháp xây dựng CNXH, đặc biệt quan niệm về công nghiệp hoá xãhội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại kháchquan của sản xuất hàng hoá và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung bao cấp

và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh, chủ trương phát triển kinh tếnhiều thành phần

Đại hội VII (tháng 6/1991) Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủtrương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên CNXH

ở Việt Nam Đảng ta khẳng định: “ Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần theo định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước” Đại hội VIII (tháng 6/1996) Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa rakết luận mới rất quan trọng: “Sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội

mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại” Đến Đại hội IX (tháng4/2001) Đảng cộng sản Việt Nam chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa” KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hìnhthức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủđạo; kinh tế Nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc;kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân chiếm tỷ trọng đáng kể, kinh tế tưbản Nhà nước dưới các hình thức khác nhau tồn tại phổ biến và có vai trò tích cựctrong nền kinh tế

Những điểm mới trong đường lối, chính sách phát triển KTTT định hướng xãhội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế ở nước ta được

cụ thể hoá bởi các văn bản Pháp luật Luật ĐTNN tại Việt Nam ban hành lần đầutiên vào năm 1987, đến nay đã qua 4 lần sửa đổi bổ sung (năm 1990, năm 1992,năm 1996 và năm 2000) Qua thực tế, FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng củanền kinh tế, đóng góp ngày càng lớn vào việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xãhội của đất nước

Từ 1988 đến 1990 là 3 năm khởi đầu, FDI chưa có tác dụng rõ rệt đến tìnhhình kinh tế-xã hội ở Việt Nam Tổng cộng có hơn 1,5 tỷ USD vốn đăng ký; vốn

Trang 38

thực hiện không đáng kể Vì các doanh nghiệp có vốn FDI sau khi được cấp GPĐTphải làm rất nhiều thủ tục qui định của Nhà nước mới đưa được vốn vào Việt Nam.

Từ 1991 đến 1997 là thời kỳ doanh nghiệp FDI tăng trưởng nhanh và gópphần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế -xã hội của đất nước Trong

kế hoạch 5 năm 1991-1995, đã thu hút 16 tỷ USD vốn đăng ký, tốc độ tăng trưởnghàng năm rất cao, vốn đăng ký 1991 là 1,275 tỷ USD thì năm 1995 là 6,6 tỷ USD,gấp 5,3 lần Vốn thực hiện trong 5 năm là 7,153 tỷ USD, bằng 32% vốn đầu tư cảnước Hai năm tiếp theo 1996-1997, FDI tiếp tục tăng trưởng mạnh: thêm 15 tỷUSD vốn đăng ký và 6,06 tỷ USD vốn thực hiện

Từ năm 1998 đến 2000 là thời kỳ suy thoái của FDI Vốn đăng ký bắt đầugiảm từ năm 1998 và giảm rất mạnh trong 2 năm tiếp theo Vốn đăng ký năm 1998

là 3,897 tỷ USD thì năm 1999 chỉ bằng 40,2%, còn 1,568 tỷ USD; năm 2000 là1,973 USD Sau khi đạt kỷ lục về vốn thực hiện năm 1997 với gần 3,2 tỷ USD, thì 3năm sau đó giảm rõ rệt: 1998 là 2,4 tỷ USD, 1999 và 2000 mỗi năm 2,2 tỷ USD,

Từ năm 2001 đến nay là thời kỳ phục hồi hoạt động của FDI Vốn đăng kýnăm 2001 là 2 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2000 Vốn thực hiện là 2,3 tỷ USDtăng 3% so với năm trước Năm 2002 vốn đăng ký gần 1,4 tỷ USD và vốn thực hiện

là 2,35 tỷ USD [11, tr 12]

Năm 2003, cả nước cả nước đã thu hút được 3,1 tỷ USD vốn FDI, trong đóvốn cấp mới đạt trên 1,9 tỷ USD cho 752 dự án Phần lớn các dự án mới tập trungđầu tư vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng (chiếm 70,6% về dự án và 70,8% vềvốn) Nông - lâm – ngư – nghiệp chiếm 13,2% số dự án và 9,2% số vốn Lĩnh vựcdịch vụ chiếm 16,2% số dự án và 20% vốn đầu tư Năm 2003 đã có 374 lượt dự ántăng vốn đầu tư với tổng vốn lên trên 1,15 tỷ USD Như vậy trong 2 năm liên tiếp(2002, 2003), vốn đầu tư bổ sung bằng khoảng 2/3 vốn đăng ký cấp mới, đạt mứccao nhất kể từ sau khi diễn ra khủng hoảng tài chính khu vực

Trang 39

2.1.2 Đánh giá chung về thực trạng doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt Nam.

Hiện nay, doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt Nam bao gồm 2 loại: doanhnghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Ngày 15/04/2003, Chínhphủ ban hành Nghị định số 38/2003/NĐ-CP, về việc chuyển đổi một số doanhnghiệp có vốn FDI sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, đến nay vẫnđang trong quá trình lựa chọn các doanh nghiệp có vốn FDI đáp ứng đủ các điềukiện chuyển đổi (các doanh nghiệp có vốn FDI đã góp đủ vốn pháp định; đã chínhthức hoạt động ít nhất 3 năm, trong đó năm cuối cùng trước khi chuyển đổi phải cólãi; có hồ sơ đề nghị chuyển đổi)

Vai trò và những thành tựu doanh nghiệp có vốn FDI đã đạt được trongnhững năm qua thể hiện qua các đánh giá sau:

Thứ nhất: Doanh nghiệp có vốn FDI tác động đến cả chiều rộng và chiều sâu

của quá trình tăng trưởng kinh tế Việt Nam Hầu hết các tỉnh thành trong cả nước,tất cả các ngành kinh tế, lĩnh vực kinh doanh đều có mặt của các doanh nghiệp cóvốn FDI FDI trở thành nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn đầu tư pháttriển, đóng góp ngày càng tăng cho ngân sách Nhà nước, góp phần khai thác, nângcao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước, tăng sức mạnh cho nền kinh tế

Bức tranh chung của các doanh nghiệp (bảng 2.1 ; phụ lục số 4) cho thấy sốlượng doanh nghiệp có vốn FDI không ngừng tăng lên, năm 2002 tăng 191,0% sovới năm 1995, lao động năm 2002 tăng 509,2% so với năm 1995 (trong khi doanhnghiệp Nhà nước chỉ tăng 3,9%) Các doanh nghiệp có vốn FDI ngày càng lớnmạnh và trở thành bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu nền kinh tế Việt nam

Bảng 2.1 Số lượng doanh nghiệp và lao động năm 1995-2002

Số lượng doanh nghiệp Số lượng lao động

1995 2002 Tăng/giảm 1995 2002 Tăng/giảm

Tổng số 24 925 56 737 127,6% 2 305 703 3 840 142 66,5%

DN Nhà nước 7 090 5 231 -26,2% 1 777 759 1 846 209 3,9%

Trang 40

DN ngoài quốc doanh 17 143 49 492 188,7% 430 112 1 397 917 225,0%

có vốn FDI đã chiếm tỷ trọng 13,1% GDP nói chung và 19,5% GDP trừ khu vực hộgia đình; chiếm tỷ trọng 35,5% tổng sản lượng công nghiệp và 18,6% tổng vốn đầu

tư xã hội

Tuy phần lớn các doanh nghiệp có vốn FDI đang trong thời kỳ hưởng ưu đãi

về thuế TNDN, nhưng nguồn thu NSNN từ khu vực ĐTNN liên tục tăng từ 128triệu USD năm 1994, đến năm 1998 đã đạt 317 triệu USD, chiếm 7% nguồn thungân sách, năm 1999 đạt 7,5%, năm 2000 đạt 8,5%, năm 2001 đạt 7,8%, năm 2002đạt 8,6% Thu ngân sách từ khu vực ĐTNN giai đoạn 1996-2000 đạt gần 1,45 tỷUSD gấp 4,5 lần giai đoạn 1990-1995; tính bình quân chiếm 6-7% thu ngân sách

Sau hơn 15 năm thực hiện Luật ĐTNN, đến 31/12/2003 cả nước có 64 quốcgia vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt nam, trong đó vực Châu Á có số vốn đầu tư lớnnhất Chỉ tính riêng 5 nước và vùng lãnh thổ là Xingapore, Đài loan, Nhật bản, Hànquốc và Hồng kông đã chiếm tới 61% tổng vốn đầu tư đăng ký (phụ lục số 1) Hầuhết các tỉnh, thành phố trên cả nước có các dự án đầu tư nước ngoài (phụ lục số 3).

Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư (1988-2003)

Hợp đồng hợp tác kinh doanh 158 3.873.452.177 3.289.410.174 5.243.381.069

Ngày đăng: 20/12/2012, 09:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 .                Số lượng doanh nghiệp và lao động năm 1995-2002 - Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập
Bảng 2.1 Số lượng doanh nghiệp và lao động năm 1995-2002 (Trang 40)
Bảng 2.4:    So sánh một số chi phí sản xuất tại một số thành phố trong khu vực và Việt Nam - Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập
Bảng 2.4 So sánh một số chi phí sản xuất tại một số thành phố trong khu vực và Việt Nam (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w