Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Hải Phòng
Trang 1LỜI CAM KẾT
Tôi là: Lê Thị Huệ
Sinh viên lớp: Kinh tế phát triển 48B
Tôi xin cam đoan bài chuyên đề này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi
và chưa từng được công bố trên bất kì phương tiện truyền thông nào Các số liệuđưa ra trong bài viết là hoàn toàn có thật Trong quá trình nghiên cứu tôi có thamkhảo thêm một số tài liệu đã được liệt kê ở cuối chuyên đề
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2010 Tác giả chuyên đề
Lê Thị Huệ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy tôisuốt thời gian ngồi trên ghế giảng đường đại học, cung cấp cho tôi những kiến thứcquý báu để tôi có thể vận dụng viết được bài chuyên đề này
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các cô chú, các anh, các chị cán bộ công chứctrong Sở Kế hoạch – Đầu tư Thành phố Hải Phòng đã giúp đỡ tôi thu thập tài liệu,
bổ sung kiến thức phục vụ chuyên đề, học hỏi kinh nghiệm cũng như phương pháplàm việc trong quá trình thực tập
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ths Nguyễn Thị Phương Thu là người
đã giúp đỡ tôi rất nhiều từ việc xây dựng đề cương đến việc hoàn thiện bài chuyên
đề này trong suốt thời gian thực tập
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2010.
Tác giả chuyên đề
Lê Thị Huệ
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Hình 1: Kết quả thu hút FDI theo đối tác năm 2009 của Hải Phòng 33
Hình 2: Biểu đồ thu hút FDI vào Hải Phòng qua các năm 36
Hình 3: Biểu đồ cơ cấu GDP theo ngành của Hải Phòng qua các năm 46
DANH MỤC HÌNH Bảng 1: Thu hút FDI của 1 số tỉnh – thành phố tính đến 15/12/2009 32
Bảng 2: Thu hút FDI vào thành phố Hải Phòng theo hình thức đầu tư 34
Bảng 3: Thu hút FDI vào Hải Phòng theo lĩnh vực hoạt động (năm 2009) 35
Bảng 4:Tình hình vận chuyển hành khách và hàng hóa mấy năm gần đây 44
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á BCC Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
KT – XH Kinh tế - xã hội ODA Hỗ trợ phát triển chính thức OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
WTO Tổ chức thương mại quốc tế
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, vốn là một nhân tố không thể khôngđược đề cập Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần có vốn hơnnhiều hơn nữa Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ cần phải có cả vốn
từ nước ngoài, trong đó có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
FDI được xem như chiếc chìa khoá của sự tăng trưởng kinh tế Nó đã và đangđóng góp một vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của các nước đang pháttriển trên thế giới Tại các quốc gia có chính sách đầu tư nước ngoài hợp lý, FDIkhông chỉ làm tăng cung về vốn đầu tư mà còn có vai trò thúc đẩy chuyển giao côngnghệ, đặc biệt là thúc đẩy quá trình tích tụ vốn con người - một nhân tố thúc đẩytăng trưởng kinh tế trong dài hạn
Khu vực FDI đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội (KT- XH),FDI góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH- HĐH), tăng năng lực sản xuất, mở ra nhiều ngànhnghề sản phẩm mới, tạo việc làm và quan trọng hơn là đào tạo và nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực FDI góp phần phát triển quan hệ đối ngoại và chủ động hộinhập kinh tế quốc tế,mở rộng quy mô và thị trường xuất khẩu Tạo điều kiện để tiếpthu, đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh
và học tập kinh nghiệm quản lý
Điều này càng khẳng định sự lợi ích của FDI trong sự phát triển kinh tế, đặcbiệt là tại các quốc gia đang vươn mình cố gắng đạt đến giai đoạn cất cánh về kinh
tế Việt Nam là một những trường hợp điển hình hiện nay đang cố gắng bắt kịp cácquốc gia lân cận trong vùng Đông Nam Á
Trong quy hoạch tổng thể phát triển KT- XH của Hải Phòng đến năm 2010,kinh tế đối ngoại luôn được xem là lĩnh vực kinh tế động lực của thành phố Trong
đó hoạt động đầu tư nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng, là động lực để thúcđẩy phát triển KT- XH của thành phố theo định hướng CNH – HĐH
So với nhiều địa phương khác trong cả nước, Hải Phòng có lợi thế đặc biệt về
vị trí địa lý với vai trò là một trong những cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọngđiểm Bắc Bộ, là cảng biển quốc tế lớn nhất Miền Bắc và thứ hai cả nước (sau ThànhPhố Hồ Chí Minh), là đầu mối giao thông của các tuyến đường bộ, đường thủy,đường hàng không, đường sắt, là trung tâm thương mại du lịch lớn của Việt Nam,
Trang 5có hệ thống thông tin liên lạc hiện đại, dân số trẻ với lực lượng lao động dồi dào…Chính những lợi thế này giúp Hải Phòng là một trong những địa phương sớm nhấtcủa Miền Bắc xây dựng được khu công nghiệp (KCN) tập trung và có quy mô lớn
để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
Những năm gần đây, Thành Phố Hải Phòng luôn đứng trong “top” các tỉnh thành phố thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao nhất cả nước Đầu tư trực tiếpnước ngoài đem lại tốc độ phát triển nhanh cho nền kinh tế thành phố Hải Phòngcần thu hút FDI không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng Với kết quả đạt đượctrong thu hút FDI thời gian qua mở ra cho thành phố khả năng, triển vọng lớn trongtương lai về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Xuất phát từ tình hình thực tiễn nóitrên cùng với triển vọng phát triển của thành phố trong tương lai, em đã lựa chọn đề
-tài: “Góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Hải Phòng” Nội dung của
chuyên đề gồm 3 chương: Chương I giới thiệu tổng quan về đầu tư trực tiếp nướcngoài và môi trường đầu tư Chương II phân tích thực trạng thu hút vốn FDI theođối tác, theo hình thức đầu tư, theo ngành, lĩnh vực và thực trạng môi trường đầu tư
ở thành phố Hải Phòng từ đó đánh giá được những kết quả đạt được cũng nhưnhững tồn tại, hạn chế và nguyên nhân Trên cơ sở nguyên nhân của những tồn tạihạn chế và cơ hội, thách thức, mục tiêu của thành phố trong thời gian tới cũng nhưgiải pháp chung của nhà nước và thành phố, chương III sẽ đưa ra một số giải phápgóp phần hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút FDI vàothành phố
Trang 6Chương I: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài và
môi trường đầu tư.
1.1 Những lý luận cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm cơ bản của đầu tư
a Khái niệm về đầu tư:
Cho đến nay, đầu tư không còn là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất làvới những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội Tuy nhiên, thuật ngữnày lại được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Có người cho rằng đầu tư là phải bỏ mộtcái gì đó vào một hoạt động nhất định nhằm thu lại một lợi ích trong tương lai Nhưngcũng không ít người lại quan niệm đầu tư là các hoạt động sản xuất kinh doanh để thulợi nhuận Thậm chí thuật ngữ này còn được sử dụng rộng rãi như câu cửa miệng đểnói lên chi phí về thời gian, sức lực và tiền bạc vào mọi hoạt động của con người trongcuộc sống
Theo Jonh Marnad Keynes: “Đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiếnhành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính để thu lợi nhuận Đầu tư, theo cáchdùng thông thường là việc cá nhân hoặc công ty mua một tài sản tại sở giao dịch chứngkhoán” Trong khái niệm của mình ông đã nói đến mua tài sản tài chính, song chủ yếutập trung vào khái niệm đầu tư tạo thêm tài sản vật chất mới (như máy móc, thiết bị,nhà xưởng…), kéo theo các hoạt động khác, tạo thêm việc làm mới để thu về mộtkhoản lợi nhuận trong tương lai, “khi một người mua hoặc đầu tư một tài sản, người đómua quyền để được thu một loạt các khoản lợi tức trong tương lai mà người đó hyvọng dành được qua việc bán tài sản cố định làm ra…” Theo quan niệm của ông: kếtquả đầu tư về hình thái vật chất là tăng thêm tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặtgiá trị, kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra
Còn theo P.A.Samuelson: đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thực sự, theo cácdạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị, nhàxưởng và tăng thêm hàng tồn kho Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục,nâng cao chất lượng nhân lực, nghiên cứu, phát minh… Đối với ông thuật ngữ tàichính, đầu tư mang một ý nghĩa hoàn toàn khác, dùng đầu tư để chỉ một loại chứngkhoán… hay nói cách khác, đó không phải là đầu tư thực sự của nền kinh tế Trên góc
độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu là “hoạt động kinh tế từ bỏ tiêu
Trang 7dùng hôm nay với tầm nhìn để tăng sản lượng cho tương lai” Trên góc độ rủi ro củađầu tư, đầu tư được hiểu là “canh bạc của tương lai” với niềm tin, kì vọng thu nhập dođầu tư đem lại sẽ cao hơn chi phí đầu tư Các vấn đề mà Samuelson nêu ra trong cáccách tiếp cận về đầu tư đã cho biết đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hôm nay để có thunhập cao hơn trong tương lai và đó là quá trình chứa đựng những rủi ro Ngoài ra, ôngcũng xác định các dạng chính của đầu tư, trong đó có cả hoạt động đầu tư cho khoahọc, kỹ thuật và phát triển con người Như vậy, có thể nói khái niệm về đầu tư màP.A.Samuelson đưa ra là khái niệm tương đối đầy đủ.
Tóm lại, có nhiều những quan niệm khác nhau về đầu tư nhưng có thể coi kháiniệm sau đây là đầy đủ nhất: đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại đểtiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớnhơn các nguồn lực đã bỏ ra Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt đượccác kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải bỏ ra khitiến hành đầu tư Kết quả đầu tư là năng lực sản xuất mới tăng thêm, tài sản cố địnhmới được đưa vào sử dụng, số lượng và chất lượng nhân lực tăng thêm, tiềm lực khoahọc, công nghệ được tích lũy…
b Đặc điểm của đầu tư:
Có ba đặc điểm quan trọng để phân biệt hoạt động đầu tư với các hoạt động khác
là hoạt động đầu tư có sử dụng vốn, có sinh lời và có rủi ro
* Có sinh lời: lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội
Người ta không thể bỏ ra một số lượng tài sản mà lại không dự tính thu được giátrị cao hơn giá trị ban đầu Lợi nhuận là chênh lệch giữa thu nhập mà hoạt động đầu tưđem lại cho chủ đầu tư với chi phí mà chủ đầu tư phải bỏ ra để tiến hành hoạt động đầu
tư đó Lợi ích kinh tế xã hội là chênh lệch giữa những gì mà xã hội thu được với những
gì mà xã hội mất đi từ hoạt động đầu tư Lợi ích kinh tế xã hội được đánh giá qua cácchỉ tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng Thông thường, tư nhân và doanh nghiệptheo đuổi mục tiêu lợi nhuận; còn chính phủ theo đuổi mục tiêu lợi ích kinh tế xã hội
Trang 8* Có rủi ro:
Hoạt động đầu tư thường diễn ra trong thời gian dài vì vậy nó có tính rủi ro Thờigian càng dài mức độ rủi ro càng cao Ngoài ra, trình độ quản lý của nhà đầu tư và thựctrạng nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến mức độ rủi ro
1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài
a Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) tuy không còn làhình thức quá mới mẻ ở Việt Nam nhưng để đưa ra một khái niệm tổng quát về FDIcũng không phải là dễ Xuất phát từ nhiều khía cạnh, góc độ, quan điểm khác nhau trênthế giới đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về FDI
Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF – International Monetary Fund), đầu tư trực tiếpnước ngoài là một công cuộc đàu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tưtrực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài mộtdoanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác.Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI.Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở hữu tạinước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác Đó là một khoản tiền
mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết địnhđối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: một doanhnghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tưcách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc
có quyền biểu quyết
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) lại đưa ra định nghĩa về FDI như sau: Đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước( nước chủ đầu tư) cóđược một tài sản ở một nước khác( nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản
đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác
Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương Mại và phát triển (UNCTAD) cũng đưa ramột khái niệm về FDI Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp( trực tiếphoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư nước ngoài cho các doanhnghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệpFDI
Còn luật đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm:Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
Trang 9bằng tiền nước ngoài hoặc bất kì tài sản nào đó được chính phủ Việt Nam chấp thuận
để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặcdoanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này
Luật đầu tư 2005 không có định nghĩa cụ thể về đầu tư trực tiếp nước ngoàinhưng theo khoản 2 và khoản 12 điều 3 định nghĩa:
“Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vàtham gia quản lý hoạt động đầu tư”
“Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Namvốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”
Từ những khái niệm trên có thể hiểu: Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại mộtquốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nàovào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thựcthể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình Như vậy, FDI baogiờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài
b Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Tìm kiếm lợi nhuận: do chủ thể là tư nhân nên tìm kiếm lợi nhuận được coi làmục đích ưu tiên hàng đầu của hoạt động FDI Do đó, các nước nhận đầu tư, nhất làcác nước đang phát triển cần lưu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựngcho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý đểhướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình,tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốnpháp định hoặc vốn điều lệ tuỳ theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyềnkiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư Luật Mỹ quy định tỷ lệnày là 10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam theo luật hiện hành là 30% còn theo quiđịnh của OECD (1996) thì tỷ lệ này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyếtcủa doanh nghiệp - mức được công nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia thực
sự vào quản lý doanh nghiệp Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốnpháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời đây cũng là căn cứ đểphân chia lợi nhuận và rủi ro Theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam, trong doanhnghiệp liên doanh, các bên chỉ định người của mình tham gia vào Hội đồng quản trị theo
tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp vào vào vốn pháp định của liên doanh
Trang 10- Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ khôngphải lợi tức
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịutrách nhiệm về lỗ lãi Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư,hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, tựđưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ Vì thế, hình thức này mang tính khả thi vàhiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng
nợ nần cho nền kinh tế nước nhận đầu tư
- FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư.Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật tiêntiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý Ví dụ trong lĩnh vực bưu chính viễn thông của ViệtNam, hầu hết công nghệ mới trong lĩnh vực này có được nhờ chuyển giao công nghệ từnước ngoài
- Đối với nhà đầu tư: Chủ động nên có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư,lợi nhuận thu về cao hơn Có thể chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm, khai thácnguồn nguyên liệu, nhân công giá rẻ và những lợi thế khác của nước nhận đầu tư, tranhthủ những ưu đãi từ các nước nhận đầu tư Tuy nhiên hình thức này mang tính rủi rocao vì nhà đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm về dự án đầu tư Hoạt động đầu tư chịu sựđiều chỉnh từ phía nước nhận đầu tư Không dễ dàng thu hồi và chuyển nhượng vốn
1.1.2 Các hình thức FDI cơ bản
FDI không chỉ là sự lưu chuyển vốn mà còn thường đi kèm theo công nghệ, kiếnthức kinh doanh và mạng lưới phân phối rộng khắp toàn cầu Do vậy FDI là hình thức
có ưu thế đối với các nước đang phát triển FDI có nhiều hình thức nhưng trong phạm
vi của chuyên đề tôi chỉ đề cập đến 3 hình thức chủ yếu và đây cũng là 3 hình thức cơ
Trang 11bản được áp dụng ở Việt Nam Đó là: hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, hìnhthức doanh nghiệp liên doanh, hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
1.1.2.1 Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)
BCC là hình thức đầu tư mà các bên tham gia hợp đồng ký kết thỏa thuận để cùngnhau tiến hành thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh ở nước sở tại, trên cơ sởquy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bên Trên thế giới,biểu hiện của hình thức BCC cũng khác nhau về tên gọi, địa vị pháp lý và mục tiêu ápdụng Theo luật ĐTNN Việt Nam, BCC là văn bản được ký kết giữa hai hoặc nhiềubên để tiến hành hoạt động đầu tư mà không hình thành pháp nhân mới Quy định nàythực tế làm nhiều nhà đầu tư phải cân nhắc vì có thể hạn chế khả năng khuyếch trươngthương hiệu ra bên ngoài
Như vậy, đặc điểm cơ bản của hình thức BCC là các bên cùng nhau góp vốn,cùng tham gia quản lý hoạt động kinh doanh thông qua một ban điều phối chung, cùngphân chia kết quả kinh doanh theo vốn góp Đối với các nhà ĐTNN, hình thức này có
ưu điểm là thủ tục thành lập và triển khai thực hiện tương đối đơn giản, giúp dự ánnhanh đi vào hoạt động Hình thức này thường không đòi hỏi vốn lớn và thời hạn hợpđồng thường ngắn, cũng chính vì vậy mà ít thu hút được những nhà đầu tư nước ngoài
có tiềm năng
1.1.2.2 Hình thức doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghệp được thành lập tại nước nhận đầu tư(nước chủ nhà) giữa các bên nước ngoài và nước chủ nhà trong đó các bên cùng đónggóp vốn, cùng kinh doanh và cùng hưởng quyền lợi, nghĩa vụ theo tỷ lệ góp vốn Nó cóthể dựa trên cơ sở hợp đồng liên doanh, hoặc Hiệp định ký giữa chính phủ Việt Nam
và chính phủ nước ngoài, hoặc là do doanh nghiệp có vốn FDI hợp tác với doanhnghiệp Việt Nam
Đặc điểm pháp lý, tỷ lệ góp vốn pháp định và điều kiện áp dụng hình thức doanhnghiệp liên doanh giữa các nước có sự khác nhau nhất định Trung Quốc quy địnhtrong doanh nghiệp liên doanh, bên nước ngoài không được góp vốn ít hơn 25% ởMalaysia đưa ra nhiều mức vốn góp cho bên nước ngoài tùy theo tỷ lệ xuất khẩu Nếu
tỷ lệ xuất khẩu đạt trong khoảng 51- 79% thì chỉ được sở hữu vốn tối đa đến 79%, đốivới các dự án có tỷ lệ xuất khẩu 20- 25% thì mức sở hữu vốn của bên nước ngoài chỉ từ30- 51% Trong khi đó, Luật pháp Việt Nam quy định tỷ lệ góp vốn pháp đinh tối thiểucủa bên nước ngoài là 30%
Trang 12Lựa chọn hình thức doanh nghiệp liên doanh có thể mang lại cho nhà đầu tư một
số lợi thế nhất định Thứ nhất, thông qua các đối tác sở tại, các nhà ĐTNN có thể amhiểu thêm về môi trường đầu tư tại nước sở tại Thứ hai, các nhà ĐTNN có thể chia sẻbớt chi phí và rủi ro với các đối tác ở nước sở tại Thứ ba, do một số quốc gia bắt buộc
áp dụng hình thức doanh ngiệp liên doanh khi đầu tư vào một số ngành và lĩnh vựcnhất định, khi đó doanh nghiệp liên doanh được xem là phương thức thâm nhập thịtrường duy nhất khi muốn đầu tư vào lĩnh vực đó
Bên cạnh đó, đầu tư theo hình thức doanh nghiệp liên doanh cũng có nhữngnhược điểm nhất định Thứ nhât, đầu tư theo hình thức doanh nghiệp liên doanh cónguy cơ bị lộ bí quyết công nghệ cho đối tác về lâu dài Thứ hai, hạn chế khả năngkiểm soát đối với các chi nhánh ở nước ngoài trong một số trường hợp Ngoài ra, nướcchủ nhà cũng có thể gặp bất lợi nếu trình độ quản lý yếu kém hơn nhiều so với phíanước ngoài vì khi đó sẽ dế bị phía nước ngoài chi phối, hiệu quả đầu tư có thể khôngcao như dự kiến
1.1.2.3 Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nướcngoài Có quan điểm cho rằng doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanhnghiệp thuộc sở hữu hoàn toàn của nhà ĐTNN, được thành lập và hoạt động tại nước
sở tại, do nhà ĐTNN trực tiếp quản lý đối tượng bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về kếtquả kinh doanh của doanh nghiệp Cũng có quan điểm cho rằng doanh nghiệp 100%vốn đầu tư nước ngoài là thực thể kinh doanh quốc tế, có tư cách pháp nhân trong đónhà ĐTNN góp 100% vốn pháp định, tự quản lý hoạt động kinh doanh và tư chịu tráchnhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp 100% vốnđầu tư nước ngoài tại Việt Nam có những đặc điểm cơ bản như thuộc quyền sở hữu củanhà ĐTNN, do nhà ĐTNN thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm vềkết quả kinh doanh, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam Sự khác nhau giữacác quốc gia là đưa ra những điều kiện cho các nhà ĐTNN khi lựa chọn hình thức này.Malaysia quy định muốn áp dụng hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nướcngoài, dự án đó phải có từ 80% sản phẩm xuất khẩu; hay Trung Quốc, Hàn Quóc vàThái Lan quy định chỉ áp dụng hình thức này cho các dự án FDI trong các ngành kỹthuật cao và phần lớn sản phẩm xuất khẩu Chính vì vậy mà hình thức này ít đượckhuyến khích ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có thể mang lại nhiều lợithế cho cả nước chủ nhà và nước đi đầu tư Nước chủ nhà không phải góp vốn và
Trang 13không phải chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của đầu tư đối với những lĩnh vực
có độ rủi ro cao hoặc với những ngành sản xuất mới Với phía nước ngoài thì đây cũng
là hình thức được ưa chuộng bởi ngoài việc tuân thủ những quy định có tính pháp luậtcủa nước chủ nhà thì bên phía nước ngoài được toàn quyền trong việc điều hành vàquản lý doanh nghiệp của mình, không bị bất kỳ sự can thiệp nào khác, không mất thờigian cho việc tìm “tiếng nói chung” với những người cùng tham gia điều hành nhưhình thức liên doanh Bên cạnh đó, hình thức này cũng có bất lợi là chi phí thành lập vàrủi ro hoạt động cao hơn so với các hình thức khác
1.1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.3.1 Vai trò của FDI đối với nước đi đầu tư
Trong thời đại và bối cảnh thế giới hiện nay, trên cơ sở đem lại lợi ích cho cả haibên, vai trò của hoạt động FDI được hiểu là do sự tác động đồng thời của bản thân hoạtđộng đầu tư đối với cả nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư Bài viết này chủ yếu đề cậpđến vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các nước phát triển khi ở vị trí cácnước đi đầu tư và các nước đang phát triển khi ở vị trí các nước nhận đầu tư
a Tích cực
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép nước đi đầu tư có thể tận dụngđược lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư Đối với các nước đi đầu tư, họ nhận thấy tỷsuất lợi nhuận đầu tư ở trong nước có xu hướng ngày càng giảm, kèm theo hiện tượngthừa tương đối tư bản Bằng đầu tư ra nước ngoài, họ tận dụng được lợi thế về chi phísản xuất thấp ở nước nhận đầu tư (chủ yếu là các nước đang phát triển thường cónguồn tài nguyên phong phú, nhưng do hạn chế về vốn và công nghệ nên chưa đượckhai thác, tiềm năng còn rất lớn nên chi phí khai thác nguyên vật liệu thấp, giá lao độngrẻ) Nhờ đó, hạ giá thành sản phẩm giảm chi phí vận chuyển đối với việc sản xuấthàng thay thế nhập khẩu của nước nhận đầu tư, vì vậy mà nâng cao hiệu quả của vốnđầu tư
Thứ hai, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm thông qua chuyển giao công nghệ.Thông qua đầu tư trực tiếp, các công ty của các nước phát triển chuyển được một phầncác sản phẩm công nghiệp (chủ yếu là các máy móc thiết bị) ở giai đoạn cuối của chu
kỳ sống của chúng sang nước nhận đầu tư để tiếp tục sử dụng chúng như là sản phẩmmới ở các nước này hay ít ra cũng như các sản phẩm đang có nhu cầu trên thị trườngnước nhận đầu tư, nhờ đó mà tiếp tục duy trì việc sử dụng các sản phẩm này, tạo thêmlợi nhuận cho các nhà đầu tư Với sự phát triển như vũ bão của khoa học – kỹ thuậtngày nay thì bất cứ một trung tâm kỹ thuật tiên tiến nào cũng cần phải luôn luôn có thị
Trang 14trường công nghệ loại hai, có như vậy mới đảm bảo thường xuyên thay đổi công nghệ,
kỹ thuật mới
Thứ ba, bành trướng sức mạnh kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép chủđầu tư bành trướng sức mạnh kinh tế nhờ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, lạitránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của nước nhận đầu tư khi xuất khẩu sản phẩm làmáy móc thiết bị sang nước nhận đầu tư để góp vốn và xuất khẩu sản phẩm tại đâysang các nước khác (do chính sách xuất khẩu ưu đãi của các nước nhận đầu tư nhằmkhuyến khích đầu tư trực tiếp của nước ngoài, chuyển giao công nghệ và sản xuất hàngxuất khẩu của các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài) nhờ đó mà giảm được giá thành sảnphẩm, tăng sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu tư nước khác
b Tác động tiêu cực
Mặc dù có rất nhiều lợi ích như vậy nhưng FDI vẫn có những ảnh hưởng tiêu cựcđối với nước chủ đầu tư FDI làm vốn đầu tư chảy ra nước ngoài dẫn tới giảm tăngtrưởng GDP và việc làm trong nước Việc đầu tư cho quốc gia khác sẽ dẫn đến chảycác nguồn lực của quốc gia ra bên ngoài, do đó các nguồn lực tập trung cho phát triển
và tăng trưởng quốc gia sẽ ngày càng ít đi
Vốn được đầu tư ra bên ngoài nên không được đầu tư trong nước sẽ không tạothêm việc làm, dễ làm gia tăng thất nghiệp trong nước Tuy nhiên, cũng cần xemxét cụ thể từng trường hợp vì có thể việc đầu tư ra bên ngoài lại có tác động làmgia tăng việc làm trong nước nếu nó làm tăng các hoạt động xuất khẩu phục vụcho hoạt động đầu tư đó
Vốn chảy ra bên ngoài có thể ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc gia vì mấtthị trường xuất khẩu Bởi vì, nếu đầu tư một nhà máy ở nước ngoài sản xuất mặt hàngbán cho thị trường đó thì coi như nước đầu tư sẽ mất luôn thị trường xuất khẩu màtrước đây mình xuất hàng sang, thu ngoại tệ, nghĩa là mất đi một nguồn thu ngoại tệquan trọng
1.1.3.2 Vai trò của FDI đối với nước nhận đầu tư
a Tác động tích cực
Để phát triển kinh tế xã hội, các nước đang phát triển trước hết phải đương đầuvới sự thiếu thốn gay gắt các nguồn lực cần thiết cho sự phát triển Việc tiếp nhận đầu
tư trực tiếp nước ngoài có những ưu điểm sau đây:
Thứ nhất, giải quyết tình trạng thiếu vốn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế FDI cóthể ảnh hưởng tới nền kinh tế ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội Tuy nhiên,đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước nghèo, kỳ vọng lớn nhất của việc thu
Trang 15hút FDI chủ yếu là nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế FDI là một trong những nguồnvốn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt vốn đầu tư góp phần tạo động lực cho sự tăngtrưởng và phát triển Đối với các nước đang phát triển, việc tiếp nhận vốn đầu tư nướcngoài sẽ vừa tác động đến tổng cầu, vừa tác động đến tổng cung của nền kinh tế Vềmặt tổng cầu, vì đầu tư là một bộ phận của tổng cầu nên khi đầu tư tăng lên có nghĩa lànhu cầu về chi tiêu để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệu xâydựng… tăng lên Sự thay đổi này làm cho tổng cầu tăng lên Mức sản lượng cân bằngtăng lên Xét ở khía cạnh sản xuất, đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, làm tăng khảnăng sản xuất của nền kinh tế Sự thay đổi này tác động đến tổng cung làm mức sảnlượng cân bằng tăng lên.
Ngoài ý nghĩa bổ sung một lượng vốn đáng kể cho đầu tư phát triển kinh tế, cầnnói đến chất lượng của vốn FDI Sự có mặt của nguồn vốn này đã góp phần tạo điềukiện cho nguồn vốn Nhà nước tập trung vào các vấn đề kinh tế xã hội ưu tiên (cơ sở hạtầng, các công trình phúc lợi xã hội ) Nguồn vốn này cũng góp phần nâng cao chấtlượng, hiệu quả các nguồn vốn trong nước Vốn trong dân được kích thích đưa vào sảnxuất, kinh doanh Các doanh nghiệp Nhà nước phải tăng cường đầu tư và chú ý đếnhiệu quả đầu tư trong điều kiện phải cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn FDI Cácdoanh nghiệp có vốn FDI tạo ra các liên kết với các công ty trong nước nhận đầu tưthông qua các mối quan hệ cung cấp dịch vụ, nguyên vật liệu, gia công Qua đó FDIthúc đẩy đầu tư trong nước phát triển, gắn kết các công ty trong nước với thị trường thếgiới Nhờ vậy, các tiềm năng trong nước được khai thác với hiệu quả cao
Thứ hai, đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý.Các nước đang phát triển thường có cơ cấu kinh tế bất hợp lý, chủ yếu phát triển khuvực một do không có nhiều vốn Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, conđường tất yếu để có thể tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tưnhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ Đầu tư sẽgóp phần giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa nhữngvùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng nghèo đói, phát huy tối đa những lợi thế về tàinguyên, địa lý, kinh tế… Cơ cấu ngành, cơ cấu công nghệ, cơ cấu sản phẩm và laođộng, cơ cấu lãnh thổ sẽ được thay đổi theo chiều hướng ngày càng đáp ứng tốt hơncác nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Như vậy, đầu tư trực tiếp nướcngoài sẽ cung cấp vốn để đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, dần dần mangtính chất của một nền kinh tế phát triển
Trang 16Thứ ba, thúc đẩy chuyển giao công nghệ Các nước đi đầu tư thường có tiềm lực
về vốn, có điều kiện nghiên cứu triển khai công nghệ kỹ thuật cao, luôn xuất hiện côngnghệ kỹ thuật mới dẫn tới xuất hiện công nghệ hạng hai, hạng ba và nhu cầu chuyểngiao công nghệ Trong khi đó, nước sở tại khan hiếm vốn không có điều kiện nghiêncứu nên mặt bằng công nghệ thường thấp hơn, luôn có nhu cầu tiếp nhận công nghệsong cũng rất hạn chế việc tiếp nhận công nghệ thông qua con đường thương mại vìkhông có vốn Do đó, việc thông qua FDI để tiếp nhận công nghệ là một ưu điểm lớn.Với hình thức này, các nước tiếp nhận có điều kiện tiếp nhận công nghệ mới và tậndụng được các công nghệ hạng hai đã lỗi thời ở các nước đối tác song vẫn còn tiên tiếnhơn so với công nghệ trong nước với chi phí thấp, tiết kiệm được thời gian nghiên cứu,
có điều kiện đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách về mặt bằng công nghệ kỹ thuật Đầu
tư trực tiếp nước ngoài có tác dụng lan tỏa, thúc đẩy cạnh tranh và phát triển doanhnghiệp nội địa ở các nước đang phát triển Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đầu tưtrực tiếp nước ngoài được nâng cao qua số lượng các doanh nghiệp đầu tư trực tiếpnước ngoài tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất Hoạt động của các doanhnghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam cũng đã thúc đẩy các doanh nghiệp trongnước không ngừng đổi mới công nghệ, phương thức quản lý để nâng cao hơn chất lượng.sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế
Thứ tư, tạo việc làm phát triển nguồn nhân lực FDI giúp các nước đang triển tậndụng được lợi thế về nguồn lao động dồi dào Ở nhiều nước, khu vực có vốn FDI tạo ra
số lượng lớn việc làm cho người lao động đặc biệt là trong lĩnh vực chế tạo Nhìnchung, số lượng việc làm trong khu vực có vốn FDI và tỷ trọng trong tổng lao động ởcác nước đang phát triển có xu hướng tăng lên Bên cạnh đó, FDI còn góp phần vàoviệc đào tạo, nâng cao trình độ cho người lao động Năng suất lao động trong cácdoanh nghiệp có vốn FDI thường cao hơn trong các doanh nghiệp trong nước Với tiêuchí coi hiệu quả làm việc là ưu tiên hàng đầu trong tuyển dụng và sử dụng lao động,các doanh nghiệp có vốn FDI thường xây dựng được một đội ngũ công nhân, nhânviên lành nghề, có tác phong công nghiệp, có kỷ luật cao Đội ngũ cán bộ của nướcnhận đầu tư tham gia quản lý hoặc phụ trách kỹ thuật trong các dự án FDI trưởng thànhnhiều mặt Phần lớn số lao động cấp cao này được tham gia đào tạo, huấn luyện ở trong
và ngoài nước, được tiếp thu những kinh nghiệm quản lý điều hành của các nhà kinhdoanh nước ngoài Đặc biệt với hình thức doanh nghiệp liên doanh, chủ đầu tư củanước chủ nhà tham gia quản lý cùng các nhà đầu tư nước ngoài nên có điều kiện tiếpcận và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài trong sản xuất kinh doanh,
Trang 17nâng dần kiến thức kinh doanh hiện đại của mình lên, ví dụ như: kinh nghiệm xây dựng
và đánh giá dự án, kinh nghiệm tổ chức và điều hành doanh nghiệp, quản lý tài chính,
kế toán, quản lý công nghệ, nghiên cứu thị trường, nghệ thuật tiếp thị, thông tin quảngcáo, tổ chức mạng lưới dịch vụ
Ngoài các tác động đã trình bày ở trên, FDI còn có nhiều ảnh hưởng tích cực đếncác nước nhận đầu tư như: FDI góp phần ổn định các cân đối vĩ mô của nền kinh tế(cân bằng cung – cầu hàng hóa trong nước, xuất – nhập khẩu, thu – chi ngân sách nhànước…), mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trườngthế giới, củng cố và mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hộinhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới…
b Tác động tiêu cực
Thứ nhất, FDI cạnh tranh với sản xuất trong nước Cái hại rõ nhất là FDI sẽ cạnhtranh và nhiều khả năng “bóp chết” sản xuất trong nước nếu cùng một kỹ nghệ vớinhau vì công ty FDI có khả năng khoa học kỹ thuật và tính hiệu quả cao hơn Giá thànhsản phẩm có thể rẻ hơn mà chất lượng tốt hơn trong nước Ví dụ: ngành công nghiệpgiấy Việt Nam hiện nay thừa nguyên liệu bột giấy nhưng thiếu sản phẩm giấy cao cấp(giấy tráng), phải nhập cảng gần như toàn bộ loại này, trong khi đó lại xuất cảng gỗdăm Các nhà máy Việt Nam chỉ làm ra được các loại giấy in báo, giấy in và viết, giấylụa, giấy bao bì không tráng với trình độ khoa học kỹ thuật khá thấp Trên nguyên tắc,ngành giấy Việt Nam là một môi trường thích hợp để thu hút FDI Tuy nhiên, nếu tiếnhành không khéo, rất nhiều khả năng giá thành FDI làm ra sẽ rẻ hơn mà chất lượng tốthơn, từ từ sẽ giết chết sản xuất giấy trong nước
Thứ hai, FDI có thể gây ra lạm phát Hiện nay các công trình nghiên cứu tậptrung nhiều vào hiện tượng các quốc gia có lạm phát thấp và tỉ giá hối đoái ổn định làmôi trường tốt nhất để thu hút nguồn FDI Điều này cũng dễ hiểu vì doanh nghiệp FDI
lo ngại nếu lạm phát cao và tỉ giá hối đoái không ổn định, lợi nhuận tạo ra có thể bị triệttiêu khi chuyển đổi trở lại ngoại tệ mạnh Việt Nam hiện nay có lạm phát khá cao(khoảng 28%) nhưng có thuận lợi là tỉ giá hối đoái VND và USD tương đối ổn địnhnhờ có dự trữ ngoại tệ mạnh khá dồi dào (khoảng 15 tỷ dollar, trong đó kiều hối đónggóp một phần quan trọng) Tuy nhiên cũng cần lưu ý là FDI có thể là nguyên nhân gây
ra lạm phát trong nước vì lương nhân công sẽ được trả cao hơn, giá cả nguyên vật liệu
sẽ tăng vọt cũng như tiền thuê mướn mặt bằng, giá sinh hoạt dịch vụ ngoại vi sẽ tăngdần lên và đưa đến lạm phát
Trang 18Thứ ba, FDI ảnh hưởng đến môi trường và làm khánh kiệt tài nguyên thiên nhiên.Một trong những chi phí lớn của doanh nghiệp nước ngoài là chi phí bảo toàn môitrường và luật lệ của các quốc gia phát triển rất nghiêm ngặt về vấn đề này Hiện nayvẫn còn nhiều sự tranh cãi về ảnh hưởng của FDI đến môi trường với giả thuyết “nơitrú ẩn của ô nhiễm” ám chỉ các FDI muốn vào các quốc gia chậm tiến vì luật lệ và kiếnthức về ô nhiễm còn thấp nên họ có khả năng tiết giảm chi phí về khoản này Hiệntượng FDI làm khánh kiệt tài nguyên thiên nhiên là một thực tế có thể xảy ra nhất làđối với các loại FDI nhằm vào tài nguyên và lao động rẻ tiền.
Thứ tư, tác động tới đời sống xã hội Điều đầu tiên dễ thấy là sự cách biệt giàunghèo giữa các khu công nghiệp có doanh nghiệp FDI trú đóng và phần còn lại củaquốc gia sẽ tăng dần lên và người dân có thể sẽ bỏ dần nông thôn và di chuyển về cácnơi thành thị Có rất nhiều trường hợp vì muốn thu hút FDI nên quốc gia sở tại đã nớilỏng các quy định về lao động khiến quyền lợi của công nhân có thể bị xâm phạm,phúc lợi tập thể không được giải quyết thỏa đáng mà thiếu sự giúp đỡ của chính quyềnđịa phương
1.2 Những lý luận cơ bản về môi trường đầu tư
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường đầu tư
a Khái niệm về môi trường đầu tư
Môi trường được hiểu một cách đơn giản là một không gian hữu hạn bao quanhnhững hiện tượng sự vật, yếu tố hoặc một quá trình hoạt động nào đó như: môi trườngkhí, môi trường nước, môi trường văn hóa, môi trường thể chế, môi trường sống, môitrường làm việc… Nói một cách khác chính xác hơn, môi trường là tập hợp các yếu tố,những điều kiện tạo nên khung cảnh tồn tại và phát triển của một chủ thể Môi trườngđầu tư là một thuật ngữ đã được đề cập nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế và quản trịkinh doanh ở nhiều nước trên thế giới Tại Việt Nam khi chuyển đổi sang nền kinh tếthị trường, thực thi chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế hội nhập với thế giới, thuhút vốn đầu tư nước ngoài thì vấn đề môi trường đầu tư mới được quan tâm nghiên cứunhiều hơn và vấn đề cải thiện môi trường đầu tư được đặt ra như là một giải pháp chophát triển kinh tế, hội nhập kinh tế thế giới và thực thi các cam kết của Việt Nam vớiquốc tế
Tuy nhiên, môi trường đầu tư được nghiên cứu và xem xét theo nhiều cách khácnhau, tùy thuộc vào mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và cách tiếp cận vấn đề.Sau đây là một số khái niệm về môi trường đầu tư tiêu biểu:
Trang 19Khái niệm 1: Môi trường đầu tư được hiểu là tổng hợp các yếu tố, điều kiện vềpháp luật, kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, nguồn lựctăng trưởng và cả các lợi thế của một quốc gia… có ảnh hưởng đến hoạt động đầu tưcủa các nhà đầu tư tại một quốc gia.
Khái niệm 2: Môi trường đầu tư là tập hợp các yếu tố có tác động tới các cơ hội,các ưu đãi, các lợi ích của các doanh nghiệp khi đầu tư mới, mở rộng sản xuất kinhdoanh, các chính sách của chính phủ có tác động chi phối tới hoạt động đầu tư thôngqua chi phối rủi ro, cạnh tranh…
Khái niệm 3: Môi trường đầu tư là tất cả các yếu tố có tác động dến lợi ích củanhà đầu tư mà có thể dự tính được Các yếu tố đó có liên hệ tương tác lẫn nhau như vấn
đề về co sở thượng tầng, chính sách kinh tế vĩ mô, hệ thống pháp luật minh bạch vàhiệu quả (là vấn đề được các nhà đầu tư quan tâm nhiều nhất) và một yếu tố không kémphần quan trọng là số và chất lượng vật chất cơ sở hạ tầng kỹ thuật như: điện, nước,giao thông vận tải, thông tin liên lạc, dịch vụ tài chính – ngân hàng, trình độ lao động…Như vậy, các khái niệm về môi trường đàu tư dù là tiếp cận ở góc độ nào cũng đềcập đén môi trường tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư,những yếu tố, điều kiện có ảnh hường, tác động đến sự tồn tại và phát triển của cácdoanh nghiệp Do đó, có thể khẳng định: môi trường đầu tư là tổng hợp các yếu tố vàđiều kiện khách quan, chủ quan bên ngoài, bên trong của doanh nghiệp hoặc các nhàđầu tư, có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đếnhoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư
b Đặc điểm của môi trường đầu tư
* Tính khách quan của môi trường đầu tư: bất kỳ một nhà đầu tư nào hay mộtdoanh nghiệp nào muốn tồn tại một cũng phải đặt mình trong một môi trường đầu tưkinh doanh nhất định, ngược lại cũng không thể có môi trường đầu tư nào mà lại không
có một nhà đầu tư hay một đơn vị sản xuất kinh doanh Nói cách khác, ở đâu có hoạtđộng đầu tư sản xuất kinh doanh thì ở đó sẽ hình thành môi trường đầu tư Môi trườngđầu tư tồn tại một cách khách quan, nó có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khókhăn cho các nhà đầu tư Môi trường đầu tư một mặt tạo ra các ràng buộc cho các hoạtđộng đầu tư, mặt khác lại tạo ra những cơ hội thuận lợi cho các nhà đầu tư
* Tính tổng hợp: tính tổng hợp thể hiện ở chỗ nó bao gồm nhiều yếu tố cấu thành
có mối quan hệ qua lại ràng buộc lẫn nhau Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xãhội, trình độ quản lý mà số lượng và những bộ phận cấu thành cụ thể của môi trườngđầu tư có sự khác nhau
Trang 20* Tính đa dạng: môi trường đầu tư là sự đan xen của các môi trường thành phần,các yếu tố của các môi trường thành phần có tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Do
đó, khi nghiên cứu và phân tích môi trường đầu tư phải xem xét tổng thể trong mốitương quan giữa các môi trường thành phần và giữa các yếu tố với nhau
* Môi trường đầu tư có tính động: môi trường đầu tư và các yếu tố cấu thành luônluôn vận động và biến đổi Sự ổn định của môi trường đầu tư chỉ mang tính tương đốihay ổn định trong sự vận động Môi trường đầu tư luôn vận động và biến đổi bởi ngaynội tại của hoạt động đầu tư cũng là một quá trình vận động và biến đổi không ngừng.Các nhà đầu tư muốn nâng cao hiệu quả đầu tư của mình cần có được một dự báo về sựthay đổi của môi trường đầu tư để từ đó có các quyết định đầu tư chuẩn xác, phù hợpvới môi trường đầu tư Để cải thiện môi trường đầu tư phải tìm cách ổn định các yếu tốcủa môi trường đầu tư trong xu thế vận động của nó và phải cải thiện nó liên tục Nóicách khác là khi nghiên cứu và phân tích môi trường đầu tư phải đứng trên quan điểmđộng, phải xem xét và phân tích các yếu tố của môi trường đầu tư trong trạng thái vừavận động, vừa tác động tương hỗ lẫn nhau, tạo thành những tác lực chính cho sự vậnđộng và phát triển của môi trường đầu tư
* Tính hệ thống: môi trường đầu tư có mối liên hệ và chịu tác động của các yếu tốthuộc môi trường rộng lớn hơn, theo từng cấp độ như: môi trường đầu tư ngành, môitrường đầu tư quốc gia, môi trường đầu tư quốc tế… Sự ổn định của môi trường đầu tưphụ thuộc vào tính phức tạp và tính biến động của các môi trường tương tác
1.2.2 Nội dung của môi trường đầu tư
Nghiên cứu môi trường đầu tư là rất cần thiết cho công tác quản lý vĩ mô của nhànước Hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư đều chịu sự tác động của các yếu tốcấu thành môi trường đầu tư, các yếu tố của môi trường đầu tư lại luôn biến động, luônthay đổi theo từng thời điểm, từng ngành, từng khu vực và từng quốc gia Các yếu tốcủa môi trường đầu tư có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen lẫn nhau, cónhững yếu tố vừa thuộc phạm vi kinh tế, vừa thuộc phạm vi chính trị Do vậy, việcphân chia thành các nhóm yếu tố môi trường chỉ có tính chất tương đối và khi phân tích
sẽ khó tránh khỏi trùng lặp Sau đây sẽ là các nhóm yếu tố môi trường cơ bản của môitrường đầu tư quốc gia hay còn gọi là môi trường đầu tư kinh doanh tổng quát
1.2.2.1 Môi trường chính trị - xã hội
Sự ổn định về chính trị, thể chế chính trị, sự nhất quán trong chủ trương, đườnglối, chính sách cơ bản của nhà nước luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sự thuhút ĐTNN bởi nó đảm bảo việc thực hiện các cam kết của chính phủ trong các vấn đề
Trang 21sở hữu vốn đầu tư, hoạch định các chính sách ưu tiên, định hướng phát triển đầu tư củamột nước Ổn định chính trị sẽ tạo ra sự ổn định về kinh tế xã hội và giảm bớt độ rủiroc ho các nhà đầu tư nhất là các nhà đầu tư nước ngoài Đặc trưng nổi bật về sự tácđộng của những yếu tố chính trị đối với hoạt động đầu tư thể hiện ở những mục đích
mà thể chế chính trị nhắm tới Thể chế chính trị giữ vai trò định hướng, chi phối toàn
bộ các hoạt động trong xã hội trong đó các hoạt động đầu tư kinh doanh của các nhàđầu tư thông qua vai trò của nhà nước cầm quyền
Tình hình chính trị không ổn định sẽ dẫn tới việc bất ổn định về chính sách vàđường lối phát triển không nhất quán Khi gặp rủi ro chính trị, các biến cố và hoạt độngchính trị có thể gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường đầu tư, với lợi nhuậndài hạn tiềm tàng của các dự án đầu tư đem lại cho các nhà đầu tư Ngoài ra còn có một
số yếu tố rất quan trọng của môi trường chính trị là xung đột với nước ngoài Xung độtvới nước ngoài là mức độ thù địch của một quốc gia với một quốc gia khác, khi xảy raxung đột các quốc gia thường áp dụng chính sách cấm vận, trừng phạt kinh tế, chínhtrị… mà hậu quả hay các thiệt hại của nó thì các nhà đầu tư sẽ phải gánh chịu đầu tiên.Như vậy, ổn định môi trường chính trị xã hội có vai trò đặc biệt quan trong trong việcthu hút FDI
1.2.2.2 Môi trường cơ sở hạ tầng
Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm: mạng lưới giao thông vận tải, đường
sá, cầu cống, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống cung cấp năng lượng, phương tiện vậnchuyển, mạng lưới thông tin – bưu chính – viễn thông, tính hữu hiệu của các dịch vụmôi giới, dịch vụ ngân hàng, tài chính… Những yếu tố này có ảnh hưởng quan trọngđối với hoạt động của các nhà đầu tư, các nhà đầu tư có thể sẽ không đầu tư vào khuvực nhiều nhân công giá rẻ nhưng chưa qua đào tạo chuyên môn hoặc những nơi mà hệthống giao thông khó khăn, thiếu phương tiện vận chuyển, liên lạc hay không đủ cácngành dịch vụ hỗ trợ cho quá trình đầu tư sản xuất kinh doanh Ngoài ra, yếu tố côngnghệ cũng được phản ánh trong môi trường cơ sở hạ tầng kỹ thuật thông qua các chỉ sốnhư trình độ phát triển công nghệ, các yếu tố hạ tầng công nghệ, nền tảng kiến thứckhoa học – công nghệ, tốc độ đổi mới công nghệ, nguồn nhân lực cho khoa học côngnghệ… Hiện nay, công nghệ là nhân tố có sự thay đổi mạnh nhất trong môi trườngkinh doanh có sức thách thức lớn và hấp dẫn mạnh đối với các nhà đầu tư Do đó, việcphát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là điều kiện mang tính tiên quyết đối với sự phát triểncủa một nền kinh tế, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư hoạt động có hiệu quả
Trang 221.2.2.3 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế phản ánh những đặc trưng của một hệ thống kinh tế sẽ chiphối và tác động đến hoạt động của các nhà đầu tư Trong môi trường kinh tế, các yếu
tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế, các chính sách kinh tế, chu kỳ kinh doanh, tỷ lệ lạmphát, tỷ giá hối đoái, hệ thống tài chính… sẽ được tập trung nghiên cứu Tăng trưởngkinh tế được coi là việc mở rộng sản lượng tiềm năng của một quốc gia trong một giaiđoạn nhất định, hay tăng trưởng kinh tế là một sự gia tăng khả năng sản xuất hàng hóa– dịch vụ nhằm nâng cao mức sống của toàn xã hội Khi kinh tế tăng trưởng thì các yếu
tố và điều kiện kinh tế sẽ rất thuận lợi cho các nhà đầu tư phát triển, nó sẽ tạo rất nhiều
cơ hội đầu tư kinh doanh và ngược lại nếu nền kinh tế kém phát triển với tỷ lệ lạm phátcao sẽ có tác động tiêu cực đến các nhà đầu tư Chu kì phát triển kinh tế là sự thăngtrầm về khả năng tạo ra của cải nền kinh tế trong những giai đoạn nhất định Mỗi chu
kỳ thường trải qua bốn thời kì: thời kì phát triển, thời kì hưng thịnh, thời kì suy thoái vàthời kì phục hồi Thời kì phát triển là giai đoạn nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh
và quy mô mở rộng, dung lượng và sức mua của thị trường lớn, trong giai đoạn nàymôi trường đầu tư rất thuận lợi, các nhà đầu tư có nhiều cơ hội để kinh doanh Thời kìhưng thịnh là thời kì mà nền kinh té phát triển đạt đến mức cao nhất và chuẩn bị bướcvào giai đoạn suy thoái, nó thường xảy ra khi nền kinh tế đã đạt tới mức toàn dụng vềmọi tiềm năng Thời kì suy thoái là thời kì nền kinh tế có mức tăng trưởng chậm, hànghóa không tiêu thụ được, dung lượng và sức mua thị trường giảm, các nhà đầu tư phảithu hẹp sản xuất, quy mô hoạt động của các nhà đầu tư và nền kinh tế bị giảm sút, môitrường đầu tư chứa đựng nhiều rủi ro và không có sự hấp dẫn Thời kì phục hồi là thời
kì nền kinh tế đã xuống tới mức thấp nhất của chu kì, các hoạt động đầu tư kinh doanh
bị ngưng trệ để chuẩn bị cho sự chuyển tiếp sang một chu kì phát triển kế tiếp Chu kìkinh tế có thể diễn ra ngắn hay dài tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố và chu kì kinh tế cóảnh hưởng rất mạnh đến các quyết định quản trị doanh nghiệp của các nhà đầu tư.Nhiều nhà kinh tế cho rằng các yếu tố kinh tế của nước nhận đầu tư là những yếu tố
có ảnh hưởng quyết định trong thu hút FDI
1.2.2.4 Môi trường luật pháp, chính sách
Mỗi quốc gia đều có một hệ thống luật quy định rõ các nhà đầu tư hay các doanhnghiệp được đầu tư kinh doanh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ gì, cấm các mặt hàng gì,nghĩa vụ và quyền lợi của các nhà đầu tư… Hệ thống các công cụ chính sách và nhữngquy định của nhà nước có liên quan đến những hoạt động đầu tư kinh doanh như: chínhsách tài chính – tiền tệ, chính sách thu nhập, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách bảo
Trang 23vệ môi trường, chính sách lao động – tiền lương, chính sách phát triển kinh tế nhiềuthành phần… Chính sách kinh tế thể hiện quan điểm, định hướng phát triển nền kinh tếcủa nhà nước, thông qua các chủ trương và chính sách, nhà nước, thông qua các chủtrương và chính sách, nhà nước điều hành và quản lý nền kinh tế và các doanh nghiệphay các nhà đầu tư trên phương diện quản lý nhà nước về kinh tế Các chính sách kinh
tế thể hiện những ưu đãi, khuyến khích đối với một số khu vực, ngành, lĩnh vực kinh tếnào đó, đồng thời các chính sách cũng sẽ là các biện pháp, chế tài để kiểm soát các lĩnhvực đó
Một quốc gia được coi là có chính sách kinh tế mở khi những chính sách đó cósức hấp dẫn và mang lại sự thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, chính sáchkinh tế có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh hấpdẫn Cơ chế quản lý, điều hành của Chính phủ sẽ quyết định trực tiếp đến tính hiệu lựccủa luật pháp và các chính sách kinh tế, nếu một nhà nước mạnh, điều hành chuẩn mựcthì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư kinh doanh chính đáng
Hệ thống pháp luật được xây dựng nhằm quy định những điều mà các thành viêntrong xã hội được làm và không được làm, nó là cơ sở để xem xét những hành động viphạm các mối quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ Nhà nước giữ một vai trò quantrọng trong tạo lập một môi trường đầu tư kinh doanh thuân lợi thông qua việc nhànước quy định những khuôn khổ pháp lý và thiết lập các chính sách chủ yếu nhằm tạođiều kiện cho mọi thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng trong đầu tư kinh doanh,duy trì trật tự kỷ cương trong xã hội và các hoạt động kinh tế
Nhìn chung các chủ đầu tư nước ngoài thích đầu tư vào những nước có hànhlang pháp lý, cơ chế, chính sách đầy đủ, đồng bộ, thông thoáng, minh bạch và có thể
dự đoán được Điều này đảm bảo cho sự an toàn của vốn đầu tư
1.2.2.5 Môi trường lao động, tài nguyên
Một trong những yếu tố quan trọng trong môi trường đầu tư là nguồn nhân lực vàgiá cả sức lao động, đây là những yếu tố rất cần thiết để các nhà đầu tư lập kế hoạchkinh doanh Một nhà đầu tư muốn mở một nhà máy thì trên phương diện nguồn nhânlực nhà đầu tư sẽ chọn những khu vực đáp ứng được những yêu cầu về số lượng, chấtlượng lao động và giá cả sức lao động Chất lượng lao động là một lợi thế cạnh tranhđối với các nhà đầu tư đầu tư vào lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao hoặc có sửdụng công nghệ hiện đại Như vậy, yếu tố lao động là một trong những điều kiện quantrọng ảnh hưởng đến quyết định tiến hành kinh doanh của các nhà đầu tư, tuy nhiên để
Trang 24có một lực lượng lao động tốt thì lại phụ thuộc vào hệ thống giáo dục và đào tạo cơbản, đào tạo nghề và chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Chính phủ.
Tài nguyên thiên nhiên là tất cả các nguồn lực của tự nhiên bao gồm đất đai,không khí, nước, các loại năng lượng và những khoáng sản trong lòng đất… Để thỏamãn những nhu cầu đa dạng của mình con người đã khai thác và sử dụng những ích lợi
do tài nguyên thiên nhiên ban tặng Tuy nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên phân
bố không đồng đều giữa các vùng trên trái đất, phụ thuộc cấu tạo địa chất, thời tiết, khíhậu từng vùng Nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm cùng với sự lạm dụng tàinguyên đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng buộc các chính phủ phải có những chínhsách quản lý chặt chẽ tài nguyên thiên nhiên Các chính phủ thường khuyến khích thăm
dò khảo sát tìm kiếm tài nguyên tại những vùng xa và có khả năng phục hồi, khuyếnkhích sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn và tiết kiệm hơn… Sự hạn chế tài nguyên này
đã khiến các nhà đầu tư thường tìm kiếm nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên và chínhphủ có những chính sách thông thoáng về quản lý tài nguyên thiên nhiên để đầu tư
1.2.3 Sự cần thiết phải cải thiện môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư có vai trò rất quan trọng tới sự tồn tại và phát triển của cácdoanh nghiệp, các nhà đầu tư sẽ quyết định bỏ vốn đầu tư mới hoặc mở rộng đầu tưkinh doanh nếu như họ tìm được một môi trường đầu tư thuận lợi, các quốc gia sẽ thuhút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài nếu tạo lập được một môi trường đầu tư tốt, khithu hút được nhiều vốn đàu tư, các chính phủ sẽ giải quyết được nhiều vấn đề liên quantới tăng trưởng và phát triển kinh tế
Một môi trường đầu tư tốt sẽ có tác động đến hiệu quả kinh tế - xã hội của mỗiquốc gia, tại bất kỳ thời điểm nào, mọi lúc mọi nơi trên thế giới Các doanh nghiệp haycác nhà đầu tư thường phải cân nhắc tính toán với những quyết định đầu tư quan trọng,
từ quyết định mở rộng trang trại của một người nông dân hay quyết định mở rộng quy
mô sản xuất kinh doanh của một công ty vừa và nhỏ cho đến quyết định của các tậpđoàn kinh tế lớn, các công ty xuyên quốc gia, những quyết định của các doanh nghiệpkhi thực hiện sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới mục tiêu, chỉ số tăng trưởng của từng khuvực, từng quốc gia, từng địa phương Tuy nhiên, các quyết định đầu tư của các doanhnghiệp được thực hiện hay không lại phụ thuộc hoàn toàn vào một tập hợp các yếu tố
mà ta thường gọi đó là môi trường đầu tư Khi các doanh nghiệp thực hiện một quyếtđịnh đầu tư đúng sẽ tạo ra nhiều giá trị sản xuất, việc làm và các giá trị khác mà nó sẽlàm cho của mục tiêu tăng trưởng và giảm nghèo của mỗi quốc gia thành hiện thực,chính vì vậy cải thiện môi trường đầu tư luôn là nhiệm vụ trọng tâm của các chính phủ
Trang 25Ngày nay, khi cả thế giới có khoảng 1,2 tỷ người đang sống dưới mức 1USD/ngày, khilực lượng lao động thế giới ngày nay đang phải đối mặt với một tỷ lệ thất nghiệp cao
và thậm chí một số nước có tỷ lệ thất nghiệp cao gấp đôi tỷ lệ thất nghiệp trung bìnhcủa thế giới, khi tỷ lệ tăng dân số nhiều khi cao hơn mức tăng trưởng kinh tế thì việctạo ra nhiều việc làm, giá trị sản phẩm gia tăng là hết sức cần thiết cho một thế giới cânbằng, hòa bình và phát triển
Với mục đích thu lợi nhuận, các nhà đầu tư sẽ bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanhvới những ý tưởng mới, với những cơ sở vật chất mới và đó chính là những yếu tố cấuthành cho phát triển kinh tế Các doanh nghiệp là nơi tạo ra khoảng 90% việc làm, lànơi để mọi người thể hiện khả năng, trình độ của mình để tăng thu nhập, cải thiện mứcsống, là nguồn thu thuế chủ yếu của các chính phủ, là nhân tố chính tham gia vào quátrình cung cấp hàng hóa nói chung và hàng hóa công cộng cho mọi người như đào tạo,sức khỏe, y tế… Như vậy, các doanh nghiệp là nhân tố chính, đóng vai trò nòng cốtcho quá trình tạo dựng một nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, nhưng sự tham giacủa các doanh nghiệp cho xã hội lại phụ thuộc hoàn toàn vào môi trường đầu tư Nhưvậy, cải thiện môi trường đầu tư tốt hơn sẽ là một trong những biện pháp để thúc đẩytăng trưởng và phát triển kinh tế
1.3 Kinh nghiệm thu hút FDI ở một số tỉnh, thành phố
Vận dụng kinh nghiệm chung về thu hút và triển khai FDI, một số địaphương ở nước ta bước đầu đưa lại những kết quả nhất định có tác dụng gợi mởđối với Hải Phòng:
*Thành phố Hà Nội
Trong chiến lược thu hút FDI của Việt Nam, thì thành phố Hà Nội có nhiều lợithế so với các địa phương khác Hà Nội là trung tâm chính trị, khoa học – kỹ thuật, vănhóa của cả nước, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khá tốt, lực lượng lao động có trình
độ cao rất thuận lợi tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế giới
Qua nghiên cứu kinh nghiệm thu hút FDI của các nước trên thế giới, trong khuvực và từ hoạt động thực tiễn của mình, Hà Nội đã có nhiều chủ trương, chính sách cảithiện môi trường đầu tư hấp dẫn và thu hút FDI đạt kết quả cao
- Coi trọng xây dựng quy hoạch thu hút FDI: Quy hoạch thu hút FDI là một bộphận hữu cơ trong quy hoạch đầu tư chung của Hà Nội Để nâng cao chất lượng quyhoạch thu hút FDI, tránh tình trạng đầu tư tràn lan, làm lãng phí nguồn lực, giảm hiệuquả các dự án FDI, làm cho nhà ĐTNN giảm lòng tin thì việc quy hoạch thu hút FDI
Trang 26ngay từ đầu phải gắn với việc phát huy nội lực của Thành phố về vốn, tài sản và cơ sởvật chất - kỹ thuật đã tích luỹ được cùng với nguồn lực con người, lợi thế về vị trí địa lý
và chính trị
- Việc quy hoạch thu hút FDI phải gắn chặt với quy hoạch ngành, sản phẩm chủlực; phát huy được lợi thế so sánh của mỗi địa phương, vùng, miền thuộc Hà Nội, nângcao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế Tổ chức nghiên cứu lựa chọn nhữngngành hàng, sản phẩm có lợi thế để ưu tiên phát triển, hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạchphát triển để định hướng cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh Trên cơ sở
đó, lập danh mục các dự án kêu gọi vốn FDI cho từng thời kỳ, giai đoạn trên địa bàntoàn Thành phố với chất lượng cao, từng dự án cần được mô tả khái quát về nội dung,sản phẩm, địa điểm, khả năng thị trường, dự kiến vốn đầu tư, thời gian triển khai dự án,đối tác trong nước để các nhà ĐTNN nghiên cứu các thông tin này có thể ra quyếtđịnh đầu tư
- Đẩy mạnh việc nghiên cứu, phân tích xu hướng vận động của dòng vốn FDI:Một trong những yếu tố để hạn chế và tránh tình trạng quy hoạch treo, dự án FDI treo
là công tác nghiên cứu và phân tích xu hướng vận động của dòng vốn FDI cần đượcthường xuyên quan tâm đúng mức Việc nghiên cứu và phân tích cần phải tìm hiểuđược quy luật vận động của dòng vốn FDI, lượng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam hàngnăm, tốc độ tăng trưởng của dòng vốn này Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu và phântích cần tập trung vào các quốc gia, các tập đoàn đa quốc gia và các nhà đầu tư hàngđầu đã bỏ vốn đầu tư vào Hà Nội như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Đài Loan… đểtìm hiểu và nhận biết được sự quan tâm của các nhà đầu tư
- Xác định rõ chiến lược thu hút FDI: Trên cơ sở phân tích xu hướng vận độngcủa các dòng vốn FDI cũng như đặc điểm đầu tư của một số quốc gia lớn; Hà Nội đãchủ động xác định rõ cho mình một chiến lược thu hút FDI vào các lĩnh vực cụ thể:Phát triển công nghiệp với công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, có hàm lượng chấtxám cao, các dự án sản xuất có khả năng khai thác lợi thế của Thủ đô cũng như cáclĩnh vực đầu tư có khả năng cạnh tranh, có giá trị gia tăng cao; đặc biệt quan tâm đếnthu hút các dự án dịch vụ chất lượng cao, dịch vụ tài chính - ngân hàng, dịch vụ du lịch,dịch vụ công nghệ sau bán hàng, dịch vụ thương mại cao cấp… biến Hà Nội thànhtrung tâm dịch vụ tổng hợp chất lượng cao, có vị trí quan trọng của cả nước và của khuvực
Trang 27- Phát triển đồng bộ và hoàn thiện chính sách thị trường: Vấn đề định hướng thị
trường và tiêu thụ sản phẩm cho các dự án FDI có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Thịtrường cho các dự án này cần được nhìn nhận cả từ thị trường “đầu vào” và thị trường
“đầu ra” Đối với thị trường “đầu vào” cần chú trọng các loại máy móc, thiết bị, côngnghệ được đưa vào đầu tư với thế hệ mới, hiện đại, không gây ô nhiễm môi trườngđồng thời có chính sách khuyến khích các dự án FDI thu mua nguyên liệu của địaphương sản xuất Đối với thị trường “đầu ra”, cần chú trọng đến hoạt động tiêu thụ sảnphẩm cả ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài Đẩy mạnh các hoạt động
mở rộng thị trường cho các dự án FDI thông qua việc khuyến khích xuất khẩu và xúctiến thương mại Khai thác các thế mạnh của bên nước ngoài trong hoạt động nghiêncứu thị trường để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Nâng cao năng lực và hiệu lực điều hành, quản lý của Nhà nước đối với hoạtđộng FDI: Tiếp tục đơn giản hoá thủ tục đầu tư, mở rộng hình thức thu hút vốn FDI,hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến đất đai
Năm 2009, Hà Nội đã thu hút được 219 dự án FDI cấp mới với tổng số vốn cấpmới là 413,9 triệu USD và 43 dự án tăng vốn với tổng số vốn tăng thêm là 242,9 triệuUSD FDI được thu hút vào Hà Nội chủ yếu thuộc các ngành công nghiệp, ngành kinhdoanh tài sản và dịch vụ tư vấn
Khu vực FDI đã có đóng góp quan trọng đối với nền kinh tế - xã hội của Hà Nội.Quy mô GDP của khu vực này tăng với tốc độ cao so với kinh tế trong nước và chiếm
tỷ trọng 15,5% tổng GDP; kim ngạch xuất khẩu đạt 211 triệu USD, chiếm 12,7%; đónggóp cho nguồn thu ngân sách trên địa bàn chiếm tỷ trọng 6,8%; chỉ tính riêng chỗ làmviệc trực tiếp, FDI đã tạo việc làm cho 29,9 ngàn lao động
Tuy nhiên, kết quả thu hút và triển khai FDI của Hà Nội còn hạn chế thể hiện tỷ lệvốn đầu tư thực hiện đạt thấp so với bình quân chung của cả nước; môi trường đầu tưkém hấp dẫn hơn so với các tỉnh chủ yếu do chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng cao
*Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương thành công nhất trong công tác thu hút vàtriển khai FDI kể từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Ngay cả cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1998 tác động tiêu cực đến thu hút FDI của cảnước và nhiều địa phương khác nhưng số dự án được cấp phép vào thành phố Hồ ChíMinh vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng cao năm sau so với năm trước Năm 2009, thànhphố thu hút được 318 dự án cấp mới FDI với tổng vốn cấp mới là 984,4 triệu USD và
Trang 2870 dự án tăng vốn với tổng vốn tăng thêm là 401,2 triệu USD Các dự án đầu tư trênđịa bàn thành phố chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp, kinh doanh bất động sản
Những giải pháp của TPHCM trong thu hút đầu tư nước ngoài:
- Nhóm giải pháp về quy hoạch: Hoàn thành quy hoạch về đất đai, hoàn chỉnh
quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi quy hoạch, đẩy nhanh tiến độ xây dựng vàphê duyệt các quy hoạch còn thiếu Thực hiện thống nhất các quy định mới củaLuật Đầu tư trong công tác quy hoạch, đảm bảo việc xây dựng các quy hoạchngành, lĩnh vực phù hợp với các cam kết quốc tế Tăng cường quản lý sau cấp phép
- Nhóm giải pháp về luật pháp, chính sách: Ban hành các văn bản hướng dẫn
các nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp về lộ trình cam kết mở cửa đầu tư nướcngoài làm cơ sở xem xét cấp phép đầu tư Nghiên cứu, ban hành các giải pháp cụthể để thu hút đầu tư nước ngoài cho các lĩnh vực ưu tiên như giáo dục-đào tạo, y tế,quy hoạch đô thị; ban hành văn bản hướng dẫn nhằm tăng cường công tác phối hợpđồng bộ các chính sách đất đai-đầu tư-tài chính-tín dụng để khuyến khích đầu tưnước ngoài Nghiên cứu, đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tậpđoàn đa quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn Theo dõi,giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp để kịp thời phát hiện và
xử lý các vướng mắc phát sinh
- Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư: Nhiên cứu, bổ sung chính sách khuyến
khích đầu tư, đổi mới công tác xúc tiến đầu tư Ban hành quy chế phối hợp giữa các
cơ quan xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch tại thành phố Chủ động tiếp cận và
hỗ trợ các nhà đầu tư tiềm năng có nhu cầu đầu tư vào thành phố
-Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng: Vừa kêu gọi vốn đầu tư trong lĩnh
vực hạ tầng, vừa phải đẩy nhanh tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng Tranh thủ tối đacác nguồn lực để đầu tư phát triển hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách;
ưu tiên các dự án cấp-thoát nước, vệ sinh môi trường, đường bộ cao tốc, đườngvành đai và đường sắt nội đô
Trang 29- Nhóm giải pháp về lao động, tiền lương: Đầu tư nâng cấp hệ thống các trường
đào tạo nghề hiện có, phát triển các trường mới Nghiên cứu, điều chỉnh chuyểndịch cơ cấu lao động theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế Kiến nghị cải cách chính sách
về lao động, tiền lương phù hợp trong tình hình mới
- Nhóm giải pháp về cải cách hành chính: Đơn giản và công khai quy trình, thủ
tục hành chính đối với đầu tư nước ngoài Nâng cao trình độ củ đôi ngũ cán bộ,công chức nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, ngăn chặn sữ tùy tiện nhũng nhiễu docác văn bản luật hướng dẫn còn nhiều bất cập Triển khai thực hiện tốt Luật Đầu tư,Luật Doanh nghiệp, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng Tăng cường cơ chế phối hợpquản lý đầu tư nước ngoài giữa trung ương và địa phương và giữa các bộ, sở,ngành, UBND các quận, huyện có liên quan
Song, vấn đề đang làm giảm sức hấp dẫn đối với nhà ĐTNN là quỹ đất cho dự áncủa thành phố hạn hẹp, chi phí đền bù quá cao, công tác giải phóng mặt bằng gặp rấtnhiều khó khăn hiện đang là vấn đề bức xúc nhất đối với thành phố, đặc biệt là trongmấy năm gần đây khi thành phố đang bị cạnh tranh với các tỉnh lân cận rất thành công vềthu hút FDI trong mấy năm gần đây như Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai…
Nhận thức dược vai trò quan trọng của FDI đối với sự phát triển kinh tế - xãhội của Đà Nẵng, lãnh đạo thành phố đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách cải thiệnmôi trường đầu tư và thực hiện cơ chế một cửa đối với các nhà ĐTNN đến làm ăntại Đà Nẵng Theo báo cáo của Sở kế hoạch và Đầu tư, mặc dù chịu ảnh hưởng của
Trang 30suy thoái kinh tế thế giới, nhưng trong 6 tháng đầu năm 2009, thành phố cũng đãcó12 dự án FDI được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đầu tư được cấp là152,072 triệu USD Như vậy, đến nay, thành phố Đà Nẵng đã có 157 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đầu tư là 2,6 tỷ USD, trong đó tổng vốn thực hiệnước đạt 1,04 tỷ USD Trong 157 dự án còn hiệu lực, có 95 doanh nghiệp đã đi vàohoạt động với doanh thu 6 tháng đầu năm 2009 ước đạt 98 triệu USD, tăng 4% socùng kỳ năm 2008
Từ những thành quả thu hút đầu tư nước ngoài tại Đà Nẵng trong những năm qua
có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:
Thứ nhất, quy hoạch và đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng là cần thiết và phải đi
trước một bước, nhằm tạo quỹ đất để bố trí dự án đầu tư Trên cơ sở quy hoạch, triểnkhai công tác bồi thường giải tỏa, tạo quỹ đất sạch và đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuậtnhằm đáp ứng yêu cầu cho việc bố trí dự án đầu tư
Thứ hai, về lựa chọn mô hình khu công nghiệp và lựa chọn dự án đầu tư, bên
cạnh sự phát triển theo chiều rộng, tỉnh đã chú trọng phát triển theo chiều sâu, lựa chọncác dự án có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, nhằm từng bước nâng caochất lượng các dự án đầu tư nước ngoài; đồng thời thông qua các giải pháp phát triển
đa dạng các mô hình khu công nghiệp
Thứ ba, tạo môi trường đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp, đẩy mạnh cải cách hành
chính, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp, chăm sóc tốt các nhà đầu tư chính là mở ra cơhội để đón nhận các nhà đầu tư tiềm năng mới
Thứ tư, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực tăng cường
công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đồng bộ với các mặt: giáo dục - đào tạo, sửdụng và tạo việc làm là yêu cầu không thể thiếu trong thu hút đầu tư
Thứ năm, phát huy sức mạnh tổng hợp của địa phương để hoạt động đầu tư nước
ngoài có hiệu quả, địa phương hướng các hoạt động đầu tư vào những lĩnh vực có lợithế cạnh tranh, sử dụng linh hoạt các công cụ kinh tế hiện có và sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị tại địa phương
Thứ sáu, về hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội, thành lập và phát triển các
tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhất là tổchức cơ sở đảng và công đoàn, sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển Thực
tế tại Đà Nẵng cho thấy, không chỉ người lao động mà nhiều chủ doanh nghiệp cũng đãxem các tổ chức chính trị- xã hội là chỗ dựa tin cậy trong hoạt động của mình
Trang 31Kết quả hoạt động thu hút và triển khai FDI của các địa phương trên đã có tácdụng thiết thực đối với Hải Phòng trong việc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, phấnđấu thu hút nhiều dự án FDI cho thành phố góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội 10 năm 2010 – 2015.
Trang 32Chương II: Thực trạng thu hút vốn FDI và môi trường đầu tư ở
thành phố Hải Phòng.
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương và là một đô thị loại 1của Việt Nam Ngoài tên gọi chính thức là thành phố Hải Phòng ra thì nơi đây cònđược biết đến với những tên gọi không chính thức khác như: Thành phố Hoa phượng
đỏ, Thành phố Cảng hay Thành Tô Hải Phòng ở vị trí giao thông quan trọng nhất của giaothông quốc tế miền Bắc, là đầu mối của nhiều hệ thống giao thông trong và ngoài nước
* Vị trí địa lý
Hải Phòng là một thành phố nằm trong vùng Đồng bằng Bắc Bộ, với tổng diệntích lên đến 1507,57km2 Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, Tây Bắc giápHải Dương, Tây Nam giáp Thái Bình và Đông là bờ biển chạy dài theo hướng Tây Bắc– Đông Nam từ phía Đông đảo Cát Hải đến cửa sông Thái Bình Là một trong ba đỉnhcủa tam giác kinh tế trọng điểm (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh), thuộc vùng kinh
tế trọng điểm 8 tỉnh phía Bắc; có hệ thống đường thủy cùng với mạng lưới đường bộ,đường sắt, cảng biển và hàng không Đặc biệt quốc lộ 5 quốc lộ 10 đã nâng cấp theotiêu chuẩn quốc tế, hệ thống cảng và luồng vào cảng Hải Phòng được nâng cấp, mởrộng; sân bay Cát Bi được cải tạo và nâng cấp… Chính phủ đã phê duyệt dự án xâydựng đường cao tốc mới Hà Nội – Hải Phòng, đang có kế hoạch nâng cấp tuyến đườngsắt Hà Nội – Hải Phòng thành đường sắt hai chiều tiêu chuẩn quốc tế… là những điềukiện thuận lợi để chuyển tải hàng hóa xuất nhập khẩu cho các tỉnh vùng Bắc Bộ, cáctỉnh nam Trung Quốc, đồng thời có khả năng thiết lập mối quan hệ hàng hải và hàngkhông với các nước trong vùng Đông Nam Á và thế giới
Khí hậu: Chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong đó, từ tháng 11năm trước đến tháng 4 năm sau là khí hậu của một mùa đông lạnh và khô; từ tháng 5đến tháng 10 là khí hậu của mùa hè, nồm mát và mưa nhiều Lượng mưa trung bình từ
1600 đến 1800 mm/năm Nhiệt độ trung bình trong năm 23-26 0C Trong đó, thángnóng nhất (tháng 6, tháng 7) nhiệt độ có thể lên đến 44 0C và tháng lạnh nhất (tháng 1,2) nhiệt độ có thể xuống dưới 5 0C Độ ẩm trung bình vào khoảng 80 – 85%, cao nhấtvào tháng 7,8,9; thấp nhất vào tháng 1, 12
Địa hình, địa chất, đất đai: Phía Bắc có hình dáng và cấu tạo địa chất của vùngtrung du với những đồng bằng thuần túy nghiêng ra biển Cấu tạo địa chất của Hải
Trang 33Phòng gồm những loại đá cát kết, phiến sét, đá vôi Diện tích đất canh tác khoàng62.127 ha, hình thành phần lớn từ hệ thống sông Thái Bình và vùng đất bồi ven biểnnên chủ yếu mang tính chất đất phèn và phèn mặn, địa hình đan xen cao thấp và nhiềuđồng trũng Diện tích bãi bồi ven biển 23000 ha gồm bãi triều đá nổi và ngập nước,trong đó khoảng 13000 ha bãi nổi, xú, vẹt,…chưa khai thác.
Sông ngòi: Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi dày đặc với mật độ 0.65 – 0.8 km/km2 và đều là các chí lưu của sông Thái Bình đổ ra Vịnh Bắc Bộ với 5 cửa sông chính.Trong đất liền có 16 sông chính tỏa rộng khắp địa bàn với độ dài hơn 300km và nhữngsông nhánh lớn nhỏ chia cắt khắp địa hình thành phố
Bờ biển, biển, hải đảo: Biển Hải Phòng là một bộ phận thuộc Tây Bắc vịnh Bắc
Bộ với đường bờ biển dài hơn 125km (kể cả bờ biển quanh các đảo khơi) có hình làmột đường cong lõm của bờ vịnh Bắc Bộ, thấp và bằng phẳng Mũi Đồ Sơn nhô rabiển như một bán đảo, tạo cho Đồ Sơn một vị trí chiến lược quan trọng và thắng cảnhthiên nhiên nổi tiếng Ngoài khơi thuộc địa phận Hải Phòng có nhiều đảo rải rác, quantrọng nhất là đảo Cát Hải, Cát Bà, Bạch Long Vĩ Trong đó, Cát Bà là hòn đảo có diệntích lớn thứ hai trong Vịnh Bắc Bộ với nhiều hang động và rừng nguyên sinh, thunglũng màu mỡ Bạch Long Vĩ là đảo nhỏ tiền tiêu giữa Vịnh Bắc Bộ
* Tài nguyên thiên nhiên
Khoáng sản, chủ yếu là đá vôi tập trung ở Tràng Kênh (Thủy Nguyên), Cát Bà,…với trữ lượng trên 200 triệu tấn Khoáng sản gốc kim loại không nhiều với một số mỏsắt Dương Quan (Thủy Nguyên), kẽm (Cát Bà), than (Vĩnh Bảo),… Muối và cát tậptrung ở vùng bãi giữa sông và bãi biển Cát Hải, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, ĐồSơn… Năm 2004, một số nghiên cứu đã phát hiện có tiềm năng dầu khí ở ngoài khơiHải Phòng
Tài nguyên sinh vật, nhất là sinh vật biển với gần 1000 loài tôm cá, hàng chụcloại rong biển với nhiều loại có giá trị kinh tế cao như: tôm he, tôm rồng, đồi mồi, củabiển, sò huyết, ngọc trai, bảo ngư… cùng nhiều bãi cá thuận lợi cho khai thác như: bãigiữa vịnh Bắc Bộ, bãi Bạch Long Vĩ, hòn Mê, hòn Mát… với độ rộng hơn 10.000 hải
lý vuông, trữ lượng cao và ổn định (có trên 100 loài có giá trị kinh tế, sản lượng có thểkhai thác trên 2 triệu tấn/năm) Hải Phòng được Bộ Thủy sản xác định là 1 trong 4 ngưtrường lớn của toàn quốc, là vùng trọng điểm phát triển kinh tế thủy sản của Việt Nam.Ngoài ra, còn có hơn 12 nghìn ha vừa phục vụ cho khai thác, vừa có thể nuôi trồngthủy sản nước mặn và lợ
Trang 34Tài nguyên rừng: Hải Phòng còn có rừng ngập mặn và rừng cây lấy gỗ, cây ănquả, tre, mây… với diện tích 17.000 ha Rừng nguyên sinh Cát Bà với thảm thực vậtphong phú, đa dạng, nhiều loại thảo mộc quý hiếm như lát hoa, kim giao, đinh,… hệđộng vật đa dạng với 36 loài chim (đại bang, hải âu, đa đa, én…) Đặc biệt là loài vọcđầu trắng, trên thế giới chỉ thấy ở Cát Bà Chính sự đa dạng về chủng loại, chi họ của
hệ động thực vật nơi đây đã biến vườn quốc gia Cát Bà và các danh thắng trên đảo trởthành một khu du lịch nổi tiếng Cát Bà được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinhquyển quốc tế
2.2 Tình hình thu hút vốn FDI vào Hải Phòng từ 2005 đến 2009
Những năm gần đây, Hải Phòng luôn đứng trong “top” 5 địa phương thu hút FDIcao nhất cả nước Thu hút FDI của thành phố này đã có bước tiến đáng kể cả về quy
mô, nhịp độ, cơ cấu và hình thức đầu tư…
2.2.1 Quy mô và tốc độ thu hút FDI tại Hải Phòng
Thành phố Hải Phòng luôn chú trọng tới hoạt động thu hút vốn đầu tư đặc biệt làthu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Năm 2006 đã có chuyển biến mạnh với số vốnđăng kí trên 200 triệu USD thì riêng đầu năm 2007, thu hút FDI của thành phố đã lêntới con số 214 triệu USD Đến hết tháng 6 năm 2008, thu hút FDI trên địa bàn thànhphố đạt con số kỉ lục từ trước tới nay, gần 964 triệu USD, gấp 2,3 lần so với mức thuhút của cả năm 2007 Trong số đó, có 21 dự án cấp giấp chứng nhận đầu tư mới đăng
kí vốn hơn 339 triệu USD, 14 dự án tăng vốn thêm gần 625 triệu USD Dự án lớn nhấtcủa công ty TNHH Amco- Mibeak Vina tăng vốn thêm 555 triệu USD (khi chưa tăngvốn là 27 triệu USD) xây dựng sân golf và khu nghỉ dưỡng Sông Giá- Thuỷ Nguyên.Các dự án lớn khác của công ty cổ phần KCN Đình Vũ đầu tư hơn 146 triệu USD, mởrộng KCN Đình Vũ giai đoạn 2, chi nhánh công ty TNHH GE Việt Nam, đầu tư trên
61 triệu USD (giai đoạn 1) sản xuất, lắp ráp phụ kiện, linh kiện, thiết bị cho các nhàmáy phát điện, công ty TNHH Agape Việt Nam, đầu tư 55 triệu USD xây dựng tổ hợpcăn hộ nhà ở, văn phòng cho thuê, trung tâm thương mại…
Trong 10 tháng đầu năm 2009, có 15 dự án cấp mới với tổng số vốn thu hút38.005.556 USD, 07 dự án tăng vốn thêm 56.000.000USD, tổng số thu hút tính đến31/10/2009 là 94.005.556 USD bằng 7,5% so với cùng kỳ năm 2008, (10T/2008 tổng
số thu hút 1.250.612.036 USD, trong đó cấp mới: 591.640.169 USD, tăng vốn658.971.867 USD)
Bên cạnh sự tăng về tổng số vốn đăng kí đầu tư vào thành phố thì số vốn FDI đưavào thực hiện cũng tăng cao và luôn đạt ở mức cao Đáng chú ý, có những dự án lớn đãđược tăng vốn và khởi công là dự án xây dựng khu nghỉ dưỡng tổng hợp Sông Giá do
Trang 35Hàn Quốc làm chủ đầu tư Riêng dự án này đã có tổng vốn đầu tư gần 600 triệu USD.Việc các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tập trung vốn cho lĩnh vực công nghiệp - dịch
vụ - BĐS sẽ góp phần quan trọng thay đổi diện mạo thành phố, đồng thời phát huytiềm năng, thế mạnh của Hải Phòng theo định hướng đã được đặt ra là phát triển mạnhcông nghiệp - dịch vụ Những dự án này góp phần tích cực xây dựng Hải Phòng trởthành đô thị văn minh, hiện đại, trung tâm dịch vụ và công nghiệp lớn của cả nước Tính đến 31/12/2009, tổng số dự án còn hiệu lực là 282 dự án với vốn đầu tư4.189.244.592 USD, vốn pháp định/điều lệ: 1.500.944.620 USD, vốn thực hiện đạt45% vốn đăng ký Số dự án đang hoạt động sản xuất kinh doanh là 193 dự án chiếm68,44% Nhìn chung, các dự án tại Hải Phòng triển khai tốt, số dự án đang hoạt động
và trong quá trình triển khai dự án không có vướng mắc chiếm 85,9% tổng số dự án cóvốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng Số dự án trong quá trình triểnkhai gặp vướng mắc, khó khăn, dự án không triển khai, chưa triển khai, ngừng hoạtđộng, không có khả năng triển khai tiếp, đang thanh lý, giải thể chỉ chiếm 14,1% tổng
số dự án có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng Cụ thể số dự ánđang trong quá trình thanh lý: 11 dự án chiếm 3,9%, số dự án không triển khai: 10 dự
án chiếm 3,5%, số dự án chậm triển khai: 07 dự án chiếm 2,5% Số dự án xin tạmngừng hoạt động: 02 dự án chiếm 0,7% Số dự án đã triển khai sản xuất nhưng gặpnhiều khó khăn đang trong tình trạng ngừng hoạt động: 10 dự án chiếm 3,5%
Bảng 1: Thu hút FDI của 1 số tỉnh – thành phố tính đến 15/12/2009
Số lượng (dự án) Tỉ trọng(%) (triệu USD) Số vốn Tỉ trọng(%)
Trang 36Qua bảng trên, mặc dù tổng số dự án FDI đầu tư vào Hải Phòng trong năm 2009
là 18 dự án, cao hơn rất nhiều so với các địa phương khác như Bà Rịa – Vũng Tàu,Huế, Đà Nẵng, Bắc Ninh nhưng tổng số vốn đầu tư thì ít hơn các địa phương đó rấtnhiều lần Tuy một số tập đoàn kinh tế lớn có thương hiệu nổi tiếng trên thế giới đều đã
có mặt tại Hải Phòng, nhưng phần lớn các dự án đều ở quy mô nhỏ Các dự án đượccoi là lớn cũng chỉ từ vài chục đến hơn trăm triệu USD nhưng thành phố cũng không ítlần phải rút giấp phép đầu tư một số dự án không được triển khai Hiện nay, trên địabàn thành phố cũng đã xuất hiện những dự án quy mô khá lớn như dự án xây dựng khunghỉ dưỡng tổng hợp Sông Giá- Thuỷ Nguyên với tổng vốn đăng kí đầu tư gần 600triệu USD… nhưng số dự án như thế vẫn còn rất hạn chế
2.2.2 Tình hình thu hút FDI theo đối tác
Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Hoa Kì… là nhữngquốc gia và vùng lãnh thổ đứng đầu trong danh sách đầu tư vào thành phố Hải Phòng.Hàn Quốc là quốc gia có tổng vốn đầu tư vào thành phố Hải Phòng nhiều nhất với909.003.500 USD, chiếm 21,70% tổng dòng vốn FDI vào thành phố; kế đến là NhậtBản với tổng vốn đầu tư 811.833.989 USD, chiếm 19.38%; Đài Loan với 622.344.206chiếm 14,86%; Hồng Kông với 337.930.000 chiếm 8.07%; Trung Quốc với335.238.846 USD chiếm 8.00%
Hình 1: Kết quả thu hút FDI theo đối tác năm 2009 của Hải Phòng
Kết quả thu hút FDI
226,171,849
622,344,206
904,003,500 337,930,000
269,168,439
811,833,989 215,950,743
335,238,846 135,211,957
331,391,063
Bỉ Đài Loan
Hàn Quốc
Hồng Kông
Hoa Kỳ Nhật Bản
Singapore
Trung Quốc
Úc Các QG khác
Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Hải Phòng
Trang 37Trong thời gian gần đây, các vấn đề được quan tâm chủ yếu của các đối tác đã
có sự khác nhau rõ rệt Và cũng vì thế mà xu hướng đầu tư vào các ngành, lĩnh vựccũng khác nhau Nếu như các nhà đầu tư Nhật quan tâm tới các yếu tố sau khi đầutư: sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ như công nghiệp sản xuất các linh,phụ kiện điện tử, xe máy; công nghiệp cơ bản và công nghệ cao; chi phí sản xuấtthấp; nguồn lao động dồi dào; cơ sở hạ tầng tốt; hệ thống vận tải và phân phối thuậnlợi; thì các nhà đầu tư Hàn Quốc thường có nhu cầu đầu tư trong ngành công nghiệpgiải trí, kinh doanh bất động sản, cao ốc văn phòng và khu đô thị hiện đại; còn cácnhà đầu tư Singapore lại thường quan tâm tới công nghiệp du lịch, công nghệ cao, y
tế và giáo dục; các nhà đầu tư Mỹ và Châu Âu đầu tư nhiều vào lĩnh vực tin học vàphần mềm, các dịch vụ ngân hàng vào bảo hiểm
2.2.3 Tình hình thu hút vốn FDI theo hình thức đầu tư
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động theo chiều hướng xấu,thu hút FDI vào Hải Phòng vẫn tăng cao chưa từng thấy từ trước tới nay, cơ cấutheo hình thức đầu tư đã có sự thay đổi rõ rệt
Bảng 2: Thu hút FDI vào thành phố Hải Phòng theo hình thức đầu tư
(tính đến hết tháng 12/2009)
STT Hình thức đầu tư
Số lượng (dự án)
Tỷ trọng (%)
Tỷ trọng (tỷ USD)
Tỷ trọng (%)
Nguồn: Sở Kế hoạch – Đầu tư Thành phố Hải Phòng
(Ghi chú: DNLD: doanh nghiệp liên doanh; DN 100% VNN: doanh nghiệp 100%vốn nước ngoài; HĐHTKD: hợp đồng hợp tác kinh doanh)
Đáng chú ý, nếu như những năm trước đây thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoàicủa thành phố chủ yếu vào các KCN thuộc lĩnh vực công nghiệp thì bước sang năm
2008, xu hướng thu hút đầu tư FDI vào thành phố cảng lại tập trung chuyển sang lĩnhvực BĐS, xây dựng các khu đô thị, văn phòng cao ốc hiện đại cho thuê Năm 2009,trong tổng nguồn vốn FDI vào Hải Phòng đạt gần 4,2 tỉ USD thì vốn đổ vào BĐS gần0,6 tỉ USD chiếm 14.3% lượng vốn thu hút