TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM KHOA ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG Tiểu luận cuối kì THỪA KẾ TRONG LUẬN DÂN SỰ VIỆT NAM (7A) Tp Thủ Đức, tháng 12 năm 2021 MÃ SỐ LỚP HP GELA220405.
Trang 1TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM KHOA ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO
- -
MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Tiểu luận cuối kì
THỪA KẾ TRONG LUẬN DÂN SỰ VIỆT NAM
Trang 2Phân công nhiệm vụ và điểm số BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
THÀNH
1 Nguyễn Văn Lân - 21161062 Làm Word, mở đầu 100%
2 Cao Văn Vinh - 21161386 Thiết kế Word - Làm
Trang 3MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Cơ cấu bài tiểu luận 3
B PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I: MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 4
I Các Khái Niệm 4
1.1 Khái niệm thừa kế 4
1.2 Khái niệm quyền thừa kế 4
II Một số quy định chung về thừa kế 4
2.1 Người để lại di sản thừa kế: 4
2.2 Di sản thừa kế: 4
2.3 Người thừa kế: 4
2.4 Thời điểm, địa điểm mở thừa kế 5
III Người quản lý di sản, nghĩa vụ và quyền của người quản lý di sản 5
3.1 Người quản lý di sản (chương XXII điều 638-Bộ luật dân sự) 5
3.2 Nghĩa vụ của người quản lý di sản 5
3.3 Quyền của người quản lý di sản 6
3.4 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế (chương XXII điều 645-Bộ luật dân sự) 7
IV Hình thức thừa kế theo pháp luật (chương XXIV- điều 674 đến 680 Bộ luật dân sự) 7
4.1 Hình thức thừa kế theo hàng thừa kế được áp dụng trong các trường hợp 7
4.2 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản 7
4.3 Những người thừa kế theo pháp luật (hàng thừa kế) 7
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ 10 I Thực trạng về những qui định của pháp luật về thừa kế 10
1.1 Nhiều qui định của pháp luật còn mâu thuẫn: 10
Trang 41.2 Về quy định tại khoản 3 Điều 615 thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết
để lại 11
1.4 Pháp luật còn nhiều vướng mắc 13
1.5 Từ chối nhận di sản 15
1.5 Một số vấn đề trong thực tiễn giải quyết tranh chấp 16
II Những giải pháp hoàn thiện chế định thừa kế 17
2.1 Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế theo pháp luật có thể được sử dụng trong Tư pháp quốc tế Việt Nam 17
2.2 Giải pháp hoàn thiện bằng cách thiết lập quy phạm xung đột mới 19
2.2.1 Không phân biệt di sản là động sản hay bất động sản 19
2.2.2 Phân biệt di sản là động sản hay bất động sản 19
2.2.3 Một số giải pháp khác nhằm hoàn thiện chế định thừa kế 20
C PHẦN KẾT LUẬN 22
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 51
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kỳ xã hội nào, từ Anyang Wang Jianguo đến Khoa học và Công nghệ 4.0 và kỷ nguyên 5.0 sắp tới, có hai giai cấp (giai cấp thống trị và giai cấp thống trị) trong cuộc sống của chúng ta và thế giới Cho đến con cháu của chúng ta sẽ luôn luôn
có một vấn đề Đây là vấn đề của sự kế thừa Quyền thừa kế luôn chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật, vì nó có thể gây ra những hậu quả cho con cái chúng ta Vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu cầu tất yếu trong đời sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội Ở mọi nhà nước, mọi giai cấp, mọi tầng lớp chính trị, mặc dù khuynh hướng chính trị khác nhau, nhưng quyền thừa kế được coi là một trong những quyền cơ bản của công dân do hiến pháp của đất nước (đạo luật tối cao) quy định
Hệ thống thừa kế là một trong những hệ thống quan trọng nhất trong luật dân sự,
vì vậy, hệ thống thừa kế luôn chiếm vị trí trung tâm trong bất kỳ bộ luật dân sự nào Quyền được quy định trong Hiến pháp - các đạo luật gốc của hệ thống pháp luật Việt Nam, quyền thừa kế được ghi nhận là quyền cơ bản của công dân Điều 19 Hiến pháp
1959 quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế tài sản riêng của công dân theo quy định của pháp luật” Thứ hai, Điều 27 của Hiến pháp năm 1980 được kế thừa và sửa đổi để phù hợp với thực tế “ pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân” Trải qua quá trình phát triển, Hiến pháp năm 1992 tiếp tục ghi nhận và khẳng định “ nhà nước bảo hộ quyền sở hữu và quyền thừa kế hợp pháp của công dân” (Điều 58) Theo tinh thần của Hiến pháp năm 1992, hệ thống kế thừa của Bộ luật dân sự năm
1995 đã có những thay đổi tích cực, phù hợp với sự phát triển của xã hội và có tính khả thi
Tuy nhiên, trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của đời sống kinh tế xã hội của đất nước, pháp luật về thừa kế vẫn chưa thể giải quyết hết những trường hợp, hoàn cảnh đặc biệt trong xã hội, một số quy định của luật thừa kế chưa đủ chi tiết và rõ
Trang 6ràng Có nhiều quan điểm trái ngược nhau nên trong thực tiễn có những cách hiểu, cách sử dụng chưa thống nhất, tuy xâm phạm đến quyền thừa kế của công dân nhưng vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề xã hội của gia đình và cộng đồng Do những bất cập trên Vì vậy, ngày 24/11/2015, Kỳ họp thứ X, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Bộ luật dân sự năm 2015 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng
01 năm 2017 trong đó có quy định về quyền thừa kế
Xuất phát từ những thắc mắc trên, tôi đã chọn đề tài: “Kế thừa pháp luật dân sự Việt Nam” làm luận văn của mình Đây là chuyên đề giúp chúng tôi và mọi người hiểu được tác động của thừa kế trong cuộc sống hàng ngày, thừa kế còn giúp chúng tôi hiểu được ý nghĩa lý luận quan trọng về phương diện lý luận cũng như ứng dụng của nó trong vấn đề thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nhóm em xác định chọn đề tài này cũng dựa trên cơ sở có những mục đích nghiên cứu rõ ràng những quy định về người để lại di sản thừa kế,người thừa kế,thời điểm,thời gian mở thừa kế kế,di sản thừa kế,người quản lý di sản… và những điểm mới trong chế định thừa kế.Sự thừa kế,tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác là một quy luật khách quan,những các quan hệ thừa kế ở mỗi chế độ xã hội được giải quyết như thế nào là chủ quan con người quyết định Quyền sở hữu cá nhân là khách quan của thừa kế
Quyền thừa kế xuất phát từ các quan niệm xem gia đình như một thành viên trong một tập thể xã hội, nên nhà nước ta phải đảm bảo quyền lợi của mỗi thành viên trong một thể thể hoàn chỉnh, thông nhất, học tập và làm theo tư tưởng của Hồ Chí Minh Vì vậy quyền thừa kế (trong bộ luật dân sự việt nam năm 2015) của nước ta hiện nay như một án văn, một phương diện của pháp lý để căn cứ vào đó mà giải quyết tranh chấp giữa phân chia tài sản, đất đai,… từ đó nêu lên ý nghĩa quan trong về việc thực hiện các năng của xã hội đối với thừa kế
Trang 73
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của thừa kế là các tài sản, quyền tài sản thuộc quyền của người đã chết để lại hoặc người còn sống muốn chuyển giao toàn bộ tài sản của mình cho người khác trong trường hợp hưởng thừa kế theo pháp luật, thừa kế thế vị,các hàng thừa kế theo pháp luật
4 Cơ cấu bài tiểu luận
Cơ cấu bài tiểu luận gồm: Một số quy định chung về thừa kế theo pháp luật( khái niệm thừa kế, quy định chung về thừa kế ….), Khái niệm thừa kế, hình thức thừa kế ,…
Trang 8B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
I Các Khái Niệm
1.1 Khái niệm thừa kế
Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho những người còn sống
1.2 Khái niệm quyền thừa kế
- Theo nghĩa khách quan: Là một phạm trù pháp lý bao gồm các quy phạm
pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống theo
di chúc hoặc theo trình tự do pháp luật quy định
- Theo nghĩa chủ quan: Là các quyền năng dân sự cụ thể của các chủ thể có
liên quan đến quan hệ thừa kế
II Một số quy định chung về thừa kế
người khác theo trình tự thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật
- Di sản thừa kế bao gồm: tài sản riêng, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác, quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa
kế
- Tài sản riêng tức là những tài sản thuộc phần sở hữu riêng của người chết đứng tên lúc còn sống Tài sản chung với người khác là phần tài sản do lúc còn sống người chết đã đồng tạo ra cùng chung với một người khác, thì lúc chết phần tài sản đó cũng được đưa vào di sản của người chết
2.3 Người thừa kế:
- Nếu là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra
và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Nếu là tổ chức thì phải được tiến hành vào thời điểm mở thừa kế
- Người thừa kế nhận di sản của người chết thì phải thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại
Trang 95
2.4 Thời điểm, địa điểm mở thừa kế
2.4.1 Thời điểm mở thừa kế:
Là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp tòa tuyên bố một người đã chết thì tùy tường từng trường hợp Tòa án xác định ngày chết của người đó
2.4.2 Địa điểm mở thừa kế:
Là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản, nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn tài sản
III Người quản lý di sản, nghĩa vụ và quyền của người quản lý di sản
3.1 Người quản lý di sản (chương XXII điều 638-Bộ luật dân sự)
- Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra
- Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý thì người đang chiếm hữu, sử dụng , quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản đó
- Trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý di sản thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý
3.2 Nghĩa vụ của người quản lý di sản
- Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và 3 điều 638-Bộ luật dân sự có các nghĩa vụ sau:
- Lập danh mục di sản, thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Bảo quản di sản, không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác, nếu không đuợc người thừa kế đồng ý bằng văn bản
- Thông báo về di sản cho những người thừa kế
- Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại
- Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế
Trang 10- Bảo quản di sản, không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác, nếu không đuợc người thừa kế đồng ý bằng văn bản
- Thông báo về di sản cho những người thừa kế
- Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại
- Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế
• Người đang chiếm hữu ,sử dụng,quản lý di sản quy định tại khoản 2 điều
638-Bộ luật dân sự có nghĩa vụ sau:
- Bảo quản di sản,không được bán,trao đổi,tặng cho,cầm cố,thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác
- Thông báo về di sản cho người thừa kế
- Bồi thường thiệt hại,nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại
- Giao lại di sản theo thoải thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế
3.3 Quyền của người quản lý di sản
• Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và 3 điều 638-Bộ luật dân sự có các quyền sau:
- Đại diện cho người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế
- Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế
• Người đang chiếm hữu,sử dụng,quản lý di sản quy định tại khoản 2 điều
638-Bộ luật dân sự có quyền sau:
- Được tiếp tục sử dụng di sản theo thoải thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế
Trang 117
- Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế
3.4 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế (chương XXII điều 645-Bộ luật dân sự)
- Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa
kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm
4.1 Hình thức thừa kế theo hàng thừa kế được áp dụng trong các trường hợp
- Người chết không để lại di chúc
- Di chúc không hợp pháp
- Những người thừa kế theo di chúc đề chết trước hoặc chết cùng vào một thời điểm với người lập di chúc, cơ quan được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
- Những người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc mà không có quyền thừa kế theo di sản hoặc từ chối hưởng quyền di sản
4.2 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản
- Phần di sản không được định đoạt trong di chúc
- Phần di sản có liên quân đến phần di sản của di chúc không có hiệu lực
- Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không
có quyền hưởng di sản, từ chối quyền hưởng di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, liên quan đến cơ quan tổ chức được hưởng di sản theo di chúc nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế
4.3 Những người thừa kế theo pháp luật (hàng thừa kế)
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
để, con nuôi của người chết
Trang 12- Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh chị em ruột, cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú ruột,
cô ruột, cậu ruột, dì ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại
- Thừa kế thế vị pháp luật quy định: Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần
di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống, nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống
Trang 139
VÍ DỤ MINH HỌA:
Vợ chồng A và B có 300 triệu B có 100 triệu Khi chết B không để lại di chúc A
và B có con gái là C và D Vợ chồng C và G có một đứa con là H Biết C chết cùng với B Di sản thừa kế của B là: 120 triệu + 300/2 = 270 triệu
Cách giải quyết: Do B không để lại di chúc nên sẽ chia theo pháp luật Căn cứ quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 thì A,C,D cùng hàng thừa kế thứ nhất nên
sẽ nhận phần di sản bằng nhau: A = C = D = 270/3 = 90 triệu
Do C chết cùng B nên theo Điều 652 Bộ luật dân sự 2015 thì H là con của C sẽ được hưởng 90 triệu của C
Trang 14CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ
1.1 Nhiều qui định của pháp luật còn mâu thuẫn:
Hiện nay trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật xảy ra tình trạng các luật quy định cùng một nội dung giống nhau nhưng lại không thống nhất với nhau Việc không thống nhất giữa quy định của pháp luật dẫn đến khó khăn khi vận dụng vào thực tiễn
Ví dụ: Khoản 1 điều 651 và khoản 5 điều 652 Bộ luật dân sự quy định về hình thức di chúc miệng như sau “trong trường hợp tính mạng của một người bị cái chết đe dọa đến bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng’’ Và “di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng
và ngay sau đó người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn năm ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng”
Như vậy, theo quy định thì di chúc miệng chỉ được lập trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt, đó là tính mạng của người để lại di chúc bị đe dọa, được hiểu là người di chúc không còn khả năng hoặc không thể lập di chúc bằng văn bản Và nếu sau thời gian pháp luật quy định mà người lập di chúc còn sống minh mẫn thì di chúc miệng
đó mặc nhiên vô hiệu Di chúc miệng phải trước ít nhất hai người làm chứng và những lời di chúc sẽ được ghi chép lại và công chứng trong thời hạn năm ngày, sau thời hạn này thì coi như không hợppháp.Tuy nhiên Luật Công chứng được Quốc hội thông qua ngày 29.11.2006 có hiệu lực thi hành ngày 1.7.2007 quy định rất cụ thể về thủ tục công chứng.Điều 48 luật này quy định về công chứng di chúc thì người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác công chứng dichúc.Quy định này chỉ đúng với trường hợp thực hiện công chứng đối với di chúc được lập thành vănbản.Còn đối với di chúc miệng thì người lập di chúc không