B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 1.1 Các hình thức cộng đồng người trước khi hình thành dân tộc − Để tồn tại và phát triển con người sống thành những cộng đồng nhất định − Trải qua các thời kỳ lịch sử xã hội khác nhau, sự phát triển của các hình thức cộng đồng người theo mức độ tăng tiến: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và dân tộc 1.1.1 Thị tộc − Từ những “bầy người nguyên thủy” sống theo "bầy”, tập đoàn qua quá trình biến đổi phát triển thành thị tộc. − Thị tộc vừa là thiết chế xã hội đầu tiên, vừa là hình thức cộng đồng người tiền thân của loài người. − Thị tộc có khoảng vài trăm người cùng huyết thống với nhau. − Do sản xuất chưa phát triển chủ yếu là trồng trọt chăn nuô, do đó người phụ nữ có vai trò vô cùng quan trọng. − Theo thời gian, lực lượng sản xuất từng bước phát triển dẫn đến hình thức thị tộc phụ quyền ra đời thay thế hình thức thị tộc mẫu quyền. − Các thành viên trong thị tộc đều có cùng tổ tiên, tiếng nói, những thói quen, tín ngưỡng, lao động chung. Ngoài những yếu tố văn hóa trên, mỗi thị tộc có một tên gọi riêng. − Về tổ chức xã hội, tù trưởng, tộc trưởng, lãnh tụ quân sự được người trong thị tộc bầu ra để điều hành công việc chung và có thể bị bãi nhiệm nếu không làm tròn trách nhiệm của mình. − Mọi thành viên trong thị tộc đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. 1.1.2 Bộ lạc − Bộ lạc là hình thức cộng đồng người phát triển từ sự liên kết của nhiều thị tộc có cùng huyết thống tạo thành, hoặc có quan hệ hôn nhân liên kết với nhau − Bộ lạc có những đặc điểm cơ bản giống với thị tộc, song có cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về đất đai và công cụ sản xuất. 4 − Một đặc trưng mới của bộ lạc so với thị tộc là sự ổn định hơn về mặt lãnh thổ. − Bộ lạc có các hình thức sở hữu khác cao hơn thị tộc như vùng lãnh thổ, nơi trồng trọt, săn bắt,... − Về tổ chức xã hội, đứng đầu là một hội đồng gồm các tù trưởng của các thị tộc và một vị thủ lĩnh tối cao. Trong quá trình phát triển, một bộ lạc có thể được tách ra thành các bộ lạc khác nhau, hoặc là có sự hợp nhất tạo thành liên minh các bộ lạc. 1.1.3 Bộ tộc − Bộ tộc là hình thức cộng đồng người hình thành khi xã hội có sự phân chia giai cấp, từ sự liên kết của nhiều bộ lạc sống trên một lãnh thổ nhất định. − Bộ tộc hình thành cùng với chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến. − Sự hình thành và phát triển của bộ tộc phức tạp hơn thị tộc và bộ lạc. Và có những nét đặc thù riêng ở những nước khác nhau, những thời đại khác nhau. − Bộ tộc đông đảo hơn bộ lạc. Mỗi bộ tộc có tên gọi riêng; có lãnh thổ riêng mang tính ổn định hơn so với thị tộc và bộ lạc; có một ngôn ngữ thống nhất, tiếng nói chung nhưng chưa thực sự vững chắc, thêm vào đó là thổ ngữ được sử dụng rộng rãi. Xuất hiện thêm những yếu tố chung về tâm lý, văn hoá. − Không chỉ vậy, bộ tộc còn có dân cư đa dạng và đang xen, đa ngôn ngữ cũng như văn hóa, trong đó ngôn ngữ nào chiếm lĩnh vị trí giao lưu và phát triển kinh tế thì trở thành ngôn ngữ chung của bộ tộc. − Về tổ chức xã hội, nhà nước điều hành công việc xã hội, là công cụ do giai cấp thống trị tổ chức ra và phục vụ lợi ích cho giai cấp đó. Với sự ra đời của bộ tộc, là cột mốc đánh dấu sự tan rã hoàn toàn của xã hội công xã nguyên thủy, hình thành một hình thức cộng đồng người dựa trên những mối liên hệ về kinh tế, lãnh thổ và văn hoá mặc dù những mối liên hệ đó còn chưa thực sự phát triển. Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội có giai cấp đầu tiên được hình thành. 5 1.2 Dân tộc – hình thức cộng đồng người phổ biến hiện nay Dân tộc (tộc người) là hình thức cụ thể của một tập hợp nhóm đoàn người, xuất hiện có mặt trong lịch sử quá trình tiến hóa phát triển của tự nhiên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM
KHOA ĐẠO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI:
TỪ VIỆC TÌM HIỂU QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN
VỀ DÂN TỘC LÀM RÕ SỰ HÌNH THÀNH DÂN TỘC VIỆT NAM
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN
HỌC KÌ I NĂM HỌC 2021 – 2022 Nhóm: 02 – Lớp: LLCT130105_19CLC
Tên đề tài: Từ việc tìm hiểu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc
làm rõ sự hình thành dân tộc Việt Nam
Ghi chú:
- Tỷ lệ % = 100%: Mức độ phần trăm của từng sinh viên tham gia
- Trưởng nhóm: Phu Huỳnh Mạnh Triển - SĐT: 0926.502.726
Trang 33
MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu: 1
3 Phương pháp nghiên cứu: 1
B PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 3
1.1 Các hình thức cộng đồng người trước khi hình thành dân tộc 3
1.1.1 Thị tộc 3
1.1.2 Bộ lạc 3
1.1.3 Bộ tộc 4
1.2 Dân tộc – hình thức cộng đồng người phổ biến hiện nay 5
1.3 Quá trình hình thành các dân tộc ở châu Âu 14
1.4 Tính đặc thù của quá trình hình thành dân tộc ở châu Á 15
1.4.1 Vài nét về sự hình thành dân tộc ở châu Á 15
1.4.2 Tính đặc thù của sự hình thành dân tộc ở châu Á 15
1.5 Mối quan hệ giữa giai cấp, dân tộc và nhân loại 15
1.5.1 Quan hệ giai cấp và dân tộc: 16
1.5.2 Giai cấp, nhân loại: 18
CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH DÂN TỘC VIỆT NAM 20
2.1 Lịch sử và tính đặc thù của sự hình thành dân tộc Việt Nam 20
2.1.1 Lịch sử 20
2.1.2 Tính đặc thù: 24
2.2 Một số vấn đề dân tộc Việt Nam hiện nay 25
2.2.1 Những tác động của toàn cầu hóa đến các quốc gia dân tộc 25
2.2.2 Phương hướng giải quyết vấn đề hiện tại 26
2.2.3 Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đề dân tộc 26
C PHẦN KẾT LUẬN 30
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 4sự biến đổi và phát triển quan hệ giai cấp nội tại trong mỗi quốc gia, dân tộc Từ
đó nhìn thấy được mối quan hệ biện chứng, gắn bó mật thiết giữa giai cấp và dân tộc
Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ XX, một thế kỷ phát triển nhanh chóng và vô cùng phức tạp của tình hình quốc tế, chúng ta càng dễ dàng nhận thấy
sự đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp Vấn đề đó đã được kiểm nghiệm trên thực tế
Và đó cũng chính là những lý do mà nhóm chúng em quyết định chọn, tìm hiểu rõ nội dung và thuyết trình đề tài: “Từ việc tìm hiểu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân tộc làm rõ sự hình thành dân tộc Việt Nam” Mặc dù chúng
em đã cố gắng tận dụng hết khả năng của bản thân, nhưng do trình độ kiến thức
và kinh nghiệm làm tiểu luận còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những sơ sót Chúng em rất mong được nhận lời nhận xét, đánh giá, góp ý của cô để bài của chúng em có thể hoàn thiện hơn
2 Đối tượng nghiên cứu:
Sinh viên
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Tài liệu, sách, giáo trình cùng với nội dung giảng dạy
Trang 52
- Tham gia thảo luận cùng với các thành viên trong nhóm để làm rõ nội dung
vấn đề của đề tài, cô đọng lại và trình bày tiểu luận
- Dựa vào qua các sách báo, thông tin trên mạng Internet
- Tham khảo một vài bài tiểu luận có một số vấn đề liên quan, từ đó góp phần làm sáng tỏ nội dung của bài tiểu luận của nhóm
Trang 63
B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 1.1 Các hình thức cộng đồng người trước khi hình thành dân tộc
− Để tồn tại và phát triển con người sống thành những cộng đồng nhất định
− Trải qua các thời kỳ lịch sử xã hội khác nhau, sự phát triển của các hình thức cộng đồng người theo mức độ tăng tiến: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và dân tộc
− Thị tộc có khoảng vài trăm người cùng huyết thống với nhau
− Do sản xuất chưa phát triển chủ yếu là trồng trọt chăn nuô, do đó người phụ
nữ có vai trò vô cùng quan trọng
− Theo thời gian, lực lượng sản xuất từng bước phát triển dẫn đến hình thức thị tộc phụ quyền ra đời thay thế hình thức thị tộc mẫu quyền
− Các thành viên trong thị tộc đều có cùng tổ tiên, tiếng nói, những thói quen, tín ngưỡng, lao động chung Ngoài những yếu tố văn hóa trên, mỗi thị tộc có một tên gọi riêng
− Về tổ chức xã hội, tù trưởng, tộc trưởng, lãnh tụ quân sự được người trong thị tộc bầu ra để điều hành công việc chung và có thể bị bãi nhiệm nếu không làm tròn trách nhiệm của mình
− Mọi thành viên trong thị tộc đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ
1.1.2 Bộ lạc
− Bộ lạc là hình thức cộng đồng người phát triển từ sự liên kết của nhiều thị tộc có cùng huyết thống tạo thành, hoặc có quan hệ hôn nhân liên kết với nhau
− Bộ lạc có những đặc điểm cơ bản giống với thị tộc, song có cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về đất đai và công cụ sản xuất
Trang 71.1.3 Bộ tộc
− Bộ tộc là hình thức cộng đồng người hình thành khi xã hội có sự phân chia giai cấp, từ sự liên kết của nhiều bộ lạc sống trên một lãnh thổ nhất định
− Bộ tộc hình thành cùng với chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến
− Sự hình thành và phát triển của bộ tộc phức tạp hơn thị tộc và bộ lạc Và có những nét đặc thù riêng ở những nước khác nhau, những thời đại khác nhau
− Bộ tộc đông đảo hơn bộ lạc Mỗi bộ tộc có tên gọi riêng; có lãnh thổ riêng mang tính ổn định hơn so với thị tộc và bộ lạc; có một ngôn ngữ thống nhất, tiếng nói chung nhưng chưa thực sự vững chắc, thêm vào đó là thổ ngữ được
sử dụng rộng rãi Xuất hiện thêm những yếu tố chung về tâm lý, văn hoá
− Không chỉ vậy, bộ tộc còn có dân cư đa dạng và đang xen, đa ngôn ngữ cũng như văn hóa, trong đó ngôn ngữ nào chiếm lĩnh vị trí giao lưu và phát triển kinh tế thì trở thành ngôn ngữ chung của bộ tộc
− Về tổ chức xã hội, nhà nước điều hành công việc xã hội, là công cụ do giai cấp thống trị tổ chức ra và phục vụ lợi ích cho giai cấp đó
Với sự ra đời của bộ tộc, là cột mốc đánh dấu sự tan rã hoàn toàn của xã hội công xã nguyên thủy, hình thành một hình thức cộng đồng người dựa trên những mối liên hệ về kinh tế, lãnh thổ và văn hoá mặc dù những mối liên hệ đó còn chưa thực sự phát triển Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội
có giai cấp đầu tiên được hình thành
Trang 85
1.2 Dân tộc – hình thức cộng đồng người phổ biến hiện nay
Dân tộc (tộc người) là hình thức cụ thể của một tập hợp nhóm đoàn người, xuất hiện có mặt trong lịch sử quá trình tiến hóa phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân chia khác biệt rõ ràng bởi ba đặc trưng phổ biến cơ bản đó là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức trách nhiệm độc lập tự giác về một cộng đồng phổ biến nhất hiện nay, mang tính bền vững tồn tại lâu dài không bị phai nhòa theo thời gian qua hàng nghìn năm lịch sử chiến tranh trong nhiều thế kỉ trước; ví dụ: dân tộc Việt, dân tộc Tày, dân tộc Khơ Me Hình thức và trình độ nhận thức phát triển của tộc người còn bị ảnh hưởng phụ thuộc vào các chế độ thể chế xã hội tương ứng với một số các phương thức hình thức của sản xuất Dân tộc là hình thái cộng đồng phát triển tiến hóa cao nhất của trong các loại tộc người, đã xuất hiện có mặt trong những năm xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái nhận biết của tộc người trong xã hội thời nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội thời những năm nô lệ và xã hội thời phong kiến là bộ tộc) Dân tộc bây giờ hiện nay được đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững, vững vàng và chặt chẽ hơn nhiều bởi vì còn có thêm về mặt kinh
tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác về tộc người Dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội, được hình thành do nhờ sự tập hợp tập trung của nhiều tộc người có kỹ năng trình độ tư duy về phát triển kinh tế - xã hội khác biệt nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ quốc gia đất nước nhất định và được quan tâm, quản lí thống nhất, có sự phù hợp, nhất trí với nhau, không mâu thuẫn nhau, hợp lại thành một khối bởi một nhà nước Kết cấu mang lại trạng thái cân bằng của cộng đồng quốc gia dân tộc rất là đa dạng, khác biệt, vô hạn, phong phú của những thứ khác nhau, không giống nhau, chênh lệch phụ thuộc cần được giúp đỡ mới có thể tồn tại nhưng đồng thời lại bị ràng buộc bằng những điều kiện thiệt cho mình vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước Một quốc gia dân tộc có tộc người đa số đông dân cư và các tộc người thiểu số hạn chế dân cư Có tộc người đã đạt đến mức trình độ mức, khả năng hiểu biết dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ của bộ tộc Với cơ cấu tộc người như thế, mối quan
hệ giữa các dân tộc tộc người rất đa dạng phổ biến và phức tạp không đơn giản; rắc rối khó khăn, có nhiều thành phần hoặc nhiều mặt kết hợp, đan xen với nhau, khó
Trang 96
mà tách bạch ra được, có nhiều sự rắc rối khó hiểu, khó nắm bắt, khó giải quyết Nhà nước một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình phải ban hành những luật đem lại quyền lợi cấp bách nhất chính sách dân tộc để duy trì ổn áp sự ổn định và phát triển của các dân tộc, tộc người, sự ổn định và phát triển của đất nước lãnh thổ quốc gia Đôi khi cũng có một số các trường hợp khác, một quốc gia dân tộc chỉ gồm một tộc người (ví dụ như Triều Tiên) Tuy nhiên mặt khác ngoài những nét tương đồng giống nhau như trên, mối quan hệ giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và đối với dân tộc xã hội chủ nghĩa lại có những nét khác biệt không giống gì nhau, bởi
vì do đặc điểm của những phương thức sản xuất và những thể chế xã hội Trong ở mỗi của dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội lại phân chia rõ ràng đối kháng giai cấp giữa tư sản và giữa vô sản, nhà nước thì là của giai cấp tư sản, bảo vệ che chở quyền lợi chủ quyền cho của giai cấp tư sản Còn lại ở người dân tộc xã hội chủ nghĩa, thì
xã hội đã không còn là đối kháng giai cấp, mà quyền lực nhà nước lại thuộc về giai cấp công nhân và người nhân dân lao động thời tư sản Cho đến ngày nay bây giờ, khái niệm hình thức của tư duy trừu tượng cùng với phản ánh những đối tượng trong hiện thực về dân tộc được hiểu theo rất là nhiều nghĩa không giống nhau, mà trong số khái niệm định nghĩa đó thì lại có hai nghĩa lại được dùng phổ biến nhất đến hiện nay Thứ nhất là, dân tộc chỉ sự một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ vững mạnh và liên kết bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, nhưng lại có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc nhưng cực kì rất phát triển Với nghĩa như thế này suy ra dân tộc là một bộ phận của quốc gia mà quốc gia lại có nhiều thành phần dân tộc.Ý nghĩa thứ hai là dân tộc chỉ ra một cộng đồng người ổn định yên bình hòa bình mất đi khả năng thay đổi cho dù sự thay đổi này là tốt hay xấu đã hợp thành nên nhân dân của một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ ngôn ngữ chung và có ý thức nhận thức về sự thống nhất của quốc gia tổ quốc của mình, gắn bó thân thiết với nhau bởi vì sự lợi ích của chính trị, của kinh tế, của truyền thống, của văn hóa và truyền thống đấu tranh chiến đấu bảo vệ anh dũng chung trong suốt toàn bộ quá trình thời kì lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước để được thành quả như bây giờ.Đối với nghĩa như
Trang 107
thế này khẳng định chắc chắn dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó – quốc gia dân tộc.Khái niệm “dân tộc” thông thường được dùng phổ biến để chỉ hầu như tất cả các hình thức cộng đồng người (bộ lạc, bộ tộc, tộc người, dân tộc) Dân tộc
là hình thức cộng đồng người phát triển tiến hóa vượt bậc nhất cao nhất từ trước cho đến ngày nay Dân tộc đa số thường hay dùng để chỉ các quốc gia (ví dụ Việt Nam, Campuchia, Anh, Pháp )mà dân tộc còn dùng để chỉ rõ các dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số trong một quốc gia (ví dụ dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Hmông, Vân Kiều, Êđê, Khme ) So với thời bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong quá trình thời kì phát triển của tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ quốc gia ổn định, tình trạng cát cứ đã được xoá bỏ, có nền kinh tế hàng hóa đang phát triển dần dần, thị trường quốc gia thống nhất ổn định, xóa bỏ cách phát âm và phương ngữ, coi ngôn ngữ vốn là chuẩn mực và ảnh hưởng của nó ngày càng được
mở rộng Hình thức cộng đồng người khác với các hình thức cộng đồng trước đây, bao gồm cả bộ lạc Giống như các bộ lạc, một quốc gia là một cộng đồng người có liên quan đến xã hội, với các giai cấp, quốc gia và hệ thống chính trị Một dân tộc
có thể phát triển từ một bộ tộc, nhưng hầu hết các tình huống đều được hình thành trên cơ sở hợp nhất của nhiều bộ tộc và dân tộc Từ cộng đồng hình thành trước dân tộc, sự phát triển lên dân tộc là một quá trình vừa có tính liên tục vừa có những bước phát triển nhảy vọt Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, sự phân biệt giữa dân tộc và bộ lạc không phải là điều dễ dàng đối với khoa học lịch sử Điều đầu tiên cần lưu ý là nếu trong bộ tộc còn tồn tại mối quan hệ cộng đồng, nếu tộc người tương đối yếu và lỏng lẻo thì tộc người càng thống nhất Sở dĩ như vậy bởi đất nước này đã được hình thành từ rất lâu đời và trải qua nhiều thử thách lịch sử Mặt khác,
do đất nước được hình thành và củng cố trên cơ sở mới, tức là các quan hệ kinh tế được hình thành trên một thị trường rộng lớn và thống nhất: thị trường dân tộc Các thể chế chính trị mới và các nhà nước tập trung đã củng cố sự thống nhất kinh tế của cộng đồng Các quốc gia hiện đại là các quốc gia dân tộc Các Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin tuy chưa đưa ra được định nghĩa đầy đủ về dân tộc, nhưng họ đã vạch ra những đặc điểm cơ bản của dân tộc, phân tích một cách khoa học sự hình thành và phát triển của dân tộc, tính dân tộc, làm rõ quan điểm của giai
Trang 118
cấp vô sản đối với các vấn đề dân tộc Trong "Tuyên ngôn cộng sản", hai ông tin rằng giai cấp tư sản đã từng bước xóa bỏ tình trạng phân tán tư liệu sản xuất, tài sản và dân cư, tạo ra "một dân tộc thống nhất, một chính phủ, luật pháp, lợi ích giai cấp của quốc gia và hàng rào thuế quan" Ông đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển lý thuyết về các vấn đề dân tộc: “Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định được thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế và tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng văn hoá” Các nhà kinh điển gọi các quốc gia là quốc gia - dân tộc, nhấn mạnh các yếu tố thống nhất và ổn định trong một cộng đồng quốc gia Dưới góc độ của các nhà kinh điển,
có thể tóm tắt là: quốc gia là một dân tộc ổn định được hình thành trên cơ sở một lãnh thổ thống nhất, một ngôn ngữ thống nhất, nền kinh tế thống nhất và đất nước thống nhất trong lịch sử Tính cộng đồng Văn hóa và trí lực, nhân cách thống nhất, đất nước và luật pháp thống nhất Vì vậy, một quốc gia là một cộng đồng dân cư
ổn định, được hình thành trong lịch sử, tạo nên một quốc gia, dựa trên cơ sở cộng đồng bền vững: lãnh thổ quốc gia, kinh tế, ngôn ngữ, truyền thống, văn hóa, đặc điểm tâm lý, ý thức dân tộc và ý thức dân tộc Tên quốc gia Các thành viên trong cùng một dân tộc sử dụng chung một ngôn ngữ (tiếng mẹ đẻ) để giao tiếp trong nước Các thành viên có đặc điểm chung về vật chất, văn hoá, tinh thần và văn hoá, tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc Dân tộc là cộng đồng chính trị xã hội hiểu theo nghĩa là cộng đồng dân tộc quốc gia, cộng đồng chính trị xã hội do nhà nước lãnh đạo và được thành lập trên một lãnh thổ chung, như dân tộc Việt Nam và dân tộc Hoa Chủng tộc là một cộng đồng người ổn định về mặt lịch sử, dựa trên một cộng đồng ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế và tâm lý, và thể hiện trong một cộng đồng văn hóa Quốc gia là sản phẩm của quá trình phát triển của xã hội loài người từ thị tộc,
bộ lạc, bộ lạc này sang quốc gia khác Một quốc gia là một cộng đồng người có mối quan hệ chặt chẽ và lâu dài, hoạt động kinh tế chung, ngôn ngữ và đặc điểm văn hóa, hay đơn giản là một cộng đồng ổn định tạo thành người dân của một quốc gia Nhận thức rõ về đoàn kết dân tộc, sự thống nhất về lợi ích chính trị, kinh tế, văn hóa, truyền thống đoàn kết đấu tranh trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc Dân tộc là sản phẩm của quá trình vận động Phát triển của xã
Trang 12là ngôn ngữ chung và là công cụ truyền đạt kiến thức; đồng thời là công cụ giao tiếp và quản lý nhà nước của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam Giao lưu văn hóa giữa các dân tộc với nhau để trở thành cộng đồng dân tộc vững chắc hơn nhiều Bất
kỳ thành viên của một nhóm dân tộc nào cũng có thể sử dụng nhiều ngôn ngữ để giao tiếp Nhưng ở mỗi dân tộc đều có một ngôn ngữ chung và thống nhất của dân tộc này Tính thống nhất trong ngôn ngữ Tính dân tộc thể hiện ở sự thống nhất giữa cấu trúc ngữ pháp và vốn từ vựng cơ bản Quốc ngữ là ngôn ngữ phát triển Sự thống nhất về ngôn ngữ là một trong những đặc trưng chủ yếu của dân tộc Ngày nay, khi sự giao lưu và hội nhập quốc tế được mở rộng, ngôn ngữ của một quốc gia
có thể được nhiều quốc gia sử dụng, nhưng ngôn ngữ này vẫn được xác định (tiếng
mẹ đẻ) là ngôn ngữ chính của nhân dân, hơn hết là ngôn ngữ là công cụ giao tiếp
xã hội, một công cụ giao tiếp trong cộng đồng (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, quốc gia) Các thành viên của một nhóm dân tộc có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều ngôn ngữ Có một số ngôn ngữ được sử dụng bởi nhiều dân tộc Điều quan trọng là mỗi dân tộc đều có một ngôn ngữ chung, mà các thành viên của dân tộc đó coi đó là tiếng mẹ đẻ, tính thống nhất của ngôn ngữ dân tộc được thể hiện trước hết bằng sự thống nhất của cấu trúc ngôn ngữ của một dân tộc thể hiện những đặc điểm chính của dân tộc đó
Trang 1310
Thứ hai, dân tộc là một cộng đồng lãnh thổ Mỗi dân tộc đều có lãnh thổ riêng và không bị chia cắt Lãnh thổ của dân tộc bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và hải đảo là một bộ phận thuộc chủ quyền của quốc gia Nhà nước quốc gia Chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ là một thuật ngữ định nghĩa thường được thể chế hóa trong luật quốc gia và quốc tế Chủ quyền quốc gia là một thuật ngữ định nghĩa thường được thể chế hóa trong luật quốc gia và quốc tế Một thực tế lịch sử
là các lãnh thổ dân tộc đã bị chia đôi, nhưng không thể nhanh chóng cho rằng cộng đồng bị chia thành hai hoặc nhiều tộc người Tất nhiên, sự phân chia là bằng chứng
về tính bền vững của cộng đồng tộc người Thực tế lịch sử là trường hợp của một
sự phân chia trong thời gian, nhưng nó không thể được chứng minh cụ thể một cách
rõ ràng nhất Cộng đồng dân tộc (tộc người) được cho là đã phân chia, chia tách, tách ra thành hai hoặc rất nhiều nhóm dân tộc hoàn toàn khác nhau Điều đó là điều
dĩ nhiên, tất nhiên sự phân chia như thế này chính là một phép thử nghiệm để chứng minh cho sự bền vững của một cộng đồng dân tộc Cộng đồng lãnh thổ là một đặc trưng cực kì quan trọng, cái tầm quan trọng như vầy là một điều không bao giờ thể thiếu của cộng đồng quốc gia dân tộc Lãnh thổ là không gian tồn tại và phát triển của quốc gia, nếu không có lãnh thổ thì sẽ không bao giờ có được khái niệm quê hương, tổ quốc, quốc gia của tộc người Lãnh thổ là không gian tồn tại và phát triển của dân tộc, là nơi hình thành ổn định các cộng đồng người trong suốt chiều dài lịch sử Mỗi dân tộc có lãnh thổ thống nhất của riêng mình mà không được chia sẻ thông qua giáo dục Đồng thời, sự thống nhất của lãnh thổ cũng được củng cố bởi
sự liên hiệp của các yếu tố kinh tế và chính trị khác Lãnh thổ thuộc chủ quyền của mọi quốc gia, dân tộc Nếu không có lãnh thổ thì không có khái niệm về quê hương,
về quốc gia Nếu trong bộ tộc mà lãnh thổ vẫn do chủ nhân phân chia… thì lãnh thổ của quốc gia không còn bị phân chia và ổn định nhiều hơn nữa Cộng đồng lãnh thổ là đặc trưng tất yếu và quan trọng của dân tộc Mọi quốc gia, dân tộc đều
có một lãnh thổ xác định và lãnh thổ này được coi là thánh địa mà các thành phần dân tộc có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ bằng mọi giá Lãnh thổ của một quốc gia ngày nay không chỉ được hiểu là một lục địa mà còn biển và khu vực là một trong số đó Bầu trời, hải đảo và thềm lục địa được thể chế hóa bằng luật pháp
Trang 14mẽ Marx và Engels đã chỉ ra rằng tác nhân cơ bản dẫn đến sự biến đổi hình thức
từ cộng đồng thành con người Dân tộc là một yếu tố kinh tế Nền kinh tế là một cách sống, lối sống, những nét điển hình, được lặp đi lặp lại và định hình thành phong cách, thói quen trong đời sống của dân tộc, cộng đồng người, tộc người Cuộc sống tất cả những gì tồn tại trên thế giới này của người dân gắn kết các dân tộc với cộng đồng các dân tộc với nhau Tuy nhiên, khi một quốc gia dân tộc được hình thành thì nền kinh tế được hiểu là nền kinh tế thống nhất của một quốc gia độc lập và tự quản Ph Ăngghen đã nêu rõ và chỉ ra rõ ràng rằng là những nhân tố cơ bản nền gốc chung nhất len lụy ảnh hưởng dẫn đến sự thay đổi chuyển hoá từ một hình thức cộng đồng có trước dân tộc thành một cộng đồng dân tộc chủ yếu nhất là
do tác nhân của kinh tế Các quan hệ kinh tế diễn ra thường xuyên và mạnh mẽ, cụ thể là quan hệ thị trường Trường học đã làm tăng tính thống nhất, ổn định và bền vững của cộng đồng lớn sống trên một vùng đất rộng lớn Dân tộc tiêu biểu là dân tộc tư sản bao gồm các giai cấp, tầng lớp xã hội rất đa dạng Các giai cấp, tầng lớp
xã hội này có quan hệ kinh tế chặt chẽ với nhau trong một hệ thống kinh tế thống nhất được hình thành trên địa bàn của dân tộc, đó là hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa Trong thế giới hiện đại, có một hội nhập kinh tế quốc tế sâu sắc, nhưng mỗi quốc gia luôn luôn là nền kinh tế độc lập, bất kể nền kinh tế độc lập, bất kể các dân tộc khác
Trang 1512
Thứ tư, dân tộc là một cộng đồng trong văn hóa, tâm lý học, tính cách Văn hóa dân tộc mang nhiều sắc thái của địa danh, dân tộc, nhưng vẫn là nền văn hóa thống nhất, có những đặc điểm chung, ổn định Sự thống nhất trong đa dạng là một nét đặc trưng của văn hóa dân tộc Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa đặc trưng riêng quy định bản sắc văn hóa của dân tộc Ngoài những yếu tố văn hoá khác nhau của mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội trong cộng đồng dân tộc thì mọi thành viên trong cộng đồng đều tham gia vào các hoạt động văn hoá chung của dân tộc Đặc trưng văn hóa của dân tộc thể hiện trong phong tục, tập quán, tín ngưỡng và các hoạt động văn hóa khác Do quá trình hình thành và phát triển lâu đời nên văn hóa dân tộc không dễ bị đồng hóa Xã hội càng phát triển, sự giao lưu văn hóa và nhu cầu văn hóa ngày càng mạnh mẽ Càng lên cao, càng có sự giao hòa văn hóa nhưng hầu hết các dân tộc vẫn giữ được những sắc thái văn hóa riêng Ngoài ra, văn hóa còn là nền tảng tinh thần, là động lực của sự phát triển và là động lực của
sự phát triển công cụ bảo vệ độc lập, chủ quyền của mỗi quốc gia Lịch sử đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc luôn gắn liền với cuộc đấu tranh giữ gìn bản sắc văn hóa trước nguy cơ đồng hóa văn hóa Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, các gia đình dân tộc hiện đại ý thức được rằng phải hội nhập để bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc, nhưng không thể “hòa tan” Mỗi dân tộc cũng có tâm lý, tính cách riêng và được thể hiện trong đó Các hoạt động vật chất và tinh thần của dân tộc này, cụ thể là thông qua phong tục, tập quán, tín ngưỡng và đời sống văn hóa Những cái này chính là một đặc điểm cực kì quan trọng của bất kỳ quốc gia dân tộc nào Yếu tố này được hình thành tạo ra theo những đặc điểm đặc trưng của một quần xã đoàn người Đây chính là nơi tập hợp hội tụ đầy đủ tất cả hầu hết các yếu
tố suy nghĩ chung, ý thức chung, nhận thức chung nhất và xã hội của các dân tộc
Nó trở thành lương tâm của mỗi người trong cộng đồng dân tộc ở chỗ các bạn cũng
đã rời bỏ lãnh thổ quốc gia để đến sống trong một cộng đồng hoàn toàn khác, nhưng những nét văn hóa và tính cách của họ vẫn được lưu giữ lâu dài
Cuối cùng, dân tộc là cộng đồng người có nhà nước và pháp luật thống nhất Đây là đặc điểm của quốc gia dân tộc để phân biệt với quốc gia về dân tộc (đa số hay thiểu số) Ngay từ đầu, Marx và Engels đã chú ý đến yếu tố này và đã phân tích
Trang 1613
nó trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” Từ động lực của sự phát triển kinh tế, với vai trò tích cực của giai cấp tư sản trong sự phát triển kinh tế Trong thời đại của chủ nghĩa tư bản, các quốc gia-nhà nước đã được hình thành ở hầu hết các khu vực của Châu Âu Do nhu cầu của thị trường và sự phát triển của vận động hàng hoá, giai cấp tư sản đã xoá bỏ tình trạng manh mún, “cơ sở kinh tế chính trị”, hình thành “liên minh lợi ích” và dẫn đến hình thành “chính phủ”, “pháp luật "," một nhiệm vụ hải quan " Do đó sự thống nhất giữa nhà nước và pháp luật là đặc trưng của dân tộc và ngày nay cũng là quan niệm chung trên thế giới Quốc gia - dân tộc - nhà nước là một khối bền bỉ vững vàng, liên kết phối hợp chặt chẽ với nhau, không thể tách rời Đi ra ngoài Mỗi dân tộc có một nhà nước riêng và mỗi nhà nước thuộc về một dân tộc cụ thể, những đặc điểm của dân tộc đã cho thấy dân tộc đó hoàn toàn khác với các hình thức cộng đồng loài người đã hình thành trước khi xã hội có các giai cấp như bộ lạc, một hình thức cộng đồng đã phổ biến ở phương Tây trước khi quốc gia này được thành lập Dân tộc có thể từ một bộ tộc phát triển lên và cũng có thể do nhiều bộ tộc hợp lại.Tuy nhiên, các mối liên hệ giữa các thành viên trong bộ tộc còn lỏng lẻo yếu ớt, còn ở các dân tộc các mối liên
hệ trong cộng đồng ổn định và bền vững hơn.Tính cộng đồng bền vững này tạo nên sức mạnh của mỗi dân tộc và đảm bảo cho một dân tộc có thể tồn tại, phát triển trong những điều kiện lịch sử khác nhau kể cả trong điều kiện có giặc ngoại xâm hoặc có sự giao lưu quốc tế mở rông.Tổng hoà các đặc trưng cơ bản về lãnh thổ, ngôn ngữ, kinh tế, văn hoá, tâm lý, tính cách, nhà nước và pháp luật thống nhất làm cho cộng đồng dân tộc trở nên hình thức phát triển nhất và bền vững hơn bất cứ hình thức cộng đồng nào trong lịch sử.Trong tương lai, dân tộc sẽ tồn tại lâu dài,
kể cả sau khi các giai cấp không còn trong lịch sử.Những đặc trưng trên có quan
hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau, kết hợp với nhau một cách chặt chẽ trong lịch sử hình thành, phát triển cộng đồng dân tộc.Trong đó cộng đồng về kinh tế có vai trò quyết định đối với dân tộc.Các đặc trưng khác có vai trò nhất định đối với quá trình hình thành, phát triển dân tộc.Nghiên cứu vấn đề dân tộc hiện nay có vai trò to lớn đối với sự phát triển của con người, của mỗi quốc gia dân tộc.Dân tộc không chỉ là sản phẩm của sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội mà còn là động lực
Trang 171.3 Quá trình hình thành các dân tộc ở châu Âu
- Quá trình hình thành nên dân tộc của các nước Châu Âu luôn luôn gắn liền với sự hình thành và phát triển của các thế lực tư bản chủ nghĩa
- Quá trình hình thành dân tộc ở Châu Âu cũng được phân chia khá rõ ràng, dựa theo lịch sử phát triển và địa lý lãnh thổ của các quốc gia với nhau mà hướng hình thành dân tộc cũng khác nhau Với những chọn lọc và kết luận dựa theo những gì
đã có, ta đưa ra được hai phương hướng chính:
+ Ví dụ như các nước: Đức, Ý, Pháp, (Tây Âu),vv…
*Phương hướng thứ hai:
+ Do chế độ phong kiến vẫn còn tồn tại và chủ nghĩa tư bản chưa chiếm lính cũng như phát triển còn rất yếu, vì thế các dân tộc ở đây được hình thành rất khác biệt
so với phương hướng thứ nhất Dân tộc ở những nước này được hình thành từ một
bộ tộc chính