BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI NGHIÊM HOÀNG DƯƠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY HẢI TIẾN – HÀ NỘI Chuyên ngành Tài chính Ngân hàng Mã số 60[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
NGHIÊM HOÀNG DƯƠNG
NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY HẢI TIẾN – HÀ NỘI
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.,TS.NGUYỄN ĐÌNH KIỆM
Trang 2Hà nội, năm 2018 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.,TS Nguyễn Đình Kiệm
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
là trung thực và chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
Nghiêm Hoàng Dương
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 5
1.1 Khái quát về doanh nghiệp và năng lực tài chính doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm: 5
1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp 6
1.2 Năng lực tài chính của doanh nghiệp 8
1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa 8
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp 11
1.3 Một số căn cứ đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp 12
1.3.1 Vốn 12
1.3.2 Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn 12
1.3.3 Tài sản cố định và đầu tư dài hạn 14
1.3.4 Một số tiêu chí phân tích tài chính của doanh nghiệp 15
1.4 Đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp 26
1.4.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của Doanh nghiệp 26
1.4.2 Đánh giá cấu trúc tài chính và tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh 26
1.4.3 Đánh giá khả năng thanh toán và tình hình công nợ của doanh nghiệp 29 1.4.4 Đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 30
1.4.5 Đánh giá rủi ro tài chính và quản lý phòng ngừa rủi ro tài chính 30
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của doanh nghiệp 32
1.5.1 Các nhân tố bên trong 32
1.5.2 Các nhân tố bên ngoài 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN GIẤY HẢI TIẾN 36
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Giấy Hải Tiến 36
2.1.1 Những nét khái quát chung 36
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 37
2.1.3 Ngành nghề kinh doanh, chức năng nhiệm vụ: 38
2.1.4 Bộ máy tổ chức quản lý 42
2.2 Thực trạng năng lực tài chính tại Công ty cổ phần Giấy Hải Tiến 45
2.2.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty CP Giấy Hải Tiến 45 2.2.2 Tình hình tài sản và nguồn vốn qua các năm 48
2.2.3 Đánh giá tình hình đảm bảo vốn duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh
53 2.2.4 Phân tích năng lực tài chính qua phân tích các tỷ lệ tài chính chủ yếu 55 2.3 Đánh giá chung về năng lực tài chính của Công ty cổ phần Giấy Hải Tiến 62
2.3.1 Ưu điểm 62
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY HẢI TIẾN 68
3.1 Định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Giấy Hải Tiến trong giai đoạn 2018 - 2020 68
3.1.1 Cơ hội và thách thức 68
3.1.2 Mục tiêu, định hướng kinh doanh của Công ty trong thời gian tới 71
3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực tài chính của Công ty Cổ phần Giấy Hải Tiến 73
3.2.1 Giải pháp tăng quy mô vốn 73
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động 75
3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định 79
Trang 53.2.4 Giải pháp nâng cao khả năng sinh lời 80
3.2.5 Giải pháp nâng cao năng lực quản lý của công ty 84
3.2.6 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 85
3.2.7 Công ty cần đảm bảo tốt công tác trả thù lao cho người lao động, tạo động lực nâng cao năng suất lao động: 86
3.2.8 Giải pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh 86
3.3 Một số kiến nghị 87
3.3.1 Về phía Nhà nước 87
3.3.2 Về phía công ty 87
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88
LỜI KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6UBND TP Ủy ban nhân dân thành phố
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam (tiếng Anh: Vietnam Chamber ofCommerce and Industry)
TBXH Thương binh xã hội
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TM&SX Thương mại và Sản xuất
TSNH Tài sản ngắn hạn
TSDH Tài sản dài hạn
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ
Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy sản xuất 40Hình 2.2 Quy trình sản xuất 41Hình 2.3 Sơ đồ bộ máy tổ chức 42
Bảng 2.1 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phần Giấy HảiTiến qua các năm 46Bảng 2.2 Phân tích cơ cấu tài sản tại Công ty Cổ phần Giấy Hải Tiến qua cácnăm 49Bảng 2.3 Phân tích cơ cấu và sự biến động nguồn vốn tại Công ty Cổ phần GiấyHải Tiến qua các năm 52Bảng 2.4 Tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phầnGiấy Hải Tiến 54Bảng 2.5 Các chỉ số tài chính chủ yếu qua các năm tại Công ty Cổ phần GiấyHải Tiến 55Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kế hoạch phát triển công ty tại Công ty CP Giấy HảiTiến trong các năm 2018-2020 72
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Nền kinh tế nước ta hiện đang vận động theo kinh tế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Hệ thống pháp luật của Nhà nướcđang được tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi, tạo khung khổ pháp
lý đồng bộ, thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp.Nền kinh tế đang thoát khỏi trạng thái trì trệ, suy thoái, bước sang giai đoạn tăngtrưởng liên tục tốc độ cao, sức sản xuất và tiêu dùng lớn, cường độ cạnh tranhcao và càng gay gắt Để đứng vững trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanhnghiệp nước ta phải nỗ lực không ngừng đổi mới, năng động trong sản xuất kinhdoanh Môi trường kinh doanh trong bối cảnh mới tạo cơ hội bình đẳng cho tất
cả các doanh nghiệp, nhưng nó cũng đặt ra thách thức đối với các doanh nghiệpvới những quy luật chọn lọc và đào thải khắc nghiệt của kinh tế thị trường Công
ty Cổ phần Giấy Hải Tiến hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh giấy vởvới những đặc thù riêng của mình cũng không nằm ngoài sự vận động này.Muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề trọng tâm của các doanh nghiệp hiện nay làphải không ngừng nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp Đó là mục tiêutrước mắt cũng như lâu dài, có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển vữngbền, có sức cạnh tranh và khẳng định vị thế của doanh nghiệp trong ngành cũngnhư trong toàn bộ nền kinh tế
Bắt đầu từ năm 1989, thương hiệu Giấy Hải Tiến đã xuất hiện trên thịtrường qua sự ra đời của cơ sở sản xuất giấy Hải Tiến, cơ sở Hải Tiến ra đời bắtnguồn từ nghề trưyền thống của gia đình - Một trong những gia đình làm nghềgiấy lâu năm ở Hà nội Sau 20 năm hoạt động hiệu quả, thương hiệu Giấy HảiTiến đã khẳng định được chỗ đứng vững chắc trên thị trường cả nước đặc biệt là
Hà Nội, Miền Bắc, Miền Trung nơi công ty chiếm được thị phần lớn
Trụ sở chính và nhà máy sản xuất tại khu công nghiệp Sài Đồng B, LongBiên, Hà Nội, có diện tích hơn 20.000m2 với hơn 400 nhân viên Công ty đã cónhững đầu tư lớn vào máy móc, công nghệ sản xuất và hiện đang sở hữu một
Trang 9dây chuyền sản xuất giấy vở hiện đại bậc nhất Việt Nam Với chiến lược kinhdoanh uyển chuyển, lấy người tiêu dùng làm trọng tâm để đưa ra những quyếtđịnh phù hợp Giấy Hải Tiến đang khẳng định dần là thương hiệu số 1 ViệtNam.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp chính là khả năng đảm bảo nguồnlực tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Năng lựctài chính là điều kiện cần thiết và quan trọng để duy trì và phát triển hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Qua thực trạng phân tích tình hình tàichính những năm gần đây của Công ty Cổ phần Giấy Hải Tiến được nhận định
là tương đối lành mạnh, các chỉ tiêu phân tích đều đạt được ở mức cao thể hiện
rõ năng lực tài chính của công ty là khá tốt Hoạt động sản xuất kinh doanh củacông ty diễn ra ổn định Tuy nhiên vẫn xuất hiện một vài chỉ tiêu có xu hướnggiảm, đặt ra thách thức cần có những giải pháp thích hợp và kịp thời mới để đảmbảo sự phát triển ổn định của công ty trong thời gian tới, trước hết cần phảinghiên cứu, phân tích và đánh giá năng lực tài chính tại công ty Xuất phát từ
những suy nghĩ nêu trên, em đã chọn đề tài luận văn thạc sỹ: "Nâng cao năng lực tài chính tại Công ty Cổ phần Giấy Hải Tiến – Hà Nội" Em hy vọng
những vấn đề được đưa ra trong luận văn này có thể giúp công ty tìm ra nhữngbiện pháp nâng cao năng lực tài chính của công ty, từ đó có những phươnghướng phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới
2 Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở làm rõ
những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về tình hình tài chính và năng lực tàichính của doanh nghiệp để tìm ra những giải pháp nâng cao năng lực tài chínhtại Công ty CP Giấy Hải Tiến Nhiệm vụ đặt ra để giải quyết mục đích trên là:
Hệ thống hóa và làm rõ hơn một số lý luận cơ bản về năng lực tài chính củadoanh nghiệp Phân tích thực trạng năng lực tài chính và đề ra giải pháp nângcao năng lực tài chính tại Công ty Cổ phần Giấy Hải Tiến
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu: Trước khi thực hiện luận văn em đã đọc
và nghiên cứu một số bài viết, luận văn về nâng cao năng lực tài chính tại các
Trang 10doanh nghiệp Đã có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề nâng cao năng lực tài chínhtại các doanh nghiệp trong công trình nghiên cứu của mình, trong đó có thể kểđến một số công trình nghiên cứu sau:
Phạm Thị Vân Anh Năm 2012 “Các giải pháp nâng cao năng lực tài chínhcủa doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay” - Luận án Tiến sỹ Kinh tế,Học Viện Tài Chính – Hà Nội Luận án đã trình bày về những tồn tại trong côngtác nâng cao năng lực tài chính, cũng đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lựctài chính đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay
Trần Đức Anh Năm 2017 “Các giải pháp cải thiện năng lực tài chính tạicông ty TNHH MTV Lâm nghiệp và dịch vụ Hương sơn, Tỉnh Hà tĩnh” – Tạpchí khoa học và công nghệ lâm nghiệp số 1 năm 2017, tr 102-108 Bài viết đãđưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện năng lực tài chính doanh nghiệp
Nhìn chung, các tài liệu trên có giá trị tham khảo, đều đã đề cập đến lýluận chung về năng lực tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên chưa có đề tàinào nghiên cứu công tác nâng cao năng lực tài chính tại Công ty Cổ phần GiấyHải Tiến giai đoạn 2014 -2016
Có thể nói một trong những mặt hàng không thể thiếu được trong nềnkinh tế quốc dân nói chung và đời sống xã hội nói riêng, đó là Giấy, một trongnhững mặt hàng chiến lược của nền kinh tế Ngành giấy là lĩnh vực có nhiềutiềm năng phát triển Do đó, việc đi sâu nghiên cứu chi tiết thực trạng tình hìnhtài chính và năng lực tài chính của một doanh nghiệp Cổ phần sản xuất Giấy vởhọc sinh như Công ty Cổ phần Giấy Hải Tiến trong giai đoạn 2014 -2016 nhằmđánh giá kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại và tìm ra những giải phápnâng cao năng lực tài chính là cần thiết
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là năng lực tài chính của Công ty
Phạm vi nghiên cứu là: Phân tích, đánh giá năng lực tài chính của Công ty
Cổ phần Giấy Hải Tiến Phạm vi thời gian được giới hạn trong giai đoạn từ năm
2014 đến năm 2016
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu: số liệu, tài liệu trong luận văn được thu thập
qua các Báo cáo Tài chính và các dữ liệu liên quan đến hoạt động sản xuất kinhdoanh và tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Giấy Hải Tiến
- Phương pháp phân tích số liệu: Luận văn sử dụng các phương pháp sau đây
để phân tích số liệu: Phương pháp thống kê mô tả; Phương pháp so sánh để phântích kết quả kinh doanh và tình hình tài chính; Phương pháp phân tích các tỷ số
và phương pháp Dupont để tổng hợp phân tích, đánh giá tình hình tài chính thực
tế tại Công ty Cổ phần Giấy Hải Tiến trong những năm gần đây Trên cơ sở đórút ra những kết luận và đề ra những giải pháp phù hợp, kiến nghị cụ thể đối vớiviệc nâng cao năng lực tài chính trong các doanh nghiệp nói chung và tại Công
ty Cổ phần Giấy Hải Tiến nói riêng
6 Nội dung kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng năng lực tài chính tại Công ty Cổ phần Giấy Hải Tiến.Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực tài chính tại Công ty Cổ phần Giấy Hải Tiến
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về doanh nghiệp và năng lực tài chính doanh nghiệp
1.1.1.2 Tài chính doanh nghiệp:
Về nội dung: Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế dướihình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệcủa doanh nghiệp nhằm phục vụ cho các hoạt động kinh doanh và tích lũy vốntrong mỗi doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệgiá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế Các quan hệ tàichính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:
+ Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: là mối quan hệ phát sinh khidoanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốnvào doanh nghiệp
+ Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này đượcthể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ Trên thịtrường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốnngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dàihạn Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phiếu chocác nhà tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng
Trang 13khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng
+ Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh tế,doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trườnghàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động Đây là những thị trường mà tại đódoanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm laođộng v.v… Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xácđịnh được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng Trên cơ sở đó, doanhnghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thoả mãnnhu cầu thị trường
+ Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sảnxuất – kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữaquyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn Các mối quan hệ này được thể hiệnthông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phânphối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí v.v…
Về bản chất đó là quan hệ kinh tế nhưng các quan hệ kinh tế đó lại thể hiệnqua công cụ đồng tiền và đồng tiền trở thành quan hệ tài chính Bản chất tàichính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước
và với các chủ thể kinh tế - xã hội trong và ngoài nước
Về hình thức, tài chính doanh nghiệp là quan hệ tài chính – tiền tệ trongquá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ cho hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp
1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Hiện nay, các doanh nghiệp nước ta đang hoạt động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý điều tiết của Nhà nước, tài chính doanh nghiệp càng trở nên quantrọng hơn Hoạt động tài chính của doanh nghiệp có liên quan và ảnh hưởng trựctiếp tới tất cả các hoạt động của doanh nghiệp Nhu cầu vốn của doanh nghiệpđối với hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng cao Việc lựa chọn và sử dụngcông cụ tài chính nào để huy động vốn và sử dụng vốn sẽ ảnh hưởng lớn đếntình hình và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Các nhà lãnh đạo và quản lý
Trang 14doanh nghiệp rất cần có những thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệpcủa mình để có thể kịp thời kiểm soát, chỉ đạo các hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp có hiệu quả cao
Tài chính doanh nghiệp có những vai trò sau:
1.1.2.1 Huy động vốn,đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp, vốn là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Trong quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp thường phát sinh cácnhu cầu về vốn ngắn hạn và dài hạn nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanhthường xuyên cũng như cho đầu tư phát triển của doanh nghiệp Vai trò của tàichính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ cần xác định đúng đắn các nhu cầuvốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, tiếp đến phảilựa chọn phương pháp và hình thức thích hợp nhằm huy động nguồn vốn đầy đủ
từ bên trong cũng như bên ngoài, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn của doanhnghiệp cho hoạt động sản xuất kinh doanh (cần xem xét, cân nhắc trên nhiều mặtnhư kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của từng hình thức huy độngvốn, chi phí cho việc sử dụng mỗi nguồn vốn ) Khi đã xác định được nhu cầu
về vốn, doanh nghiệp có thể có nhiều hình thức huy động vốn khác nhau Ngàynay, cùng với sự phát triển cùa nền kinh tế thị trường đã nảy sinh nhiều hìnhthức mới cho phép doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài Tài chính doanhnghiệp phải đảm bảo lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn saocho: vốn được cung cấp một cách kịp thời, thời hạn sử dụng vốn hợp lý, chi phíhuy động vốn thấp, đảm bảo cơ cấu tối ưu về vốn Điều này sẽ tạo cho doanhnghiệp luôn được đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn một cách tốt nhất cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh
1.1.2.2 Sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả
Tổ chức sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hợp lý sẽ đem lại hiệu quả caocho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sử dụng vốn hiệu quả sẽ làm giảmchi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Muốn vậy, tài chính doanh nghiệp
có vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư tối ưu
Trang 15trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án, dùng thước đotài chính để lựa chọn những dự án có mức sinh lời cao Xác định rõ được nộidung trên sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp chớp được các cơ hội kinh doanh.Bên cạnh đó, tận dụng tối đa số vốn hiện có của doanh nghiệp vào hoạt độngkinh doanh sẽ làm giảm lượng vốn cần huy động, tiết kiệm được chi phí sử dụngvốn, tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, theo dõi chặt chẽ và thựchiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng và khác khoản thu- chi khác.Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanhnghiệp một cách hợp lý; tận dụng các quỹ chưa sử dụng đến coi đó như nguồnvốn sử dụng không phải mất phí Sử dụng các quỹ khen thưởng, phúc lợi mộtcách hợp lý cũng góp phần quan trọng tạo sự gắn bó của cán bộ nhân viên vớidoanh nghiệp, nâng cao năng suất lao động, khuyến khích công nhân viên tạo ranhiều sáng kiến hiệu quả áp dụng vào sản xuất kinh doanh, thông qua đó nângcao hiệu quả sử dụng vốn
1.1.2.3 Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm soát, chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp thực hiện kiểm soát, chỉ đạo toàn bộ quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ huy động vốn đến sử dụng vốn vàphân phối các nguồn vốn trong doanh nghiệp Thông qua tình hình thu, chi tiền tệhàng ngày, tình hình tài chính và các chỉ tiêu tài chính, nhà quản lý doanh nghiệp
có thể đánh giá và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiệnkịp thời những tồn tại, vướng mắc trong kinh doanh, tìm ra nguyên nhân, từ đóđưa ra các quyết sách phù hợp nhằm giải quyết các mục tiêu đã đề ra
1.2 Năng lực tài chính của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa
1.2.1.1 Khái niệm
‘Năng lực’ là khả năng đủ để làm công việc nào đó hay “năng lực” là nhữngđiều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó
Trang 16‘Năng lực tài chính của doanh nghiệp’ là khả năng đảm bảo về nguồn lựctài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một doanhnghiệp có đủ năng lực tài chính là doanh nghiệp có đủ điều kiện đảm bảo vốncho doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động đầu tư, hoạt động sản xuất kinhdoanh hướng tới đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, hướng tới tối đa hóa giátrị của doanh nghiệp.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp kể từ khi bắt đầu thành lập được thểhiện qua số vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh, đó là vốn đầu tư ban đầu(đối với doanh nghiệp tư nhân) hoặc vốn điều lệ (đối với doanh nghiệp khác).Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp có thể huy động các nguồn vốn để bổsung Năng lực tài chính của doanh nghiệp lúc này không chỉ do tiềm lực tàichính của chủ sở hữu quy định, mà ở mức độ lớn hơn còn là do uy tín của doanhnghiệp đối với các tổ chức tài chính, các ngân hàng và thị trường tài chính thôngqua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu … tạo nên Khi có uy tín, doanh nghiệp
có thể huy động những nguồn lực tài chính lớn để tài trợ cho các dự án mà khảnăng tài chính hiện có của doanh nghiệp không thể đáp ứng Điều đó sẽ đem lạinhiều cơ hội hơn đối với doanh nghiệp để phát triển, chớp thời cơ đầu tư đem lạihiệu quả cao cho doanh nghiệp Ngược lại, nếu uy tín của doanh nghiệp thấp,doanh nghiệp có thể không huy động được nguồn lực tài chính cần có cho dự ánđầu tư, hoặc sẽ phải chịu chi phí sử dụng vốn cao hơn, hay những điều kiện chovay khắt khe của các tổ chức tài chính, do đó sẽ làm mất đi cơ hội để đầu tư vàosản xuất kinh doanh hay hiệu quả đầu tư sẽ kém hơn
Năng lực tài chính của doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc huy độngcác nguồn vốn lớn, chi phí sử dụng vốn thấp mà còn bao gồm việc sử dụng cóhiệu quả hay không các nguồn vốn Muốn vậy, doanh nghiệp phải xây dựngđược những chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh đúng đắn, hiệu quả, ổnđịnh lâu dài, đáp ứng được mục tiêu cuối là nâng cao giá trị doanh nghiệp
Ngoài ra, năng lực tài chính của doanh nghiệp còn thể hiện ở sự nhạy béncủa doanh nghiệp khi phản ứng trước những biến động của thị trường cũng như
Trang 17của nền kinh tế Một doanh nghiệp không đứng vững khi xảy ra khủng hoảngkinh tế hay sự suy thoái của thị trường thì cho dù doanh nghiệp có khả năng huyđộng vốn tốt hay sử dụng vốn có hiệu quả chăng nữa thì cũng không thể coi làdoanh nghiệp có năng lực tài chính vững chắc.
1.2.1.2 Ý nghĩa
Năng lực tài chính tốt hay không tốt có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Năng lực tài chính của doanh nghiệp có ýnghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp cũng như các đối tượng bên ngoài liênquan đến tài chính của doanh nghiệp:
- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: thông qua tình hình tài chính của doanhnghiệp để xác định nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đối với Nhà nước Đánh giátình hình tài chính, khả năng sinh lời, hiệu quả sử dụng vốn để đưa ra các chínhsách quản lý phù hợp đối với các doanh nghiệp cũng như khi Nhà nước có vốngóp vào doanh nghiệp
- Đối với doanh nghiệp: các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm nhất là kinhdoanh có nhiều lợi nhuận, có khả năng thanh toán được các khoản nợ Họ quantâm tới đánh giá tình hình tài chính và kết quả kinh doanh, từ đó có thể đưa racác dự báo, kế hoạch tài chính và các quyết định tài chính thích hợp Ngoài ra họcũng quan tâm đến nhiều mục tiêu khác như nâng cao chất lượng sản phẩm,hàng hóa, dịch vụ của mình, đồng thời hạ giá thành ở mức thấp nhất có thể; tạođược nhiều công ăn việc làm cho người lao động, quan tâm đến vấn đề môitrường … Do có đầy đủ thông tin về doanh nghiệp của mình nên các nhà quản lýdoanh nghiệp có nhiều lợi thế để phân tích năng lực tài chính của doanh nghiệpmột cách tốt nhất Họ cần có đủ thông tin để ra quyết định thực hiện cân đối tàichính, tính toán khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tình hình công nợ, rủi rotài chính của doanh nghiệp Qua đó họ có thể kiểm soát được các hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, định hướng đưa ra quyết định đúng đắn để đầu tư,phân phối thu nhập, phân chia cổ tức, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí… nhằmđạt được các mục tiêu của doanh nghiệp
Trang 18- Đối với các Ngân hàng cũng như các các nhân, tổ chức cho vay: Họ quan tâmđến khả năng trả nợ của doanh nghiệp Thông qua tìm hiểu năng lực tài chínhcủa doanh nghiệp, các chỉ tiêu về tiền và các tài sản có thể chuyển đổi nhanhthành tiền được quan tâm để hiểu rõ khả năng thanh toán tức thời của doanhnghiệp; chỉ tiêu khả năng sinh lời cũng là cơ sở để biết doanh nghiệp có khảnăng hoàn trả vốn và lãi vay.
- Đối với các nhà đầu tư: họ quan tâm nhất mức độ sinh lời và rủi ro cũng nhưkhả năng thu hồi vốn đầu tư Ngoài ra còn có các thông tin về tình hình tàichính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh, uy tín và các tiềm năng củadoanh nghiệp; quan tâm đến việc quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Qua những thông tin đó để nhận biết hiệu quả cũngnhư sự an toàn trong quyết định đầu tư của họ
- Đối với các bạn hàng: họ quan tâm chủ yếu đến khả năng thanh toán, khả năngsinh lời của doanh nghiệp để có thể quyết định áp dụng các biện pháp thanh toántiền hàng hóa, dịch vụ
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp
Nâng cao năng lực tài chính đảm bảo yêu cầu tối đa hóa giá trị tài sản củachủ sở hữu và đạt mục tiêu tăng giá trị của doanh nghiệp Nâng cao năng lực tàichính giúp doanh nghiệp có đầy đủ nguồn lực để thực hiện các mục tiêu lớn hơn
Sử dụng vốn hiệu quả mang đến rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, giúp doanhnghiệp giảm chi phí tăng lợi nhuận, đầu tư vào những dự án lớn hơn Uy tín củadoanh nghiệp cao có thể đem lại việc doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với nhữngnguồn vốn lớn hơn có chi phí thấp làm tăng khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp Năng lực tài chính cao góp phần nâng cao khả năng thanh toán củadoanh nghiệp, dễ dàng huy động các nguồn lực bên ngoài, đủ tiềm lực để vượtqua những khó khăn hay ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra, đảm bảo an toàn về vốnđáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh kể cả trong những giai đoạn khó khănnhất
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được nâng cao sẽ góp phần giúp các
Trang 19nhà quản lý có thể xây dựng các chiến lược kinh doanh phù hợp với điều kiệncủa nền kinh tế, đáp ứng được yêu cầu hội nhập tài chính quốc tế hiện nay Hộinhập kinh tế thế giới đem lại nhiều cơ hội cũng như thách thức lớn Khôngngừng nâng cao trình độ quản lý, điều hành, hiện đại hóa công nghệ … góp phầnnâng cao năng lực tài chính doanh nghiệp nhằm đứng vững và duy trì được lợithế kinh doanh trong quá trình hội nhập.
1.3 Một số căn cứ đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp
1.3.1 Vốn
Vốn là điều kiện không thể thiếu để một doanh nghiệp được thành lập vàtiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn vốn là toàn bộ số vốn củadoanh nghiệp được hình thành từ các nguồn khác nhau Trong mọi doanhnghiệp, vốn đều bao gồm hai bộ phận: Vốn chủ sở hữu và nợ Mỗi bộ phận nàyđược cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tùy theo tính chất của chúng.Thành phần và tỷ trọng từng nguồn vốn so với tổng nguồn vốn tại một thời điểmgọi là cơ cấu nguồn vốn Một cơ cấu nguồn vốn hợp lý phản ánh sự kết hợp hàihòa giữa nợ phải trả với vốn chủ sở hữu trong điều kiện nhất định
Một trong những tiêu chí để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp
là nguồn vốn Khi nguồn vốn của doanh nghiệp được huy động, phân phối và sửdụng một cách có hiệu quả, thì tình hình tài chính của doanh nghiệp có căn cứ
để được đánh giá là tốt
1.3.2 Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Tài sản của doanh nghiệp bao gồm: Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn,tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn: Là những tài sản thuộc quyền sở hữu
và sử dụng của doanh nghiệp; có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốntrong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong thời gian một năm Tài sản lưu độngtồn tại dưới hình thái tiền (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các chứng chỉ có giá trịnhư tiền, vàng bạc đá quý), giá trị vật tư hàng hoá, các khoản phải thu, các
Trang 20khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, và tất cả những tài sản có thể chuyển đổi thànhtiền mặt trong thời gian một năm.
Những tư liệu lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi làcác tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động Trongđiều kiện nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ, để hình thành TSLĐ, các doanh nghiệpphải bỏ ra một số vốn đầu tư ban đầu nhất định Vì vậy, cũng có thể nói vốn lưuđộng của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm cácTSLĐ của doanh nghiệp
Một chức năng trọng yếu của tài sản lưu động là nhằm tạo cho doanhnghiệp khả năng thanh khoản cần thiết để duy trì khả năng thanh toán trong cảnhững giai đoạn suy thoái kinh tế Mức độ và thành phần của tài sản lưu độngchịu sự chi phối của những tình trạng khó khăn có thể xảy ra và mức độ khắcnghiệt do môi trường kinh doanh đem lại Vì thế, tài sản lưu động và vốn lưuđộng là căn cứ quan trọng để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp Kếtcấu vốn lưu động phản ánh thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phầntrong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp Ở các doanh nghiệp khác nhau thìkết cấu vốn lưu động cũng không giống nhau Trong các doanh nghiệp sản xuất,
tỷ trọng tài sản lưu động dạng nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ thường có tỷtrọng lớn Song trong các doanh nghiệp thương mại, tài sản lưu động tồn khochủ yếu là sản phẩm hàng hóa chờ tiêu thụ Trong doanh nghiệp, tồn kho dự trữthường chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp Điềuquan trọng hơn là nhờ có dự trữ tồn kho đúng mức, hợp lý sẽ giúp cho doanhnghiệp không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu sản phẩm hàng hóa để bán,đồng thời lại sử dụng tiết kiệm và hợp lý vốn lưu động Việc phân tích kết cấuvốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau sẽ giúp doanhnghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình đangquản lý và sử dụng Từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lývốn lưu động có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệpnói riêng, và nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp nói chung
Trang 211.3.3 Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn là toàn bộ giá trị còn lại của tài sản cốđịnh, giá trị chi phí xây dựng cơ bản dở dang, các khoản ký quỹ, ký cược dàihạn và các khoản đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp
Kết cấu TSCĐ là tỷ trọng nguyên giá của một loại TSCĐ nào đó so vớitổng nguyên giá các loại TSCĐ của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.Mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau có một kết cấu TSCĐ khác nhau Kết cấuTSCĐ giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau hoặc thậm chítrong cùng một ngành sản xuất cũng không hoàn toàn giống nhau Sự khác biệthoặc biến động của kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp trong các thời kỳ khác nhauchịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như quy mô sản xuất, khả năng thu hút vốnđầu tư, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, trình độ tiến bộ khoa học kỹthuật trong sản xuất … Đối với các doanh nghiệp sản xuất, tỷ trọng của TSCĐthường lớn Muốn kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp nói chung và loại hìnhdoanh nghiệp sản xuất nói riêng cần phải đặc biệt quan tâm đến việc ứng dụngnhững tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm giảm chi phí sản xuất,
từ đó giảm được giá bán sản phẩm đồng thời cũng phải nâng cao được chấtlượng sản phẩm Đối với các doanh nghiệp thương mại, tỷ trọng TSCĐ chiếm íthơn so với tỷ trọng TSLĐ Loại hình doanh nghiệp này thường đòi hỏi phải có
số vốn lưu động lớn, vòng vốn được quay nhanh … mà họ lại không tập trungvào vốn cố định, TSCĐ Như vậy, mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ cómột kết cấu TSCĐ nhất định để phù hợp với từng doanh nghiệp, và thông qua
đó phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất và xuhướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là quá trình sử dụng vốn tiền tệ mua sắm,xây dựng, hình thành các tài sản cố định hữu hình và vô hình, hình thành lượngvốn lưu động thường xuyên cần thiết phù hợp với một quy mô kinh doanh nhấtđịnh Ở đây cũng cần thấy rằng đầu tư dài hạn của một doanh nghiệp không chỉđầu tư về TSCĐ mà nó còn bao hàm cả việc đầu tư cho nhu cầu tương đối ổn
Trang 22định về vốn lưu động cần thiết, đầu tư có tính chất dài hạn vào các hoạt độngkhác để thu lợi nhuận như đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu của các chủ thế khác.Đầu tư dài hạn cũng chỉ rõ số vốn tiền tệ mà doanh nghiệp sử dụng có tính chấtdài hạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3.4 Một số tiêu chí phân tích tài chính của doanh nghiệp
Thông qua phân tích các tỷ số tài chính, các doanh nghiệp có thể đánh giákhá chính xác tình hình tài chính của mình tại thời điểm hiện tại Các tỷ số tàichính được chia thành một số nhóm chủ yếu như sau:
1.3.4.1 Nhóm tỷ lệ phân tích cơ cấu – báo cáo phân tích cơ cấu.
Báo cáo phân tích cơ cấu là một bảng bao gồm tỷ trọng của từng khoảnmục của báo cáo tài chính, trong đó tất cả các khoản mục của bảng cân đối kếtoán được so sánh với tổng giá trị tài sản và tất cả các khoản mục của báo cáokết quả kinh doanh được so sánh với doanh thu Các tỷ lệ trong báo cáo rất hữuích đối với các nhà quản lý trong việc so sánh nhanh quy mô giữa hai doanhnghiệp khác nhau và kiểm tra các xu hướng trong nội bộ một công ty
1.3.4.2 Nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán
Nhóm tỷ lệ này đo lường khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắnhạn của doanh nghiệp
- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời (The current Ratio - R c )
Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để thanh toáncác khoản nợ ngắn hạn (trong vòng 12 tháng)
Hệ số này được xác định theo công thức:
Rc = Gía trị tài sản ngắn hạn
Gía trị nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêutài sản có thể chuyển đổi thành tiền để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắnhạn Do đó, nó đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp Khi giá trị của tỷ sốnày giảm nhiều hoặc quá thấp so với mức bình thường, chứng tỏ khả năng trả nợngắn hạn của doanh nghiệp đã giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó
Trang 23khăn tài chính tiềm tàng Khi hệ số này thấp hơn 1 thì khả năng trả nợ đầy đủ làkhông thể, cho dù có cố gắng thu hết số nợ ngắn hạn, bán hết chứng khoán ngắnhạn và giảm lượng hàng tồn kho để chuyển hóa thành tiền Khi hệ số khả năngthanh toán hiện thời có giá trị cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng thanh toánhiện thời cao Tuy nhiên khi tỷ số này có giá trị quá cao thì trên phương diệnhiệu quả sử dụng vốn chưa hẳn đã tốt vì có thể doanh nghiệp để đọng nhiều nợphải thu, hàng tồn kho cao, tiền mặt và tiền gửi dư thừa nhiều Điều này chứng
tỏ khả năng sinh lời của tài sản càng kém do doanh nghiệp phải đổi giữa khảnăng thanh toán với khả năng sinh lời để tránh rủi ro Khi phân tích cần so sánhvới tỷ lệ trung bình ngành và toàn thị trường để có kết luận chính xác
Để đánh giá khả năng thanh toán hiện thời phải căn cứ vào tình hình cụ thểcủa doanh nghiệp, trước hết là các khoản nợ ngắn hạn đã hợp lý chưa và có bốtrí các yếu tố cần và đủ cho việc thanh toán nợ không
Trong nhiều trường hợp tỷ số này phản ánh không chính xác khả năngthanh khoản Bởi nếu hàng hoá tồn kho là những loại hàng khó bán thì doanhnghiệp rất khó biến chúng thành tiền để trả nợ Bởi vậy cần phải quan tâm đến tỷ
số thanh toán nhanh
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh: (The quick Ratio – R q )
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp mà không cầnphải chịu tổn thất khi phải bán các khoản tồn kho, các loại tài sản kém thanhkhoản (kém lỏng) trong tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Hệ số thanh toán nhanh được xác định theo công thức:
Hệ số thanh toán nhanh Rq = Gía trị tài sản ngắn hạn – Gía trị hàng tồn kho
Gía trị nợ ngắn hạn
Độ lớn của tỷ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạnthanh toán của món nợ phải thu, phải trả trong kỳ Nhìn chung, nếu tỷ số nàyquá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ vì vàolúc cần doanh nghiệp có thể buộc phải sử dụng các biện pháp bất lợi như báncác tài sản với giá thấp để trả nợ
Trang 24- Hệ số thanh toán tức thời (hệ số vốn bằng tiền- the Cash ratio)
Cho biết khả năng thanh toán nợ ở mức hiện thực nhất của doanh nghiệp
Do việc chỉ tính tới yếu tố vốn bằng tiền là yếu tố sẵn sàng dùng ngay được đểthanh toán nợ
Hệ số thanh toán tức thời = Tiền mặt + Các khoản tương đương tiền
Gía trị nợ ngắn hạn
- Vòng quay các khoản phải thu
Để kiểm tra tính thanh khoản của tài sản, cần đo lường tính lỏng của cáckhoản phải thu Doanh nghiệp có thể thu hồi các khoản nợ của mình càng nhanhthì càng có khả năng thanh toán các khoản nợ trong ngắn hạn
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu bán hàng
Khoản phải thu bình quân
Kỳ thu tiền bình quân được xác định như sau:
Kỳ thu tiền bình quân = Doanh thu bán hàng x 365
Gía trị các khoản phải thu bình quân
= 365
Vòng quay các khoản phải thu
Doanh nghiệp có kỳ thu tiền bình quân lớn hơn nhiều so với kỳ thu tiềnbình quân của ngành thì chứng tỏ khả năng trả nợ của doanh nghiệp kém Ngượclại nếu kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp thấp hơn nhiều so với chỉ tiêungành thì chứng tỏ doanh nghiệp đang có chính sách tín dụng thắt chặt, điều nàylàm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành, làm giảm doanhthu bán hàng của doanh nghiệp
- Vòng quay hàng tồn kho(Inventory Ratio – R I)
Vòng quay hàng tồn kho RI = Gía vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
Trang 25Tính kỳ dự trữ (tồn kho) bình quân như sau;
Kỳ dự trữ bình quân = Gía vốn hàng bán x365
Gía trị hàng tồn kho bình quânVòng quay hàng tồn kho nhỏ và kỳ dự trữ lớn cho thấy vốn của doanhnghiệp đang bị ứ đọng Nếu vòng quay hàng tồn kho lớn và kỳ dự trữ nhỏ dễdẫn đến thiếu hụt hàng hóa, phân phối hàng chậm, gây ảnh hưởng xấu đến quátrình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
- Vòng quay các khoản phải trả
Vòng quay các khoản phải trả = Gía vốn hàng bán
Khoản phải trả bình quânTính kỳ trả tiền bình quân:
bình quân +
Kỳ dự trữ bình
-Kỳ trả tiềnbình quân
1.3.4.3 Nhóm tỷ lệ về mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp
Để đánh giá mức độ sử dụng nguồn vốn nợ phải trả của doanh nghiệp,doanh nghiệp có thể dùng các chỉ tiêu về hệ số kết cấu tài chính Nguồn vốn nợ
là cần cho doanh nghiệp nhưng nợ lớn và sử dụng nợ kém hiệu quả sẽ gây rủi rotài chính cho doanh nghiệp
- Hệ số nợ - Debt ratio - Rd: Chỉ tiêu hệ số nợ phản ánh nguồn vốn nợ trong
tổng nguồn vốn của doanh nghiệp và được tính như sau
Trang 26Rd = Tổng số nợ của doanh nghiệp
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệpTổng số nợ bao gồm toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại thờiđiểm lập báo cáo tài chính Tỷ số này nếu quá cao chứng tỏ quy mô vốn tự cócủa doanh nghiệp thấp mà số nợ quá cao, tức là chi phí lãi suất trả cho các khoảnvay cũng cao Doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào nợ, nếu mà chủ yếu là nợngắn hạn thì rủi ro tài chính sẽ là khá cao khi việc sử dụng vốn không có hiệuquả
Nếu doanh nghiệp không tính toán đầy đủ về khả năng thanh toán lãi vaycũng như khả năng thanh toán nợ khi đáo hạn khoản vay (nhất là phải xem xétcác kỳ hạn vay hợp lý, tránh phải trả các khoản vay vào cùng một thời điểm sẽảnh hưởng trầm trọng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, thậm chí là phásản) Ngược lại, nếu tỷ số này quá thấp lại thể hiện doanh nghiệp chỉ hoạt độngsản xuất kinh doanh chủ yếu dựa trên vốn tự có, mà chưa phát huy được nguồnlực từ bên ngoài
- Hệ số nợ dài hạn
Chỉ tiêu hệ số nợ dài hạn là tỷ trọng so sánh giữa tổng số nợ dài hạn vớitổng nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp và được tính như sau
Hệ số nợ dài hạn = Số nợ dài hạn
Tổng nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp
Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời hạn trả trên 12 tháng (ở nước ta nợvay các tổ chức tín dụng có thời hạn trên 12 tháng tới 60 tháng gọi là nợ trunghạn, thời hạn trên 60 tháng gọi là nợ dài hạn)
Tổng nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp là tổng số vốn có thể sửdụng ổn định và có thời hạn dài, bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ trung hạn, dàihạn
Trang 27Khi so sánh hệ số nợ dài hạn ở các thời điểm khác nhau hay so sánh với cácdoanh nghiệp khác cùng ngành nghề ta thấy được mức độ ổn định về nguồn vốncủa doanh nghiệp Hệ số nợ dài hạn càng lớn biểu hiện sự ổn định lâu dài, chủđộng về mặt tài chính của doanh nghiệp, tuy nhiên doanh nghiệp phải lưu ý sửdụng nguồn vốn nợ dài hạn sao cho có hiệu quả vì lãi suất của nợ dài hạnthường cao hơn lãi suất nợ ngắn hạn, nếu là đi vay.
- Hệ số thanh toán lãi vay (R t )
Hệ số thanh toán lãi vay là tỷ trọng so sánh giữa lợi nhuận tạo ra chưa trừ
đi chi phí trả lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp với số lãi vay phảitrả trong kỳ Đây là một khoản chi tương đối ổn định và có thể tính toán trước
Tỷ lệ này cho biết khả năng thanh toán lãi vay bằng thu nhập trước lãi tiền vay
và thuế của doanh nghiệp
Công thức tính như sau:
Hệ số thanh toán lãi vay Rt = Lợi nhuận trước lãi tiền vay và thuế
Số tiền lãi vay phải trả trong kỳ(Lãi tiền vay được tính vào chi phí tài chính của doanh nghiệp nên khi xácđịnh lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp, trong báo cáo kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp đã trừ đi chi phí trả lãi tiền vay Vậy khi tính lợi nhuậntrước lãi tiền vay và thuế thì phải lấy số lợi nhuận trước thuế cộng với lãi tiềnvay)
Số tiền lãi vay phải trả trong kỳ bao gồm tất cả các khoản lãi phải trả củatất cả các khoản nợ vay
Lợi nhuận trước lãi tiền vay và thuế phản ánh số tiền mà doanh nghiệp cóthể sử dụng để trả lãi vay Nếu khoản tiền này nhỏ hơn số lãi vay phải trả hay cógiá trị âm thì doanh nghiệp khó có thể trả hết hoặc không trả được lãi, nếu doanhnghiệp trả hết lãi vay thì sẽ bị lỗ Điều này chứng tỏ chi phí trả lãi quá cao so vớilợi nhuận doanh nghiệp tạo ra được, hay thể hiện mức độ rủi ro tài chính cao củadoanh nghiệp
Trang 28Mặt khác, hệ số này cũng thể hiện khả năng sinh lời trên các khoản nợ củadoanh nghiệp Hệ số này cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng thanh toánđược lãi vay và sau khi trả lãi vẫn có lợi nhuận, doanh nghiệp đã sử dụng vốnvay có hiệu quả hơn do khả năng sinh lời từ nguồn vốn các khoản nợ vay caohơn.
1.3.4.4 Nhóm tỷ lệ về hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời
Đây là nhóm tỷ lệ cho chúng ta biết hoạt động của công ty đem lại hiệuquả như thế nào, thường dùng để đánh giá việc sử dụng vốn kinh doanh củadoanh nghiệp, chúng được phân thành 2 nhóm chính:
a Nhóm tỷ lệ hiệu quả hoạt động
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ ròng
Tỷ lệ này của doanh nghiệp mà thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu ngành vàcủa nền kinh tế thì chứng tỏ doanh nghiệp đã bị ứ đọng nhiều vốn trong TSCĐ.Nếu ngược lại tỷ lệ này quá cao chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng TSCĐ đãkhấu hao hay lạc hậu cũ kỹ, và cũng thể hiện doanh nghiệp khó có khả năng đápứng các nhu cầu của khách hàng
Hiệu suất sử dụng TSCĐ ròng = Doanh thu
TSCĐ ròng bình quân
- Hiệu suất sử dụng vốn chủ sở hữu
Hiệu suất sử dụng vốn chủ sở hữu = Doanh thu thuần
Vốn chủ sở hữu bình quânHiệu suất sử dụng vốn chủ sở hữu bị tác động bởi cơ cấu vốn của doanh nghiệp
b Nhóm tỷ lệ khả năng sinh lời
Một trong những chỉ tiêu đánh giá chính xác kết quả kinhdoanh của doanhnghiệp là khả năng sinh lời Một doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển khikinh doanh có lãi Phân tích khả năng sinh lời là một trong nhưng nội dung đượccác nhà phân tích tài chính quan tâm Khi đánh giá khả năng sinh lợi của mộtdoanh nghiệp cần xem xét một cách toàn diện Doanh nghiệp có lợi nhuận caochưa hẳn đã tốt vì để có lợi nhuận cao đó doanh nghiệp đã phải đầu tư thêm vốn,
Trang 29lao động cũng như các nguồn lực khác Do vậy, ngoài việc phân tích lợi nhuậncần phải xem xét nó trong mối quan hệ với những tiêu chí khác nhau như Doanhthu, tổng tài sản tham gia vào SXKD hay tổng vốn của doanh nghiệp, vốn chủ
sở hữu thông qua các chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận doanh thu, ROA, ROE
- Tỷ suất lợi nhuận doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu = Tổng lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuầnĐây là một chỉ tiêu tương đối, xác định khả năng mang lại lợi nhuận củamột đồng doanh thu Chỉ tiêu này cao chứng tỏ doanh nghiệp có thế mạnh vềcông tác quản lý chi phí hoặc đang thực hiện các chiến lược cạnh tranh về mặtchi phí
Nếu doanh thu thuần được coi là 100% thì giá vốn hàng bán, chi phí tàichính, chi phí bán hàng, lợi nhuận là bộ phận cấu thành nên doanh thu Thôngthường, việc phân tích tỷ suất lợi nhuận doanh thu không chỉ dừng lại ở việcphân tích tỷ lệ lợi nhuận ròng chiếm bao nhiêu % doanh thu mà quan trọng hơn
là phân tích cả lợi nhuận gộp, các yếu tố chi phí khác trên doanh thu để xem xéttình hình lợi nhuận của Công ty đang bị ảnh hưởng bởi chi phí NVL, khấu haohay do chi phí tài chính hay do chi phí quản lý doanh nghiệp quá cồng kềnh…
Khi một doanh nghiệp mới hoạt động hay có một sản phẩm mới thì tỷ sốlợi nhuận/doanh thu thường thấp (hoặc thua lỗ) do công suất huy động máy mócthiết bị thấp, sản phẩm đang thâm nhập thị trường, nhu cầu chưa cao, giá bánthấp để chiếm lĩnh thị phần dẫn đến doanh thu đạt thấp trong khi chi phí cố định:khấu hao, lãi vay ở mức cao Nhưng nếu sản phẩm đã có chỗ đứng trên thịtrường, và nếu kiểm soát tốt các yếu tố chi phí gián tiếp thì tỷ số sẽ có xu hướngtăng
Nếu một công ty có nhiều sản phẩm hoặc kinh doanh trên nhiều lĩnh vực
và mỗi lĩnh vực có sổ sách kế toán riêng đầy đủ thì việc phân tích tỷ số của mỗisản phẩm, lĩnh vực sẽ cho một cái nhìn tổng thể về các lĩnh vực nào cho kết quảkinh doanh tốt cần phát triển mạnh, các lĩnh vực nào kết quả kinh doanh chưa tốt
Trang 30cần hạn chế hoặc chuyển hướng đầu tư.
Không phải việc tăng tỷ suất lợi nhuận doanh thu lúc nào cũng phản ánhdoanh nghiệp đang kinh doanh tốt và việc giảm tỷ suất lợi nhuận doanh thu lúcnào cũng phản ánh doanh nghiệp đang kinh doanh kém hiệu quả mà việc xemxét tăng(giảm) tỷ suất lợi nhuận doanh thu là tốt hay xấu cũng cần phân tích rõ
lý do của việc tăng(giảm) tỷ số
- Việc tăng tỷ suất lợi nhuận doanh thu là tốt nếu:
+ Lợi nhuận và doanh thu cùng tăng;
+ Doanh thu giảm do doanh nghiệp không tiếp tục vào lĩnh vực đầu tưkhông hiệu quả Lợi nhuận trong trường hợp này có thể giảm nhưng giảm ít hơndoanh thu Hoặc lợi nhuận lại tăng lên do giảm lĩnh vực đầu tư không hiệu quảlên quản lý chi phí tốt hơn
- Việc tăng tỷ suất lợi nhuận doanh thu là xấu nếu: việc tăng là do lợi nhuận vàdoanh thu cùng giảm nhưng lợi nhuận giảm chậm hơn doanh thu với các lý dogiảm như sau:
+ Công ty bị giảm năng lực cạnh tranh, năng lực sản xuất;
+ Hàng hoá bán ra tiêu thụ kém;
+ Công ty phải giảm giá bán để chiếm lĩnh lại thị phần
Tuy nhiên do công ty vẫn đang quản lý tốt chi phí quản lý, chi phí tàichính nên tạm thời lợi nhuận có giảm nhưng tốc độ giảm chậm hơn doanh thu
- Việc giảm tỷ suất lợi nhuận doanh thu không phải là một dấu hiệu chứng tỏhiệu quả kinh doanh của Công ty bị giảm sút nếu:
+ Lợi nhuận và doanh thu đều tăng nhưng lợi nhuận tăng chậm hơn doanhthu do hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được mở rộng nhưng do vay
nợ nhiều hơn nên chi phí lãi vay nhiều hơn, hay do mới mở rộng quy mô hoạtđộng nên công suất sản xuất chưa cao, chi phí quản lý, chi phí khấu hao còn lớn
+ Trong trường hợp doanh thu tăng nhưng lợi nhuận không tăng thì cũngkhông phải là dấu hiệu doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả Để kết luậnphải xem xét cơ cấu chi phí và bản chất việc giảm lợi nhuận là do giá vốn tăng
Trang 31hay do doanh nghiệp quản lý tài chính, quản lý hoạt động không tốt dẫn đến cácchi phí hoạt động quá cao so với quy mô tăng trưởng doanh thu.
+ Ngay cả khi doanh thu và lợi nhuận đều giảm cũng không phải là dấuhiệu kinh doanh của công ty đang xấu nếu do Công ty đang thu hẹp hoạt động,chuyển hướng đầu tư vào các lĩnh vực hiệu quả, dừng hoạt động những lĩnh vực,mặt hàng kém hiệu quả
- Việc giảm tỷ suất lợi nhuận/doanh thu là một dấu hiệu chứng tỏ hoạt động kinhdoanh của đơn vị đang có chiều hướng xấu nếu:
+ Doanh thu và lợi nhuận đều giảm do công ty kinh doanh không tốt, sảnphẩm không bán được, khả năng cạnh tranh giảm sút;
+ Lợi nhuận giảm thì dù doanh thu tăng cũng không phải là dấu hiệu tốt
mà ngược lại nó còn cho thấy công ty đang đầu tư vào những mảng kinh doanhkém hiệu quả
- Tỷ suất sinh lợi tổng tài sản ROA.
Tỷ số này được tính theo công thức:
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân
Tỷ số này mang ý nghĩa: một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuậnròng Được dùng để đo khả năng sinh lời của tài sản Chỉ tiêu ROA thể hiện khảnăng sử dụng linh hoạt của các khoản mục tài sản, tỷ số càng cao càng thể hiện
sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản càng hợp lý và hiệu quả
Khi xem xét chỉ tiêu này cần chú ý rằng: đối với doanh nghiệp có quy môtài sản lưu động quá lớn, hoặc tỷ trọng vốn vay cao thì tỷ số này thường rất thấp
do chi phí lãi vay cao làm lợi nhuận thấp
- Tỷ suất sinh lời tổng tài sản tăng là tốt nếu: công ty tăng vốn chủ sở hữu,giảm nợ vay làm giảm chi phí lãi vay nên lợi nhuận đạt được cao hơn
- Tỷ suất sinh lời tổng tài sản tăng là dấu hiệu thể hiện công ty làm ăn khônghiệu quả nếu: công ty giảm nợ vay do hoạt động kinh doanh bị thu hẹp, doanhthu lợi nhuận giảm nhưng giảm thấp hơn tốc độ giảm tổng tài sản
Trang 32- Tỷ suất sinh lời tổng tài sản giảm không phải là dấu hiệu tồi nếu: việc giảm là
do công ty tăng VCSH nên tổng nguồn vốn tăng tương ứng tổng tài sản tăng,nhưng mức lợi nhuận tăng chậm hơn tăng tổng tài sản
- Tỷ suất sinh lời tổng tài sản giảm là dấu hiệu tồi nếu: công ty tăng nợ vay, vốnCSH giảm do kinh doanh lỗ vốn, hoặc hoạt động kinh doanh mở rộng nhưngđầu tư vào những lĩnh vực không hiệu quả nên lợi nhuận không tăng, thậm chícòn giảm so với trước
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu ROE.
Tỷ số này được tính theo công thức:
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
Tỷ số này đo lường hiệu quả sử dụng của một đồng vốn tự có Chỉ tiêu nàymang nghĩa một đồng vốn chủ sở hữu đem đầu tư mang lại bao nhiêu đồng lợinhuận thuần Chỉ tiêu ROE là một chỉ tiêu quan trọng đo lường tính lành mạnhtrong hoạt động của một doanh nghiệp nên được các nhà đầu tư rất quan tâm
Đây là chỉ số được các nhà đầu tư, cổ đông của doanh nghiệp quan tâmnhất vì nó phản ánh những gì mà họ sẽ được hưởng Nếu Công ty đạt được một
tỷ lệ lợi nhuận trên vốn hợp lý, nó có thể:
+ Duy trì trả cổ tức đều đặn cho các cổ đông;
+ Duy trì tỷ lệ lợi nhuận để lại hợp lý cho sự phát triển của doanh nghiệp; +Tránh việc tìm kiếm các nguồn bổ sung từ bên ngoài có chi phí vốn cao;+ Đưa ra một hình ảnh lành mạnh để thu hút đối tác, nhân viên và các tổchức tài chính
Kết quả tính toán tỷ suất này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tự
có càng cao Ta thường dùng chi phí cơ hội của việc cho vay trên thị trường tiền
tệ (trái phiếu kho bạc, tiền gửi tiết kiệm …) làm mốc so sánh với chỉ số trên đểxác định hiệu quả vốn tự có Một doanh nghiệp phải có tỷ số cao hơn lãi suất tiếtkiệm thì mới được coi là đạt hiệu quả
Trang 33Tỷ suất sinh lời vốn CSH tăng hay giảm chưa thể hiện hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp tốt hay không mà quan trọng là xác định lý do làm tỷ sốnày tăng hay giảm để từ đó có kết luận phù hợp.
+ ROE tăng là tốt nếu lợi nhuận tăng, VCSH không bị giảm đi, thậm chí còntăng lên
+ ROE tăng là xấu nếu công ty kinh doanh thua lỗ, phải thu hẹp hoạt động,doanh thu giảm, lỗ vốn nên VCSH giảm và VCSH giảm nhiều hơn lợi nhuận.+ ROE giảm là tốt nếu cả lợi nhuận và VCSH đều tăng nhưng VCSH tăng nhanhhơn tốc độ tăng lợi nhuận
+ ROE giảm là xấu nếu cả lợi nhuận và VCSH đều giảm do kinh doanh thua lỗ,thu hẹp quy mô …
1.4 Đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp
1.4.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của Doanh nghiệp
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp là việc xem xétđánh giá kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp thông qua sử dụng các tàiliệu kế toán, thống kê, các tài liệu khác của doanh nghiệp để phân tích các chỉ sốtài chính của thời kỳ đã qua, qua đó có thể khái quát được tình hình hoạt độngcủa doanh nghiệp, thấy rõ những mặt mạnh, mặt yếu và tiềm năng có thể khaithác của doanh nghiệp Tìm ra nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tốđến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó đề ra các biện pháptận dụng những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu, nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.2 Đánh giá cấu trúc tài chính và tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
1.4.2.1 Đánh giá cấu trúc tài chính:
Đánh giá cấu trúc tài chính là việc đánh giá và phân tích tình hình sửdụng, huy động nguồn vốn và mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốncủa doanh nghiệp Các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ nắm rõ được tình hình huyđộng các nguồn lực tài chính cũng như tình hình phân bổ và sử dụng vốn, các
Trang 34nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình cân bằng tài chính Căn cứ vào đó các nhàquản lý có thể đưa ra quyết định đúng đắn đối với việc huy động hay sử dụngvốn của doanh nghiệp Đảm bảo cho doanh nghiệp có tình hình tài chính ổnđịnh, tránh được nhiều rủi ro trong tương lai.
Để đánh giá tình hình huy động và sử dụng vốn, các nhà phân tích thường tiếnhành phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn Được thực hiện bằng cáchtính toán và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọngcủa từng bộ phận tài sản/nguồn vốn trong tổng số tài sản/nguồn vốn
Việc xem xét tỷ trọng này cho phép các nhà quản lý đánh giá được kháiquát tình hình phân bổ cũng như huy động vốn nhưng không cho biết các nhân
tố tác động đến sự thay đổi cơ cấu tài sản/nguồn vốn của doanh nghiệp Để biếtđược chính xác tình hình sử dụng vốn cũng như huy động vốn, nắm được nhữngnhân tố ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biếnđộng về cơ cấu tài sản/nguồn vốn, các nhà phân tích còn kết hợp cả phân tíchngang, tức là so sánh giữa biến động của kỳ phân tich với kỳ gốc (kể cả số tuyệtđối cũng như tương đối) trên tổng số tài sản/nguồn vốn cũng như theo từng loạitài sản/nguồn vốn
1.4.2.2 Đánh giá tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh
Đánh giá tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh là việcxem xét mối quan hệ giữa tài sản và nguồn tài trợ tài sản hay là phân tích cânbằng tài chính doanh nghiệp Cơ cấu nguồn vốn thể hiện tính ổn định và tự chủđối với vốn đưa vào kinh doanh
Dưới góc độ tính chất sở hữu (hay theo nguồn hình thành) thì nguồn vốnđược chia làm 2 loại là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả (nguồn vốn nợ).Nguồn vốn chủ sở hữu hình thành từ một hay nhiều chủ sở hữu vốn của doanh
Trang 35nghiệp, được sử dụng ổn định, thường xuyên và chủ động Nợ phải trả là nguồnvốn được hình thành từ các khoản nợ khác nhau Đây là nguồn bổ sung cho kinhdoanh mang tính kỳ hạn, doanh nghiệp không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền
sử dụng theo những điều kiện của khoản nợ
Dưới góc độ thời gian sử dụng, tính ổn định trong tài trợ, nguồn vốn củadoanh nghiệp được chia thành nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng thường xuyên,lâu dài và ổn định có thời hạn ít nhất trên 1 năm, bao gồm vốn chủ sở hữu vàvốn vay trung hạn, dài hạn Nguồn vốn tạm thời là các nguồn vốn mà doanhnghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời gian ngắn từ 1năm trở lại, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, nợ phải trả cho người bán, ngườimua, vốn chiếm dụng tạm thời như nợ công nhân viên, khoản phải nộp ngânsách
Ta có cân bằng tài chính như sau:
Tài sản
ngắn hạn +
Tài sảndài hạn =
Nguồn vốnthường xuyên +
Nguồn vốntạm thời
Dưới góc độ này, cân bằng tài chính cho các nhà quản trị biết được sự antoàn, tính bền vững, cân đối trong tài trợ và sử dụng vốn của doanh nghiệp cũngnhư những nhân tố có thể gây ảnh hưởng đến cân bằng tài chính
- Các tài sản cần thiết thường xuyên như tài sản cố định, tài sản lưu động thườngxuyên thì phải có nguồn vốn thường xuyên đảm bảo là chính, ngoài ra khi cónhu cầu dự trữ đột biến để đáp ứng cơ hội kinh doanh đến bất ngờ thì phải bố tríbằng nguồn vốn tạm thời
- Nguồn vốn đi vay, nguồn chiếm dụng tạm thời chỉ được sử dụng cho nhữngmục tiêu và kỳ hạn đúng với hợp đồng vay vốn, hợp đồng thương mại hay camkết với chủ nợ
- Đặc biệt doanh nghiệp cần chú ý tới chi phí tài chính và rủi ro khi sử dụng cácnguồn vốn
Trang 36- Để nhận xét tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, các nhà phân tích tài chính có thể sử dụng thêm những chỉ tiêu sau:
+ Hệ số tài trợ thường xuyên
Hệ số tài trợ thường xuyên = Nguồn vốn thường xuyên
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết, so với tổng nguồn tài trợ của doanh nghiệp thìnguồn vốn thường xuyên chiếm bao nhiêu phần Hệ số này càng lớn chứng tỏtính ổn định và cân bằng tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
+ Hệ số tài trợ tạm thời
Hệ số tài trợ tạm thời = Nguồn vốn tạm thời
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết, so với tổng nguồn tài trợ của doanh nghiệp thìnguồn vốn tạm thời chiếm mấy phần Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ tính ổn định
và cân bằng tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
1.4.3 Đánh giá khả năng thanh toán và tình hình công nợ của doanh
nghiệp
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là nội dung cơ bản của hoạt độngtài chính, nhằm cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để đưa ra các quyết địnhđúng cho doanh nghiệp Các nhà đầu tư dựa vào thông tin này để quyết định chodoanh nghiệp vay tiền hay không, cho vay bao nhiêu, thời hạn dài hay ngắn Cácnhà cung cấp sẽ sử dụng thông tin này để ra quyết định có bán chịu cho doanhnghiệp hay không Tình hình công nợ của doanh nghiệp nhiều hay ít, doanhnghiệp thường thanh toán công nợ dứt điểm hay thường dây dưa kéo dài lànhững điều tác động đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Nó cũng tạo uytín cho doanh nghiệp khi huy động thêm nguồn vốn vay nhằm thúc đẩy các hoạtđộng kinh doanh phát triển Doanh nghiệp có các khoản công nợ tồn đọng nhiềuchứng tỏ có tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các đối tác kinh doanh, gây
Trang 37ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp và khiến cho các hoạt động kinh doanhkém hiệu quả.
Doanh nghiệp cần thường xuyên phân tích tình hình công nợ thông qua
“Nhóm tỷ lệ về mức độ sử dụng nợ” và khả năng thanh toán của mình qua
“Nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán” trong mối quan hệ mật thiết với nhaunhằm đánh giá chính xác thực trạng tài chính của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp quá cao chứng tỏ tiền mặt và hàng
dự trữ quá nhiều khiến hiệu quả sử dụng vốn thấp Khả năng thanh toán củadoanh nghiệp quá thấp chứng tỏ doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu duytrì hoạt động sản xuất kinh doanh có thể dẫn đến doanh nghiệp bị giải thể hayphá sản Khi Khả năng thanh toán của doanh nghiệp vừa phải, hợp lý sẽ đáp ứngđược nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp đối với các khoản công nợ, nâng caohiệu quả sử dụng vốn và tiết kiệm chi phí
1.4.4 Đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề được các nhà kinh
tế và quản lý kinh tế rất quan tâm Mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanhnghiệp nào cũng đều hướng tới hiệu quả Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong hoạtđộng kinh doanh, trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp để thực hiện ở mức
độ cao nhất các mục tiêu kinh tế - xã hội với mức chi phí thấp nhất
Phân tích và đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn
đề rất phức tạp, ở góc độ đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thôngqua các chỉ tiêu tài chính chi giới hạn ở việc phân tích và đánh giá hiệu quả cuốicùng của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận mà doanhnghiệp đạt được thể hiện ở trên báo cáo tài chính
Các nhà phân tích tài chính thường dựa trên việc phân tích các hệ số tàichính trong Nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động (hiệu quả hoạt động và khả năngsinh lời) để đánh giá hoạt động của doanh nghiệp đem lại hiệu quả ra sao nhằmđưa ra những quyết định quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Trang 381.4.5 Đánh giá rủi ro tài chính và quản lý phòng ngừa rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính có thể hiểu là sự xuất hiện các tình huống dẫn đến suygiảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp, trong tình huống đặc biệt có thể khiếndoanh nghiệp phá sản Rủi ro là điều tất yếu trong hoạt động sản xuất kinhdoanh, lợi nhuận cao luôn đi liền với khả năng rủi ro lớn Đương đầu và quản lý
để ngừa rủi ro là việc không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp nào nếu có mụcđích là tạo ra lợi nhuận
Doanh nghiệp cần xác định rõ và hiểu được những rủi ro có thể xảy ra màdoanh nghiệp sẽ phải đối mặt để sẵn sàng đương đầu với những rủi ro khi nó xảy
ra Phân tích đánh giá những rủi ro tài chính để có thông tin đưa ra những biệnpháp giám sát và quản lý rủi ro chặt chẽ, đưa ra những quyết định giải quyết cácmối nguy cơ tiềm tàng để phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra
Khi đánh giá rủi ro tài chính, các nhà phân tích thường xem xét rủi ro quacác hệ số thanh toán của doanh nghiệp Rủi ro qua thanh toán nợ là một trongnhững bộ phận cấu thành nên rủi ro tài chính Tình trạng thu vào và khả năngthanh toán của doanh nghiệp vượt quá số phải chi đã đến hạn tại một thời điểmnhất định sẽ gây mất cân đối, điều này tiềm ẩn rủi ro đối với hoạt động kinhdoanh Khi doanh nghiệp không đủ khả năng chi trả nợ hay thanh toán cáckhoản như mua nguyên vật liệu sản xuất có thể dẫn đến gián đoạn sản xuất,công nhân phải nghỉ việc, tiền lương công nhân không được thanh toán đúnghạn, các khoản vay quá hạn phát sinh gây ảnh hướng lớn tới uy tín của doanhnghiệp
Rủi ro tài chính còn được đánh giá qua việc xem xét hiệu quả kinh doanh,khả năng tái đầu tư của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp kinh doanh kém hiệuquả chứng tỏ doanh nghiệp sẽ không có tích lũy để tái đầu tư, quy mô của doanhnghiệp có thể bị thu hẹp Nếu điều này xảy ra kéo dài thì doanh nghiệp có thểkhông trụ vững được trên thị trường và phải chấm dứt hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình
Trang 39Thông qua đánh giá hệ số thanh toán lãi vay cũng xác định được nhữngrủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp Để duy trì và mở rộng quy mô kinh doanh,hầu hết các doanh nghiệp đều phải sử dụng nguồn vốn vay Chi phí sử dụng vốnvay (lãi suất tiền vay) trở thành bộ phận cấu thành quan trọng trong chi phí sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp làm ăn có lãi thì có khả năngthanh toán lãi tiền vay và phần còn lại mới là hiệu quả kinh doanh đem lại.Lượng tiền vay lớn quá rất dễ dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp khi xảy ra nhữngvấn đề ngoài tầm kiểm soát khiến kế hoạch kinh doanh bị đảo lộn, rủi ro dokhông thanh toán được lãi vay càng trở nên nghiêm trọng khiến doanh nghiệp cóthể bị phá sản nếu nó kéo dài.
Doanh nghiệp cần đào tạo đội ngũ thực hiện công tác quản lý rủi ro tàichính sao cho có hiệu quả, xây dựng những chiến lược hàng năm với mục tiêu
để quản lý rủi ro, thường xuyên giám sát chặt chẽ tình hình nhằm ngăn ngừa khảnăng rủi ro có thể xảy ra
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của doanh nghiệp
1.5.1 Các nhân tố bên trong
1.5.1.1 Chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Không phải tất cả các doanh nghiệp trong cùng một ngành đều cung cấpcác sản phẩm như nhau mà việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ còn phụ thuộc vàođặc điểm và thế mạnh của mỗi doanh nghiệp Do vậy mỗi doanh nghiệp khi gianhập thị trường cần xác định những cơ hội và thách thức của mình, xác định thịtrường mục tiêu để từ đó xây dựng danh mục sản phẩm, dịch vụ cần triển khaicung cấp Việc xác định đúng chiến lược sản phẩm dịch vụ có thể giúp doanhnghiệp tính toán chi phí và các yếu tố tài chính hợp lý nhằm đạt hiệu quả kinhdoanh mong muốn cũng như góp phần đảm bảo năng lực tài chính của doanhnghiệp
1.5.1.2 Hệ thống mạng lưới phân phối.
Kênh phân phối là cầu nối giữa doanh nghiệp với khách hàng, đặc biệttrong thị trường kinh doanh giấy vở học sinh cạnh tranh khốc liệt như hiện nay,
Trang 40nếu một doanh nghiệp sản xuất giấy vở không có kênh phân phối thì doanhnghiệp đó không thể đạt được mục đích kinh doanh với hiệu quả cao
Một hệ thống mạng lưới phân phối hợp lý sẽ giúp các doanh nghiệp đếngần hơn với khách hàng, từ đó tạo lập và duy trì lợi thế cạnh tranh tương đối sovới đối thủ Tuy nhiên, vấn đề tạo lập, phát triển hệ thống mạng lưới phân phốitốt yêu cầu khá cao về thời gian, trí tuệ, sức lực và tài lực do vậy không dễ dàng
bị các đối thủ cạnh tranh làm theo Chính vì thế năng lực tài chính của doanhnghiệp sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến việc mở rộng và phát triển hệ thống phânphối Ngược lại, việc triển khai hệ thống phân phối thành công sẽ góp phần nângcao doanh thu, hiệu quả của doanh nghiệp, từ đó góp phần nâng cao năng lực tàichính của doanh nghiệp
1.5.1.3 Khả năng phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công củadoanh nghiệp Vì chính con người thực hiện các công việc thu thập dữ liệu, thiết
kế sản phẩm, hoạch định mục tiêu, dự báo thị trường, lựa chọn và thực hiện cácchiến lược của doanh nghiệp, phát triển hệ thống phân phối, đánh giá rủi ro Để
có kết quả tốt thì không thể thiếu những con người làm việc hiệu quả Các yếu tố
về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, tay nghề và tư cách đạo đức của cán bộnhân viên; các chính sách nhân sự của doanh nghiệp; khả năng cân đối giữa mức
độ sử dụng nhân lực ở mức tối đa và tối thiểu; năng lực, mức độ quan tâm vàtrình độ của đội ngũ lãnh đạo, quản lý, chính là những yếu tố phát triển nguồnnhân lực có thể tác động không nhỏ đến kết quả hoạt động kinh doanh cũng nhưnăng lực tài chính của doanh nghiệp
1.5.1.4 Công nghệ sản xuất
Năng lực tài chính tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp mở rộng và phát triểncông nghệ sản xuất, lựa chọn công nghệ hiệu quả sẽ thúc đẩy doanh nghiệp giảmchi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng doanh thu từ đó nâng cao năng lựctài chính của doanh nghiệp