1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác định nấm Aspergillus sinh độc tố aflatoxin trên lạc bằng phản ứng pcr đặc hiệu pot

10 515 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 721,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp PCR đã được sử dụng để phát hiện các loại nấm và vi khuNn gây bệnh và sinh độc tố trên nông sản, thực phNm và các loại thức ăn gia súc, do tiện... Trong nghiên cứu này chúng

Trang 1

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH NẤM Aspergillus SINH ĐỘC TỐ AFLATOXIN

TRÊN LẠC BẰNG PHẢN ỨNG PCR ĐẶC HIỆU

Trần Tuấn Tú, Đàm Quang Hiếu, Hoàng Thị Ngát, Lê Huy Hàm

và Phạm Xuân Hội

Summary

Identification of Aspergillus flavus induced Aflatoxin in peanut in the orth of

Vietnam using PCR method

Aflatoxins are carcinogenic metabolites produced by several members of Aspergillus group, such

as Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus, Aspergillus nomius.Number of methodologies have

been developed for detection of aflatoxin in grain and food, including thin-layer chromatography (TLC), high-performance liquid chromatography (HPLC), overpressured chromatography, polymerase chain reaction (PCR), enzyme-linked immunosorbent assay (ELISA) At least, more than 20 genes have been determined to be involved in Aflatoxin biosynthesis pathway In which,

genes ver-1, omt-1 and apa-2 play an important role in the pathway In this study, we use ver as a

target gene to detect peanut contaminated aflatoxin in the North of Vietnam by employing PCR approach Peanut samples on the field, household and market from different area have been

collected for isolating Aspergillus flavus induced Aflatoxin strains using from a separate hypha A primer pair complementing the coding portion of ver gene was generated DNA extracted from

Aspergillus flavus, Aspergillus niger strains from Nghean, Haiduong and Hanoi provinces was used

as PCR template Positive results as designed PCR products were observed only with all DNA

templates of Aspergillus flavus from different sources, while no PCR products were observed with DNA templates of Aspergillus niger The results is suggesting a posibility to use PCR as selective

method for early, accurate detection of aflatoxin contaminated in peanut as well as in grains and foods

Keywords: Aflatoxin, Aspergillus flavus, peanut, PCR, identification

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Nấm sinh độc tố là một trong những tác

nhân gây bệnh phổ biến làm giảm chất lượng

và giá trị sản phNm nông nghiệp do sinh ra

các loại độc tố gây hại cho sức khoẻ con

người và vật nuôi Phổ biến nhất trong nhóm

nấm sinh độc tố là nấm bệnh Aspergillus spp

(A flavus; A parasiticus; A fumigatus ) có

khả năng sinh độc tố gây ung thư Aflatoxin

Các chủng nấm này có phổ hoạt động rất

rộng vì vậy có khả năng lây nhiễm trên nhiều

loại nông sản như ngô, lạc, bông, đậu

tương Các loại hạt có dầu (đặc biệt như lạc) rất thích hợp cho sự phát triển của nấm

Aspergillus spp cũng như sự hình thành độc

tố Aflatoxin

Xuất phát từ thực tế trên, đã có nhiều phương pháp được nghiên cứu và áp dụng trên thế giới nhằm phát hiện sớm nguồn nấm bệnh, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế tác hại nấm bệnh trên nông sản Phương pháp PCR đã được sử dụng để phát hiện các loại nấm và vi khuNn gây bệnh và sinh độc tố trên nông sản, thực phNm và các loại thức ăn gia súc, do tiện

Trang 2

lợi, dễ áp dụng, có khả năng phát hiện sớm

mầm bệnh kể cả khi chúng chưa sinh độc

tố Có ít nhất 20 gen tham gia vào con

đường tổng hợp aflatoxin, một số gen quan

trọng trong số đó đã xác định được trật tự

nucleotid và chức năng như apa, omt, ver,

nor Trong nghiên cứu này chúng tôi sử

dụng gen ver - mã hoá cho enzyme chuyển

versicolorin thành sterigmatocystin (tiền

chất đầu tiên trong nhánh sinh tổng hợp

Aflatoxin B1- chất độc nhất và phổ biến

trong nhóm Aflatoxin) làm gen đích để

bước đầu xác định sự có mặt của nấm bệnh

Aspergillus sinh độc tố trên các mẫu lạc thu

thập ở một số tỉnh miền Bắc Việt N am

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠN G PHÁP

N GHIÊN CỨU

1 Vật liệu nghiên cứu

Các giống lạc thu thập trong nhà dân,

trên đồng ruộng và trên thị trường ở các

tỉnh N ghệ An, Hải Dương và Hà N ội được

sử dụng để phân lập nguồn nấm bệnh Cặp

mồi đặc hiệu cho gen ver, các hóa chất sử

dụng trong sinh học phân tử phục vụ việc

tách chiết ADN tổng số sợi nấm và các

nguyên liệu cho phản ứng PCR được mua

của hãng Sigma, Fermentas

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Thu thập mẫu lạc và thu nhận

nấm bệnh từ mẫu lạc Các mẫu lạc thu về

được bảo quản trong phòng lạnh ở điều

kiện 4 - 80C tại Bộ môn Bệnh học phân tử

thực vật Để thu được nấm bệnh, chúng tôi

tiến hành theo 2 cách: (i) Đặt hạt lạc trực

tiếp trên đĩa petri có lót giấy khử trùng

sạch, giữ trong điều kiện 280C và độ Nm

khoảng 80%; (ii) Cắt vỏ hạt lạc đặt trên

môi trường PDA đặc, giữ ở nhiệt độ 280C

Sau 3 - 5 ngày đặt mẫu, tiến hành quan sát

sợi nấm mọc trên lạc và vỏ hạt lạc, xác định các điểm mọc nấm thích hợp để tiến hành cấy chuyển và phân lập

2.2 Phương pháp phân lập nấm: Sử dụng phương pháp tách sợi nấm đơn để làm thuần các isolate Trên đĩa môi trường đặc, tiến hành cấy chuyển bằng cách lấy sợi nấm tại các điểm ngoài rìa của khuNn lạc để cấy chuyển sang đĩa môi trường mới Mỗi khuNn lạc trên đĩa môi trường chọn từ 3 đến 5 điểm để cấy chuyển theo nguyên tắc ngẫu nhiên Tiến hành phân lập

những mẫu nấm Aspergillus có đặc điểm

hình thái điển hình trên cả 2 loại môi trường PDA đặc (120 ml dịch chiết khoai tây, 12 g dextrose, 10 g agar cho 1L môi trường - là môi trường giàu dinh dưỡng) và môi trường Czapek đặc (là môi trường dinh dưỡng trung bình) cho đến khi đạt tới

độ đồng đều về màu sắc và tốc độ phát triển của khuNn lạc Dựa vào các đặc điểm nhận dạng mầu sắc khuNn lạc, hình dạng sợi nấm, vết loang để lại trên môi trường quan sát trên đĩa petri và kết hợp với hình dạng bào tử, cuống sinh bào tử, thể bình quan sát trên kính hiển vi chúng tôi tiếp tục làm thuần các isolate bằng việc chọn lọc và cấy chuyển các mẫu nấm trên môi trường đặc Trên cơ sở các đặc điểm nhận dạng trong quá trình phân lập, các mẫu

nấm được phân thành các isolate A flavus,

A paraciticus hay A niger Sau đó, các

mẫu nấm này được sử dụng làm nguyên liệu phục vụ cho các thí nghiệm tiếp sau 2.3 Tách chiết ADN tổng số Các mẫu nấm thu được trên môi trường đặc được tiếp tục nuôi cấy lắc 200v/p trong môi trường PDA và Czapek lỏng từ 5 - 7 ngày, ở 280C

để thu sinh khối Sau khi được rửa bằng nước cất từ 3 - 4 lần các mẫu nấm được giữ trong tủ lạnh sâu - 800C làm nguyên liệu

Trang 3

tách chiết ADN tổng số Trong nghiên cứu

này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp

tách chiết ADN tổng số từ nấm Aspergillus

theo quy trình của Eric W Boehm Cho 200

- 300 mg sinh khối nấm đã được nghiền nhỏ

bằng nitơ lỏng vào ống eppendorf 1,5 ml,

bổ sung 500 µl dung dịch tách chiết

(100 mM Tris-pH 8.0, 10 mM EDTA, 2%

SDS, 1% β-mercaptoethanol), ủ mẫu ở

650C trong 1h, đảo đều mẫu 5 phút một lần

Bổ sung 300 µl dung dịch CTAB

(5M N aCl, 10% CTAB), ủ mẫu trong

30 phút Tiếp đó, bổ sung thêm 450 µl dung

dịch chloroform-isoamyl alcohol tỉ lệ 24:1

(v/v), đảo đều và ly tâm 12000 vòng/phút

trong 15 phút Chuyển pha dịch trong phía

trên sang ống mới, bổ sung 600 µl dung

dịch isopropanol lạnh và ủ mẫu ở - 200C ít

nhất 3 h Sau đó, ly tâm mẫu ở 12000

vòng/phút trong 10 phút Loại bỏ dịch phía

trên và rửa kết tủa thu được bằng 300 µl

EtOH lạnh 70%, đảo nhẹ và ly tâm ở 12000

vòng/phút trong 5 phút Thu lại và làm khô

kết tủa; hòa tan kết tủa với 50 µl nước cất

khử ion sau đó xử lý loại bỏ ARN

Các mẫu ADN tổng số sau đó sẽ được kiểm tra chất lượng bằng phương pháp điện

di trên gel agarose 1% và đo quang phổ hấp thụ (OD260/280nm) để kiểm tra hàm lượng và chất lượng ADN tổng số thu được

2.4 Thiết kế Primer đặc hiệu Trên cơ sở

trình tự gen ver (Acession number: M91369)

đã được đăng ký trong ngân hàng gen thế giới, chúng tôi sử dụng chuơng trình CLC Bio 3.1 để thiết kế cặp mồi VER-496F

(5’-ATGTCGGATAAT CACCGTTTAGATGGC-3’)

và VER-1391R (5’-ATGTCGGATAAT CACCGTTTAGATGGC-3’) để nhân phân đoạn có kích thước 896 bp của gen ver-1

(Hình 1) N hững chủng nấm có băng ADN kích thước 900bp được khuyếch đại bằng cặp mồi trên được xem là có khả năng sinh độc tố Aflatoxin Hướng nghiên cứu trên sẽ là cơ sở cho chúng tôi xây dựng phương pháp có thể chuNn đoán sự nhiễm và định lượng được

mức độ nhiễm nấm Aspergillus spp sinh độc

tố Aflatoxin từ các mẫu lạc hay các cây lương thực khác

Hình 1 Cấu trúc gen ver và vị trí cặp mồi được thiết kế trên gen Gen ver có kích thước khoảng 1.76 kb, tận cùng đầu 5’ và đầu 3’ là vùng không phiên mã (5’UTS và 3’UTS) dài khoảng 400bp và 372bp; khung đọc mở (ORF) nằm từ vị trí 400 đến vị trí 1393, mã hoá cho 262 a.amin; trong khung đọc mở có tồn tại 3 đoạn exon và 2 đoạn intron Cặp mồi được thiết kế nằm trọn trong khung đọc mở, có kích thước lý thuyết 896bp (~ 900bp)

2.5 Phản ứng PCR đặc hiệu Các mẫu

DN A đã tách chiết được pha loãng về nồng

độ 20ng/µl để làm khuôn cho phản ứng

PCR đặc hiệu xác định sự tồn tại của gen

ver trong genome Phản ứng PCR được

tiến hành ở thể tích 20 µl chứa 0,2 µl Taq

5’UTS

3’UTS

Ver –496F

Ver –1391R

1765 bp

896 bp Intron

Trang 4

polymerase (5 u/µl) của Promega, 2 µl

buffer 10X, 0,2 mM dNTPs và 20 pmol

mỗi mồi Phản ứng PCR được thực hiện

bằng máy nhân gen Genius trong 35 chu

kỳ với chương trình nhiệt được thiết lập

như sau: Biến tính 940C trong 45 giây, gắn

mồi ở 550C trong 45 giây và kéo dài ở

720C trong 1 phút Các phân đoạn sản

phNm được điện di kiểm tra trên gel

agarose 1% và ghi nhận hình ảnh bằng hệ

thống máy ảnh N ikon

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Phân lập nấm bệnh Aspergillus

spp từ một số mẫu lạc của Việt N am Sử

dụng cả 2 phương pháp thu thập nấm:

(i) Đặt hạt lạc lên đĩa petri có lớp giấy

thấm khử trùng được làm ướt (5 - 6

hạt/đĩa) và (ii) Đặt vỏ lụa hạt lạc lên môi

trường PDA đặc (5 - 6 miếng vỏ/đĩa) chúng

tôi đã thu được các chủng nấm Aspergillus

spp nhờ vào các đặc điểm hình thái bên

ngoài như màu sắc và vết loang của

khuNn lạc trên môi trường (Hình 2) Kết

quả nhận thấy bằng phương pháp đặt vỏ

lạc trên đĩa môi trường PDA đặc, độ

nhiễm khuNn và lẫn nhiều loại nấm khác

(nhiễm 40%) là thấp hơn nhiều so với

phương pháp đặt cả hạt lạc trên giấy

thấm khử trùng (nhiễm 70%)

Hình 2 Phương pháp thu nhận và phân lập mẫu nấm bệnh từ hạt lạc trên giấy thấm khử trùng được làm ướt (A) và từ vỏ hạt lạc trên môi trường PDA đặc (B)

Qua theo dõi và thống kê chúng tôi nhận thấy tỷ lệ các hạt lạc bị nhiễm nấm là rất cao (dao động từ 80 - 100%) và không

có sự khác biệt lớn về tỷ lệ nhiễm nấm của lạc thu thập trong dân (sau khi thu hoạch)

so với nguồn lạc trên thị trường Điều đó cho thấy nguồn nấm bệnh đã được lây nhiễm từ đồng ruộng đến kho bảo quản và ngược lại Hầu hết các mẫu lạc bị nhiễm

nấm A flavus (có khuNn lạc màu xanh

vàng, mặt sau màu vàng - Hình 3A1) và

A niger (khuNn lạc màu đen, mặt sau màu

trắng hoặc vàng - Hình 3A2) và không thu nhận được bất kỳ mẫu nấm nào có đặc điểm

hình thái của nấm A paraciticus Điều này cho thấy nấm bệnh Aspergillus spp sinh

độc tố Aflatoxin phổ biến trên lạc ở Việt

N am là chủng A flavus

Trên hai môi trường PDA và Czapek đặc được sử dụng, có sự khác biệt về hình thái khuNn lạc và tốc độ phát triển của nấm khi nuôi cấy (Hình 3) Tốc độ phát triển của

nấm Aspergillus spp trên môi trường

Czapek chậm hơn so với trên môi trường PDA Trên môi trường PDA, đường kính khuNn lạc nấm đạt trung bình là 6 - 7 cm qua

7 ngày nuôi cấy và đạt mức tối đa 9 cm sau khoảng 20 ngày Trên môi trường Czapek, qua 7 ngày nuôi cấy, đường kính trung bình của khuNn lạc chỉ đạt được là 3,5 - 4 cm, tối

đa đạt được là 7 cm sau 20 ngày Xét riêng

với 2 loài nấm A flavus và A niger, chúng tôi

nhận thấy mức độ nhiễm nấm trên lạc cũng

như tốc độ phát triển của nấm loài A flavus là cao hơn so với loài A niger, từ đó có thể thấy

Trang 5

nguy cơ lớn của việc nhiễm nấm cũng như

nhiễm độc tố Aflatoxin cao trên các mẫu lạc

được khảo sát ở Việt N am (Hình 3)

Hình 3 Hình thái nấm Aspergillus spp phân lập được từ mẫu lạc A Mẫu nấm A flavus: trên môi trường PDA (A1) khuYn lạc phát triển nhanh và vùng nấm mới phát triển có màu vàng nhạt, vùng nấm bên trong có màu xanh Trên môi trường Czapek (A2) nấm sinh trưởng chậm hơn, màu sắc đậm hơn và có xuất hiện các hạch nấm màu đen A3: Hình ảnh

thể bình và cuống sinh bào tử của nấm A.flavus quan sát dưới kính hiển vi (X 1600)

A4: bấm A flavus trong nuôi cấy lỏng B Mẫu nấm A niger: Trên môi trường Czapek (B1)

khuYn lạc phát triển chậm hơn và màu của khuYn lạc cũng đậm hơn và có xuất hiện một số

“hạch nấm” trên khuYn lạc - có thể do môi trường Czapek nghèo dinh dưỡng hơn;

B2: Hình ảnh sợi nấm A niger quan sát dưới kính hiển vi (X 1600)

Các mẫu nấm Aspergillus thu được sau

khi làm thuần sẽ được cấy chuyển sang môi

trường PDA và Czapek lỏng để nuôi cấy

thu sinh khối Kết quả cho thấy, không có

sự khác biệt nào đáng kể khi nuôi cấy nấm

Aspergillus trên 2 môi trường lỏng này, sau

khoảng 5 ngày, sẽ thu được lượng sinh khối

nấm đủ để tách chiết ADN tổng số Điều

kiện tối ưu của quá trình nuôi cấy này là

200 v/p, ở 28 - 300C (Hình 3A4) Chúng tôi

cũng tiến hành làm các tiêu bản nấm

Aspergillus phân lập được bằng hai cách,

làm tiêu bản với mẫu nấm nuôi cấy trên

môi trường đặc và làm tiêu bản với mẫu nấm nuôi cấy lỏng để quan sát hình dạng bào tử, cuống sinh bào tử, thể bình , so sánh để khẳng định chính xác hơn các loài nấm đã phân lập (Hình 3)

2 Kết quả tách chiết ADN Trong thí nghiệm này chúng tôi đã khảo sát một số phương pháp tách chiết ADN tổng số ở nấm

men, nấm sợi cũng như nấm Aspergillus spp

đã được công bố Tuy nhiên, sau khi thử nghiệm chúng tôi nhận thấy phương pháp tách chiết dựa trên quy trình của Eric W

A

B

Trang 6

Boehm với các mẫu nấm nuôi cấy trong

môi trường lỏng là hiệu quả nhất

Vì thế chúng tôi quyết định sử dụng

phương pháp này để tách chiết cho các mẫu

nấm đã được làm thuần mang các đặc điểm

hình thái đặc trưng của nấm A flavus và

nấm A niger Kết quả chúng tôi thu được

15 mẫu ADN tổng số nấm A flavus với

hình ảnh điện di trên gel agarose 1% rõ nét với hàm lượng ADN trung bình từ 300 -

500 ng/µl (Hình 4) và 5 mẫu ADN tổng số

nấm A niger sử dụng làm đối chứng cho

phản ứng PCR Các mẫu ADN tổng số được sử dụng làm sợi khuôn cho phản ứng PCR đặc hiệu với cặp mồi đã thiết kế

Hình 4 Ảnh điện di ADb tổng số các mẫu nấm trên gel agarose 1%

M: Marker λ HindIII; 1 - 4: bấm A flavus bghệ An, 5 - 7: bấm A flavus Hải Dương;

8 - 10 nấm A flavus Hà bội; 11 - 13: bấm A niger bghệ An; 14: bấm A niger Hải Dương

và 15: bấm A niger chuYn

3 Kết quả phân tích bằng phản ứng

PCR đặc hiệu Từ 15 mẫu ADN tổng số

thu được của isolate A flavus chúng tôi

chọn ra 7 mẫu ADN tổng số để làm khuôn

cho thí nghiệm tối ưu hoá điều kiện phản

ứng PCR đặc hiệu với cặp mồi VER Điều

kiện cho phản ứng PCR như đã trình bày ở

phần vật liệu và phương pháp Nồng độ

khuôn ADN tổng số được thay đổi từ 1 ng,

2 ng, 10 ng, 20 ng, 100 ng và 200 ng cho

thể tích phản ứng là 20 µl để tối ưu hoá

nồng độ khuôn ADN Kết quả phân tích

cho thấy khoảng nồng độ thích hợp cho

mồi VER dao động từ 2 - 20 ng, tuy nhiên

ở nồng độ 20 ng các phân đoạn ADN được

khuyếch đại tốt nhất và nồng độ 20 ng

được chúng tôi duy trì để tối ưu hoá nhiệt

độ gắn mồi Việc tối ưu nhiệt độ gắn mồi

là rất quan trọng và trong thí nghiệm này

chúng tôi nhận thấy ở nhiệt độ gắn mồi

500C các băng cần khuyếch đại đều xuất hiện tuy nhiên có xuất hiện những băng không đặc hiệu Ở nhiệt độ gắn mồi 550C, hiệu suất gắn mồi và khuyếch đại gen vẫn được duy trì và các băng không đặc hiệu

đã biến mất

Sau khi đã thiết lập được điều kiện thích hợp cho phản ứng mồi đặc hiệu, chúng tôi đã tiến hành phản ứng PCR với tất cả các mẫu ADN tổng số của các mẫu nấm phân lập được và đối chứng được sử dụng trong thí nghiệm này là mẫu ADN

tổng số của mẫu A niger Kết quả thu

được các băng ADN khuyếch đại có kích thước xấp xỉ 900bp, tương đồng với kích thước lý thuyết đã tính toán là 896bp ở tất

cả các phản ứng PCR sử dụng sợi khuôn là

ADN tổng số nấm A flavus Các isolate

Trang 7

A flavus phân lập được ở các vùng sinh

thái khác nhau đều cho kết quả dương tính

với các mồi đặc hiệu, trong khi các chủng

A niger sử dụng làm đối chứng đều cho

kết quả âm tính với các mồi đặc hiệu (Hình

5) Điều này chứng tỏ cặp mồi đã thiết kế

và điều kiện phản ứng PCR chúng tôi thiết

lập được là có thể sử dụng phân biệt loài

A flavus và A niger Điều đó cũng có

nghĩa là phương pháp của chúng tôi hoàn toàn có thể nhận biết được các nấm có khả năng sinh độc tố Aflatoxin với các nấm

không sinh độc tố, bởi các nấm A flavus

được coi là loài sinh độc tố Aflatoxin rất

mạnh trong khi nấm A niger là loài hoàn

toàn không sinh độc tố

Hình 5 Hình ảnh điện di sản phYm khuyếch đại với mồi Ver trên gel agarose 1% M: Marker; 1 - 3: A flavus bghệ An; 4 - 6: A flavus Hải Dương; 7: A flavus Hà bội; C: Đối chứng A niger chuYn Các mẫu có đặc điểm hình thái điển hình của A flavus đều cho băng đặc hiệu ~ 900bp còn mẫu đối chứng là mẫu A niger chuYn không có băng đặc

hiệu (Hình ảnh thu nhận bằng máy chụp ảnh bikon)

IV KẾT LUẬN

Con đường sinh tổng hợp Aflatoxin ở

nấm bệnh Aspergillus đã được nghiên cứu

khá chi tiết ở mức độ phân tử Ít nhất có 20

gen mã hóa cho các enzyme tham gia vào

con đường này và một số gen quan trọng đã

được giải trình tự và nghiên cứu chức năng

đầy đủ Trong các gen quan trọng tham gia

vào quá trình sinh tổng hợp Aflatoxin, ver,

omt và apa đang được quan tâm và sử dụng

làm gen đích trong các nghiên cứu xác định

nấm Apergillus sinh độc tố Aflatoxin bằng

kỹ thuật PCR (Hình 6)

Trong nghiên cứu có tính chất bước đầu thử nghiệm khả năng sử dụng phương pháp

PCR để chNn đoán nấm Apergillus sinh độc

tố Aflatoxin Chúng tôi đã thiết lập được

phương pháp tối ưu phân lập nấm A flavus,

phương pháp tối ưu tách chiết ADN tổng số

và đặc biệt là chúng tôi đã tối ưu được điều kiện cho phản ứng PCR để có thể chNn đoán

sự có mặt của nấm A flavus với cặp mồi gen ver Đây là cơ sở cho phép chúng tôi tiếp tục

M 1 2 3 4 5 6 7 M C

900bp

1500bp 1000bp 800bp

Trang 8

hoàn thiện phương pháp để có thể xác định

các chủng nấm Apergillus có khả năng sinh

độc tố Aflatoxin nhờ phản ứng PCR đặc

hiệu với các gen khác như ver, omt, apa

trực tiếp trên các mẫu lạc nghiên cứu, tạo

một phương pháp bổ sung có hiệu quả nhằm chNn đoán nhanh và chính xác nấm

bệnh Aspergillus spp sinh độc tố Aflatoxin

trên lạc cũng như các loại nông sản khác của Việt Nam

Hình 6 Sơ đồ minh họa con đường sinh tổng hợp Aflatoxin B 1 ở nấm bệnh Aspergillus Gen apa là gen điều khiển liên quan đến việc chuyển averufin thành versiconal hemiacetal acetate, dẫn đến sự tập trung acetate cần thiết trước khi bước vào con đường sinh tổng hợp Aflatoxin Gen ver mã hoá cho enzyme chuyển hoá versicolorin A thành

sterigmatocystin và gen omt mã hoá cho enzyme chuyển hoá sterigmatocystin thành

O- methylsterigmatocystin là tiền chất của Aflatoxin B 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Kurtzman C.P., et al., 1987 Antonie Leeuwenhoek 53:147-157

Trang 9

2 Yu J., et al., 2005 Rev Iberroem.Miccil

22:194-202

3 Kolosova A.Y., et al., 2006 Anal

Bioanal.Chem 384:286-94

4 Jarvis B., D.A.L.Seiler., A.J.L.Ould and A.P.William, 1983 J.Appl.Bacteriol

55:325-336

5 Stroka J., Van O R and Anklam E,

2000 J.Chromatoqr.A 904(2):251-6

6 Jaimez J., Fente CA., Vazquez BI., Franco CM., Cepeda A., Mahuziez G., and Pronqnon P, 2000 J.Chromatoqr

A 882(1-2):1-10

7 Bintvihok, A., Y Adachi, and K Hirano,

1992 Toxicon 30:492-497

8 Cheng, R., J Tsay, Y Huang, and R Y Chiou, 2002 J Food Prot., 65:840-844

9 Farber, P., R Geison, and W H Holzapfel, 1997 Int J Food Microbiol

36:215-220

10 Geisen, R, 1996 Syst Appl Microbiol

19:388-392

11

http://csm.colostate-pueblo.edu/biology/dcaprio/351L/Proje ct1351L.html

12 http://www.aspergillusflavus.org/pdfs/C

TAB%20Method.pdf

13

http://www.protocol-

online.org/prot/Protocols/Fungal-Genomic-DNA-Extraction-1200.html

14 http://www.upstate.edu/biochem/amber

g/protocols/yeast_genomic_DNA.html

15 www.fgsc.net/fgn37/borges.html

gười phản biện: gô Vĩnh Viễn

Trang 10

T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam

10

Ngày đăng: 03/04/2014, 13:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Cấu trúc gen ver và vị trí cặp mồi được thiết kế trên gen. Gen ver có kích thước  khoảng 1.76 kb, tận cùng đầu 5’ và đầu 3’ là vùng không phiên mã (5’UTS và 3’UTS) dài  khoảng 400bp và 372bp; khung đọc mở (ORF) nằm từ vị trí 400 đến vị trí 1393, m - Nghiên cứu xác định nấm Aspergillus sinh độc tố aflatoxin trên lạc bằng phản ứng pcr đặc hiệu pot
Hình 1. Cấu trúc gen ver và vị trí cặp mồi được thiết kế trên gen. Gen ver có kích thước khoảng 1.76 kb, tận cùng đầu 5’ và đầu 3’ là vùng không phiên mã (5’UTS và 3’UTS) dài khoảng 400bp và 372bp; khung đọc mở (ORF) nằm từ vị trí 400 đến vị trí 1393, m (Trang 3)
Hình 2. Phương pháp thu nhận và phân lập  mẫu nấm bệnh từ  hạt lạc trên giấy thấm  khử trùng được làm ướt (A) và từ vỏ hạt lạc  trên môi trường PDA đặc (B) - Nghiên cứu xác định nấm Aspergillus sinh độc tố aflatoxin trên lạc bằng phản ứng pcr đặc hiệu pot
Hình 2. Phương pháp thu nhận và phân lập mẫu nấm bệnh từ hạt lạc trên giấy thấm khử trùng được làm ướt (A) và từ vỏ hạt lạc trên môi trường PDA đặc (B) (Trang 4)
Hình 3. Hình thái nấm Aspergillus spp. phân lập được từ mẫu lạc. A. Mẫu nấm A. flavus:  trên môi trường PDA (A1) khuYn lạc phát triển nhanh và vùng nấm mới phát triển có màu  vàng nhạt, vùng nấm bên trong có màu xanh - Nghiên cứu xác định nấm Aspergillus sinh độc tố aflatoxin trên lạc bằng phản ứng pcr đặc hiệu pot
Hình 3. Hình thái nấm Aspergillus spp. phân lập được từ mẫu lạc. A. Mẫu nấm A. flavus: trên môi trường PDA (A1) khuYn lạc phát triển nhanh và vùng nấm mới phát triển có màu vàng nhạt, vùng nấm bên trong có màu xanh (Trang 5)
Hình  thái  đặc  trưng  của  nấm  A.  flavus  và - Nghiên cứu xác định nấm Aspergillus sinh độc tố aflatoxin trên lạc bằng phản ứng pcr đặc hiệu pot
nh thái đặc trưng của nấm A. flavus và (Trang 6)
Hình 5. Hình ảnh điện di sản phYm khuyếch đại với mồi Ver trên gel agarose 1%   M: Marker; 1 - 3: A - Nghiên cứu xác định nấm Aspergillus sinh độc tố aflatoxin trên lạc bằng phản ứng pcr đặc hiệu pot
Hình 5. Hình ảnh điện di sản phYm khuyếch đại với mồi Ver trên gel agarose 1% M: Marker; 1 - 3: A (Trang 7)
Hình 6. Sơ đồ minh họa con đường sinh tổng hợp Aflatoxin B 1  ở nấm bệnh Aspergillus.  Gen apa là gen điều khiển liên quan đến việc chuyển averufin thành versiconal hemiacetal  acetate, dẫn đến sự tập trung acetate cần thiết trước khi bước vào con đường s - Nghiên cứu xác định nấm Aspergillus sinh độc tố aflatoxin trên lạc bằng phản ứng pcr đặc hiệu pot
Hình 6. Sơ đồ minh họa con đường sinh tổng hợp Aflatoxin B 1 ở nấm bệnh Aspergillus. Gen apa là gen điều khiển liên quan đến việc chuyển averufin thành versiconal hemiacetal acetate, dẫn đến sự tập trung acetate cần thiết trước khi bước vào con đường s (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w