ghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa, uốn, vít đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng hoa và hiệu quả kinh tế của cây hoa hồng Thí nghiệm tiến hành trên giống hoa hồng
Trang 1NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐIỀU KHIỂN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NỞ HOA CỦA CÂY HOA HỒNG
Bùi Thị Hồng, Đặng Văn Đông
SUMMARY
Research on some of growth, development and bloom controlling measures
to the rose plants
Rose is the flower that has very large requirement of use, therefore application of new technology in the production of Rose plants to increase productivity, quality and economical profit is always necessary request Research Institute of Fruits and Vegetables already carried out a research on some of growth, development and bloom controlling measures to the Rose plants The results indicate that the growth controlling measures by using the methods of cutting, trimming, bending, pulling-down increase the growth and development ability of Rose plants, therefore increase productivity and economical profit (1,52 - 1,88 times higher than the control) Within the measures, bending and pulling down are more effective When the measures of bending and pulling down are applied to the mass production, effectiveness of the model is 1,8 - 2,0 times higher than the control
Keywords: Rose plant, bloom, cutting, trimming, bending, profit
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây hoa hồng có tên khoa học là (Rosa
sp.), được trồng phổ biến và rộng rãi ở hầu
khắp các nước trên thế giới Đây là loại hoa
có nhu cầu sử dụng rất cao, luôn có mặt
trong các dịp lễ hội lớn cũng như những lúc
thường nhật Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù
có những vùng sản xuất hoa hồng với diện
tích rất lớn, nhưng nhìn chung năng suất
thấp, chất lượng hoa kém, nguyên nhân của
tồn tại trên là do kỹ thuật canh tác còn lạc
hậu, chưa áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản
xuất Thực tiễn của nghề trồng hoa cho thấy,
muốn đạt hiệu quả cao, không những cần
nâng cao năng suất, chất lượng mà còn phải
điều khiển để hoa nở đồng đều và tập trung
Nội dung bài báo trình bày một số kết
quả nghiên cứu, biện pháp kỹ thuật điều
khiển sinh trưởng phát triển và nở hoa của
cây hoa hồng có khả năng ứng dụng phục
vụ sản xuất
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 ghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa, uốn, vít đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng hoa và hiệu quả kinh tế của cây hoa hồng
Thí nghiệm tiến hành trên giống hoa hồng đỏ Pháp (là giống đang trồng phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay), được bố trí theo ô, mỗi ô 10 m2 theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCB với 3 lần nhắc lại Khoảng cách trồng là: 35 cm x 25 cm Gồm 4 công thức (CT):
CT1: Để nguyên không tác động làm đối chứng (đ/c)
CT2: Cắt tỉa cành (cắt tỉa) Những cành dùng làm cành mẹ tiến hành cắt cách gốc từ
20 - 25 cm, đồng thời cắt tỉa những cành vô hiệu không có khả năng thu hoa
CT3: Uốn cong cành (uốn) Dùng dây
đè 2 bên uốn cong tất cả các cành dùng làm
Trang 2cành mẹ và các cành vô hiệu ra 2 bên phía
ngoài của luống
CT4: Bẻ gập cành (vít) Tại vị trí cách
gốc của cành mẹ 20 - 25 cm tạo thành vết
thương bẻ gập ra bên ngoài nhưng không
làm gẫy cành
2 Xây dựng mô hình áp dụng biện
pháp cắt tỉa, uốn, vít cho cây hoa hồng
ngoài sản xuất ở một số địa phương
Các số liệu được xử lý trên máy tính
theo chương trình IRRISTAT
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO
LUẬN
1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa, uốn, vít đến sinh trưởng, phát triển, năng suất
và hiệu quả kinh tế của cây hoa hồng
Cây hoa hồng sau khi đã ổn định về mặt sinh trưởng (sau trồng 4 tháng) trên những cành được dùng làm cành mẹ và cành vô hiệu, chúng tôi tiến hành bố trí các công thức cắt tỉa, uốn, vít và theo dõi động thái bật mầm trên cây, kết quả được trình bày ở Bảng 1
Bảng 1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa, uốn, vít đến động thái bật mầm
và tỷ lệ mầm hữu hiệu của cây hoa hồng
CTTN Số lượng mầm sau thời gian tác động (mầm/cây) Tỷ lệ mầm hữu hiệu sau
tác động 180 ngày (%)
10 ngày 30 ngày 60 ngày 90 ngày 180 ngày
Kết quả Bảng 1 cho thấy: Thời gian
đầu số mầm xuất hiện trên các CT là tương
đương nhau, sự sai khác thể hiện rõ sau
thời gian tác động 30 ngày Số mầm trên
các CT cắt tỉa, uốn, vít đều cao hơn CT đối
chứng, cao nhất là CT2 tiếp đến là CT3 và
CT4 Nguyên nhân là do ở các CT được
cắt tỉa, uốn, vít có sự thông thoáng tốt,
tăng độ chiếu sáng đến gốc, kích thích khả
năng bật mầm
Trên các công thức cắt tỉa, uốn, vít có
số mầm tăng mạnh vào giai đoạn sau thời
gian tác động 30 ngày, giai đoạn 30 - 60
ngày số mầm tăng chậm, sau đó lại tiếp tục
tăng mạnh ở giai đoạn 60 - 90 ngày Còn ở
CT đối chứng số lượng mầm tăng đều qua
các giai đoạn Sở dĩ có hiện tượng này là do
một cành hoa hồng có thời gian từ khi bật
mầm đến lúc thu hoạch dao động từ 45 - 60 ngày Thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, mùa vụ và tình trạng sinh trưởng của cây Khả năng bật mầm của cây chịu sự tác động của các biện pháp kỹ thuật, khi hoa thu hoạch, cành trên cây được cắt đi góp phần tạo điều kiện kích thích mầm phát triển, cứ như vậy cành phát triển và được thu hoạch tập trung Điều này không những rất thuận lợi cho việc thu hoạch sau này mà
có tác dụng trong việc điều khiển thu hoạch hoa theo ý muốn
Tính đến thời điểm sau thời gian tác động 180 ngày, trong các CT cắt tỉa, uốn, vít, số lượng mầm ở CT2 cao hơn CT3 và CT4 Như vậy ngoài việc tạo độ thông thoáng, tăng ánh sáng chiếu gốc, thì ở CT2 (cắt tỉa) còn có tác dụng phá bỏ chồi ngọn,
Trang 3tạo điều kiện kích thích mầm phát triển
Tuy nhiên tỷ lệ mầm hữu hiệu ở CT3 và
CT4 lại cao hơn CT2, điều này cho thấy
biện pháp cắt tỉa kích thích mầm bật nhiều,
nhưng số mầm hữu hiệu thấp hơn, do cành
bị cắt, khả năng quang hợp của cây bị hạn
chế Còn ở CT uốn cong và bẻ gập cành số
mầm hữu hiệu cao hơn là do khi cây được
uốn cong, bẻ gập cành ra ngoài, tạo độ
thông thoáng tăng khả năng thu nhận ánh
sáng, kích thích mầm phát triển, đồng thời
dinh dưỡng lại không bị mất đi do trên cành
vẫn duy trì được bộ lá để quang hợp nuôi
cây tạo điều kiện thuận lợi cho mầm sinh trưởng, phát triển
Cành hoa được hình thành từ cành mẹ,
độ dài nhất định của cành là sản phNm mà người trồng mong muốn Sau khi nảy mầm một thời gian ngắn thì bắt đầu xảy ra sự phân hóa mầm hoa và tăng kích thước cành hoa (chiều dài, đường kính), thông thường
để hình thành một cành hoa mất từ 45 - 60 ngày Kết quả nghiên cứu về khả năng phát triển cành hoa hồng khi áp dụng biện pháp cắt tỉa, uốn, vít, được trình ở Bảng 2
Bảng 2 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa, uốn, vít đến động thái tăng trưởng chiều dài
và đường kính cành hoa hồng
Đơn vị tính: cm
Chỉ tiêu
theo dõi
CTTN
Thời gian theo dõi (ngày)
CD & ĐK tối đa
CD cành
ĐK cành
CD cành
ĐK cành
CD cành
ĐK cành
CD cành
ĐK cành
CD cành
ĐK cành
Qua số liệu Bảng 2 cho thấy: Thời
gian đầu (thời gian ở đây tính cho 1 chu
kỳ sinh trưởng của cành hoa từ khi bật
mầm đến khi thu hoạch) chiều dài (CD)
và đường kính (ĐK) cành ở các CT là gần
tương đương nhau Sau 30 ngày đã có sự
khác nhau đáng kể giữa các CT Cao nhất
là CT2 (9,0 cm), tiếp đến là CT3 và CT4
(7,4 - 7,7 cm), thấp nhất là CT đối chứng
chỉ đạt 5,0 cm Tốc độ phát triển kích
thước cành (chiều dài x đường kính) ở
CT2 giai đoạn 15 - 30 ngày mạnh hơn so
với CT3 và CT4, nhưng giai đoạn 30 - 45
ngày thì tốc độ phát triển kích thước cành
ở CT3 và CT4 lại cao hơn CT2 Sở dĩ có
được điều này là do CT2 ngoài việc tăng khả năng chiếu sáng còn bị ức chế sự bật mầm sớm, tuy nhiên những mầm này chủ yếu là các mầm gần ngọn, mà sức sinh trưởng cành càng gần ngọn càng yếu Vì vậy tốc độ tăng trưởng kích thước cành ở giai đoạn sau của CT2 chậm hơn so với CT3 và CT4
Như vậy việc áp dụng biện pháp cắt tỉa, uốn, vít đã làm tăng khả năng sinh trưởng của cây, còn chất lượng hoa trên các công thức bị ảnh hưởng như thế nào chúng tôi có kết quả trình bày ở Bảng 3
Kết quả ở bảng 3 thấy rằng: Chiều dài
và đường kính cành ở các CT cắt tỉa, uốn,
Trang 4vít có ưu thế vượt trội hơn hẳn CT đối
chứng, đây là một điểm nổi bật khi áp dụng
biện pháp kỹ thuật cắt tỉa, uốn, vít Ngoài ra
đường kính và chiều cao hoa cũng cao hơn
đối chứng từ 0,5 - 0,7 cm
Số cánh/hoa của hoa hồng thường bị
thay đổi do có tác động của yếu tố bên
ngoài, cụ thể hơn ở đây là bị tác động của các biện pháp cắt tỉa, uốn, vít Các CT được tác động đều có số cánh/hoa cao hơn đối chứng từ 5 - 12,5 cánh, trong đó số cánh/hoa của CT3, CT4 cao hơn CT2
Bảng 3 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa, uốn, vít, đến chất lượng hoa hồng
Chỉ tiêu
theo dõi
CTTN
Chất lượng hoa
CD cành (cm)
ĐK cành (cm)
ĐK hoa (cm)
Chiều cao hoa (cm)
Số cánh hoa (cánh)
Độ bền hoa cắt (ngày)
Về độ bền hoa cắt: Cùng tiến hành ở điều
kiện như nhau về các yếu tố ngoại cảnh,
nhưng các CT cắt tỉa, uốn, vít đều cao hơn CT
đối chứng từ 1,6 - 2,0 ngày và giữa các công
tắc này cũng chênh nhau từ 0,9 - 1,2 ngày
Mục đích cuối cùng của người sản xuất
là hiệu quả kinh tế Kết quả về hiệu quả kinh tế khi áp dụng biện pháp cắt tỉa, uốn, vít được trình bày ở Bảng 4
Bảng 4 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa, uốn, vít đến năng suất, sản lượng
và hiệu quả kinh tế của hoa hồng
(Tính trên 1000 m 2 sau trồng 10 tháng)
Chỉ tiêu
CTTN
Sản lượng hoa (bông)
Tỷ lệ hoa thương phẩm (%)
Tổng thu (1.000 đ)
Tổng chi (1.000 đ)
Lãi thuần (1.000 đ)
So với đối chứng (lần) Loại
1
Loại
2
Loại
3
Trên các công thức cắt tỉa, uốn, vít đều
có sản lượng hoa cao hơn đối chứng từ
10.000 - 30.000 bông/1000 m2 Sản lượng
hoa cao, nhưng giá trị thu được còn phải
phụ thuộc vào giá trị hoa thương phNm của
từng loại, ở các công thức có tỷ lệ hoa loại
1 cao, loại 3 thấp thì tổng giá trị thu được sẽ
cao hơn, bởi vì hoa loại 1 có chất lượng tốt nên giá trị thương phNm cao
Ngoài ra hiệu quả kinh tế còn phụ thuộc vào phần chi phí đầu tư Mặc dù phần chi phí ở các công thức cắt tỉa, uốn, vít có cao hơn công thức đối chứng do phải chi phí thêm phần công lao động và vật tư để phục
Trang 5vụ cho việc cắt tỉa, uốn, vít nhưng ở các
công thức này có số mầm và tỷ lệ mầm hữu
hiệu cao nên sản lượng hoa cao, hơn nữa tỷ
lệ hoa loại 1, loại 2 ở các công thức này
cũng cao, do đó phần lãi thuần đều cao, cao
hơn công thức đối chứng từ 1,52 - 1,88 lần
Trong đó công thức 3 (uốn) và công thức 4
(vít) là hiệu quả hơn cả
Qua kết quả nghiên cứu trên chúng tôi
có nhận xét sau: Các biện pháp cắt tỉa, uốn,
vít đều có tác dụng làm tăng khả năng sinh
trưởng, phát triển cho cây hoa hồng, dẫn
đến năng suất chất lượng và hiệu quả tế tăng cao hơn từ 1,52 - 1,88 lần so với đối chứng Trong đó biện pháp uốn cong và vít gập cành là hiệu quả nhất
2 Kết quả áp dụng các biện pháp điều khiển sinh trưởng ngoài sản xuất tại một
số địa phương
Chúng tôi đã tiến hành áp dụng biện pháp cắt tỉa, uốn, vít cho cây hoa hồng ra ngoài sản xuất tại một số địa phương Sau đây là một số kết quả thu được
Bảng 5 Kết quả về khả năng sinh trưởng phát triển của cây hoa hồng
áp dụng biện pháp vít cành ngoài sản xuất ở một số địa phương
Địa
điểm
CT
TN
Số lượng và tỷ lệ mầm hữu hiệu sau thời gian áp dụng Chất lượng hoa
2 tháng 4 tháng 6 tháng CD
cành
TB (cm)
ĐK cànhTB (cm)
C.cao hoa TB (cm)
ĐK hoa
TB (cm)
Số cánh/hoa (cánh)
SL (mầm)
Tỷ lệ (%)
SL (mầm)
Tỷ lệ (%)
SL (mầm)
Tỷ lệ (%)
Hà Nội đ/c 3,4 44,5 8,5 52,7 16,7 53,8 60,3 0,58 0,38 0,40 23,5
A/D 7,2 50,6 14,3 61,3 20,6 62,8 71,4 0,74 0,42 0,46 30,7
Hà Nam đ/c 4,2 45,5 9,3 53,7 15,8 54,6 58.7 0,60 0,40 0,39 24.4
A/D 7,8 51,6 15,1 63,2 21,2 61,7 69,3 0,72 0.44 0,44 32.6
Sơn La đ/c 4,0 45,4 8,5 54,7 17,2 54,8 59,4 0,60 0.37 0,41 22,3
A/D 7,6 52,6 15.6 63,5 22,4 63,5 70,4 0,75 0.42 0,46 36.8
Ghi chú: A/D = Áp dụng biện pháp vít cành
Kết quả bảng 5 đã cho thấy: Nhìn chung
ở hầu hết các địa phương khi được áp dụng
các biện pháp cắt tỉa, uốn, vít cây đều có khả
năng sinh trưởng tốt hơn khi không áp dụng
Số lượng (SL) mầm nhiều hơn, tỷ lệ mầm
hữu hiệu cao hơn, các chỉ tiêu về chất lượng
hoa cũng cao hơn hẳn so với đối chứng Tuy
nhiên khả năng sinh trưởng và chất lượng
hoa ở các vùng khác nhau thì có khác nhau, trong đó ở vùng Sơn La do có điều kiện khí hậu phù hợp với khả năng sinh trưởng của cây hoa hồng nên sinh trưởng tốt hơn các vùng khác Vùng Hà Nội do có nhiều kinh nghiệm trong trồng hoa hồng hơn nên mức
độ đầu tư thâm canh ở đó cao hơn, vì vậy chất lượng hoa ở đó cũng cao hơn
Trang 6Như vậy biện pháp vít cành đã làm
tăng khả năng sinh trưởng của cây và đó
cũng là tiền đề để chất lượng hoa được
nâng cao, tuy nhiên hiệu quả kinh tế vẫn là
mục đích của người sản xuất, chúng tôi tiến hành đánh giá qua các chỉ tiêu về năng suất và hiệu quả, kết quả được trình bày ở bảng 6
Bảng 6: Hiệu quả kinh tế của hoa hồng ở các địa phương khi được áp dụng biện pháp điều khiển sinh trưởng
(Tính trên 1000 m 2 sau trồng 1 năm)
Địa điểm CTTN Sản lượng
hoa
Tổng thu (1000 đ)
Tổng chi 1000 đ
Lãi thuần
1000 đ
So với đối chứng (lần) Giống Vật tư, công LĐ Tổng chi
Ghi chú: A/D = Áp dụng biện pháp điều khiển sinh trưởng
Năng suất và hiệu quả kinh tế cây hoa
hồng ở các địa phương được áp dụng biện
pháp uốn, vít cành kết quả đã cho thấy:
Sản lượng hoa thu được đều cao hơn
đối chứng, vì vậy tổng thu cao hơn Mặc
dù chi phí khi được áp dụng có cao hơn
vì phải chi phí thêm công lao động (LĐ)
và vật tư cho việc vít cành, nhưng do có
sản lượng hoa cao hơn nên hiệu quả cao
hơn đối chứng từ 1,8 - 2,0 lần Tuy nhiên
ở các địa phương khác nhau thì tỷ lệ này cũng khác nhau, nguyên nhân là do phần chi phí cho công lao động và vật tư ở mỗi địa phương không giống nhau, ngoài ra phần thu ở mỗi nơi bị biến động bởi yếu
tố chất lượng và giá cả Trong đó ở vùng
Hà Nội đạt cao nhất gấp 2,0 lần so với đối chứng
Khả năng bật mầm
ở CT bẻ gập cành
Khả năng bật mầm
ở CT uốn cong cành
Khả năng bật mầm của hoa hồng khi được áp dụng biện pháp uốn cong và bẻ
gập cành
Trang 7IV KẾT LUẬN
Từ các kết quả nghiên cứu trên chúng
tôi rút ra một số kết luận sau:
1 Các biện pháp điều khiển sinh trưởng
bằng cắt tỉa, uốn, vít đều làm tăng khả năng
sinh trưởng, phát triển của cây hoa hồng,
dẫn đến năng suất và hiệu quả kinh tế cao
gấp 1,52 - 1,88 lần so với đối chứng Trong
đó biện pháp uốn cong và bẻ gập cành cho
hiệu quả hơn cả
2 Khi đưa ra áp dụng các biện pháp
điều khiển sinh trưởng bằng uốn, vít ngoài
sản xuất hiệu quả của mô hình đều cao hơn
1,8 - 2,0 lần so với đối chứng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, Nguyễn
Quang Thạch, 2002 Cây hoa hồng và
kỹ thuật trồng Nhà xuất bản Lao động -
Xã hội
2 Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2003
Công nghệ mới trồng hoa cho thu nhập
cao - cây hoa hồng Nhà xuất bản Lao
động - Xã hội
3 Đặng Văn Đông, Bùi Thị Hồng, 2003
Nghiên cứu tuyển chọn một số giống
hoa hồng phục vụ sản xuất Kết quả
nghiên cứu khoa học - Viện Nghiên cứu
Rau quả
4 Nguyễn Quang Thạch, Hoàng Minh
Tấn, Trần Văn PhUm, 2000 Giáo trình
Sinh lý thực vật NXB Nông nghiệp,
Hà Nội
5 Hoàng Ngọc Thuận, 2005 Trồng hoa
thương mại ở Bắc Giang, Hội thảo
Quốc tế Việt Nam - Hà Lan
6 Hoàng Ngọc Thuận, 2006 Nghiên cứu
đặc tính nông sinh học của một số giống hoa hồng đã tuyển chọn và biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hoa cắt, Báo cáo nghiên cứu khoa học Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội
gười phản biện: Trần Duy Quý
Trang 8T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
8