BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Giảng viên TS Nguyễn Thị Ngọc Mai BẢN TÓM TẮT CÁC BÀI TRÊN THƯ VIỆN Tên Phạm Cao Tuấn Khoa Lớp CLC 47C[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Giảng viên: TS Nguyễn Thị Ngọc Mai
BẢN TÓM TẮT CÁC BÀI TRÊN THƯ VIỆN
Tên: Phạm Cao Tuấn Khoa Lớp: CLC-47C
MSSV: 2253801015139
HỌC KÌ I – NĂM HỌC 2022 - 2023
Trang 2TƯ DUY VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT TRONG THỜI ĐẠI
NGÀY NAY
-Đào Trí
Úc-Trên thế giới luôn tồn tại những hiện tượng nan giải và mâu thuẫn của quá trình phát triển xãhội, nổi bật nhất là yêu cầu về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, gây nên sự khủnghoảng tài chính quốc gia Bội chi ngân sách so với tổng sản phẩm nội địa (Gross DomesticProduct) đã làm vượt ngân sách và nợ công, dẫn đến sự mất cân bằng giữa khu vực nhà nước
và tư nhân, phá vỡ nền tảng tạo nên nền kinh tế Để cải thiện tình hình, nhà nước đã áp dụngchính sách tăng thuế và cắt giảm chỉ tiêu, đầu tư cho những chương trình và mục tiêu quốcgia Tuy nhiên, cách này cũng chỉ là giải pháp có tính chất tình thế và mang lại hiệu quả nhấtthời, dẫn đến hậu quả tiêu cực cho tư bản
Thách thức thứ hai là quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các mâu thuẫn xã hội Mặc dù cácgiải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đều mang lại kết quả cho mức sống của người dân,nhưng kèm theo đó là những hệ lụy tiêu cực về mặt xã hội Xu hướng của thời đại ngày nay
là sự kết hợp đa dạng của nhiều nền văn hóa, không ngoại trừ là xung đột và loại trừ lẫnnhau Dẫn đến một trong những chức năng mới và nổi bật của nhà nước là phòng ngừa vàkhắc phục khủng hoảng
Tiềm năng cho mọi sự chuyển đổi trong quốc gia chỉ có thể phát sinh khi tạo dựng được mốiliên hệ thông suốt và bình đẳng giữa các thiết chế quyền lực nhà nước với xã hội Vì vậy, tiếpcận vấn đề quản trị quốc gia với ý tưởng về nâng cao năng lực kiến tạo của Nhà nước cầnđược bắt đầu từ nhận thức về tính chất đa dạng
Xã hội hiện đại là xã hội tràn ngập thông tin, và tính liên kết trên bình diện xã hội nhanhchóng nhờ công nghệ hiện đại đã giản lược tối đa, thu hẹp khoảng cách giữa các mối liên hệtương tác giữa chủ thể và đối tượng quản lý Từ đây cho thấy sự hình thành và hoàn thiện nhànước kiến tạo cần đổi mới hệ thống quản trị quốc gia theo hướng tạo ra những cấu trúc linhhoạt, cần đào tạo đội ngũ công chức, chuyên gia, nhà quản lý không chỉ biết nắm giữ thôngtin mà phải có khả năng phân tích thông tin và sáng tạo Nhà nước kiến tạo là chủ thể quantrọng, nhưng không thể là chủ thể duy nhất của quá trình kiến tạo và thực thi chính sách Nhànước phải tự đặt mình và mối liên hệ với các yếu tố khác của hệ thống và cấu trúc xã hội,chia sẻ
Các quá trình trong việc phát triển hình thành nhà nước đề cập đến sự công bằng về quyền vànghĩa vụ, vì vậy, mối quan hệ về trách nhiệm giữa nhà nước và xã hội tập trung vào cả nhànước và xã hội bao gồm các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, khu vực tư Quá trình hoạch địnhchính sách cũng đòi hỏi những phương thức mới như giao tiếp, thảo luận, thoả thuận để thaythế các tính chất mang tính mệnh lệnh và áp đặt
Toàn cầu hoá được coi là đặc trưng chủ đạo của thế kỉ XXI và được diễn ra trên phạm vi toànthế giới với sự tham dự của mọi quốc gia, dân tộc trong một hệ thống kinh tế và xã hội thốngnhất, với việc hình thành và vận hành những mối liên kết về thương mại, tài chính cùng cáchoạt động sản xuất kinh doanh Mặt tốt của toàn cầu hoá sẽ giúp cho thế giới phát triển vềthông tin, sự mở rộng về dịch vụ, thị trường trong mọi lĩnh vực, tác động đến đạo đức, nhậnthức và lối sống Mặt trái của toàn cầu hoá sẽ dẫn đến chủ nghĩa dân tộc, tôn giáo cực đoan,tội phạm xuyên quốc gia, sự xung đột về văn hoá cho dân nhập cư ồ ạt
Trang 3Từ những nhận thức về thách thức mới của quản trị quốc gia hiện đại, chúng ta cần nhận thứclại chức năng của nhà nước Phạm vi chức năng mới của nhà nước hướng tới nhu cầu cải tạomôi trường quản trị, linh hoạt trong các hoạt động, tổ chức, chức năng và nhiệm vụ cộng vớiviệc xác định và thay đổi mục tiêu của chủ thể nhằm kiến tạo cả bên trong lẫn bênngoài.Trong các chức năng của nhà nước, nhìn từ mặt quản lý và xã hội, chức năng bảo đảm
ổn định và đồng thuận xã hội , ngăn ngừa và hoá giải xung đột được xem là quan trọng nhất
Vì vậy, trong quá trình đổi mới, Đảng và nhà nước ta chủ trương xây dựng và phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh hội nhập quốc tế Để bảo đảm caonhất và đầy đủ nhất cho chính sách đồng thuận xã hội là hiến pháp Hiến pháp được lập ranhằm bảo đảm và bảo vệ quyền con người theo nhiều phương diện
Nguyên tắc Tòa án không được từ chối xét xử là một nguyên tắc quan trọng Gắn liền vớiviệc đề cao vai trò và củng cố sự độc lập của Tòa án và với việc xác lập vai trò kiến tạo luậtcủa Tòa án Nhà nước có trách nhiệm phát triển hệ thống trợ giúp pháp lý, cung cấp nhữngkiến thức chuyên môn, vì không phải cá nhân nào cũng có được những nguồn lực tài chính vàhiểu biết pháp luật để tiếp cận được những thủ tục pháp lý phức tạp
Tất cả các chức vụ và việc tuyển dụng vào các chức vụ trong cơ quan hành chính phải đượccông khai, mở rộng cho mọi đối tượng, dựa trên cơ sở năng lực để đảm bảo tính công bằngtrong lĩnh vực hoạt động hành chính
Trong lịch sử các học thuyết pháp lý, trường phái coi Nhà nước là cái có trước, pháp luật làcái phát sinh từ Nhà nước được gọi là trường phái luật thực định Quan niệm của chủ nghĩathực chứng pháp lý cổ điển không chú trọng nhiều khía cạnh xã hội mà nhấn mạnh đến tínhhình thức, tính kỹ thuật Trong vài thập niên gần đây, chủ nghĩa thực chứng pháp lý mới ởcác nước phát triển đã chủ trương “ mềm hóa” sự cứng nhắc của chủ nghĩa thực chứng cổđiển theo hướng xích lại gần hơn với lý thuyết pháp luật tự nhiên Đây có thể được coi làđiểm nổi bật, có ảnh hưởng sâu rộng trong tư duy pháp lý mới và trong quy trình làm luật tạicác quốc gia
Trong khi đó, trường phái pháp luật tự nhiên là một trường phái học thuyết, quan niệm, phápluật được hiểu là những quy tắc không xuất phát từ Nhà nước mà xuất phát từ lẽ công bằng
và hợp lí của tự nhiên Ngày nay, pháp luật và cách thức điều chỉnh pháp luật đối với mọihành vi xã hội đều phải tự nhiên và sát với cuộc sống, theo kịp nhu cầu cuộc sống với toàn bộ
sự đa dạng và không ngừng thay đổi trong nhu cầu của con người
Từ nhận thức mới về đặc trưng chủ yếu của pháp luật là tính công bằng, phù hợp với lợi íchchính đáng của các chủ thể quan hệ xã hội, tư tưởng về sự công bằng và công lý đã được coi
là tư tưởng pháp luật nền tảng và thiên chức của Tòa án là đưa những tư tưởng đó vào cuộcsống thông qua hoạt động xét xử
Từ thời cổ đại, các vấn đề pháp lý đã được tranh luận, chẳng hạn như mối quan hệ giữa luậtpháp và phong tục, luật pháp và đạo đức, và tôn giáo Quy luật là sự phản ánh cái hiện hữu,cái có thật, cái có sẵn hay cái tất yếu của quy luật Có học thuyết coi pháp luật là lý tưởng cầnđạt tới và hướng tới, tức là pháp lý tưởng Trong lịch sử tồn tại những quan niệm khác nhau
về pháp luật, tạo nên những trường phái đặc thù như trường phái tôn giáo về luật, luật tựnhiên và luật thực tiễn; xã hội pháp luật, triết học pháp luật, tâm lý học pháp luật: quan niệmgiai cấp về pháp luật Hiện nay, quan niệm coi pháp luật là thước đo của tự do và công lýđang là xu thế của thời đại Theo chúng tôi, mỗi trường phái luật đều có ưu điểm và hạn chế,tất cả đều có thể đúng và cũng có thể gây tranh cãi Pháp luật được hiểu và sử dụng theo cảnghĩa khách quan và chủ quan Theo nghĩa khách quan, pháp luật là tổng hòa các quy phạmpháp luật của nhà nước, là trật tự pháp lý của cuộc sống Quy luật khách quan là quy luật
Trang 4thông thường, các chuẩn mực pháp luật được áp dụng chung cho mọi người, không thuộc vềmột cá nhân cụ thể nào Theo nghĩa chủ quan, pháp luật được hiểu là sự thể hiện cụ thể cácquy tắc trừu tượng trong các quyền cụ thể của cá nhân Tự do, khả năng lựa chọn hành vitheo quy định của quy luật khách quan, tức là quy luật chủ quan
GÓP PHẬN NHẬN THỨC VỀ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
–Nguyễn Minh
Đoan-Mở đầu bài viết Nguyễn Minh Đoan giải thích về vai trò và sự ra đời của quyền lực Tác giảcho rằng các tổ chức hoặc cá nhân có thể dùng quyền lực để bắt bên khác phục tùng mình.Bên cạnh đó sự ra đời của quyền lực là từ các nhu cầu của xã hội và đảm bảo xã hội hoạtđộng bình thường Quyền lực thể hiện qua việc chủ thể áp đặt ý chí lên chủ thể dưới quyền.Tuy nhiên mỗi chủ thể có thể nằm trong nhiều mối quan hệ quyền lực khác nhau Do vậytrong quan hệ quyền lực này chủ thể là người có quyền lực nhưng ở quan hệ khác chủ thể cóthể là người dưới quyền Quyền lực nhà nước mang tính ý chí và gắn liền với chủ quyền quốcgia được thể hiện qua những định chế Nó luôn thuộc về và phục vụ cho giai cấp thống trị,biểu hiện cụ thể ở hệ thống các cơ quan, tổ chức nhà nước và những nguyên tắc vận hành Lýthuyết phân chia quyền lực là việc quyền lực nhà nước trung ương chủ yếu được chia thành
ba quyền ( quyền lập pháp, quyền hành pháp và tư pháp ) nhằm tránh tình trạng độc đoán vàchuyên quyền Lý thuyết này dù được sử dụng khá phổ biến ở các nước tư sản nhưng thực tếtình trạng xung đột giữa các nhánh quyền lực vẫn thường xuyên xảy ra Để hạn chế tình trạngnày, các nước xã hội chủ nghĩa được tổ chức quyền lực theo nguyên tắc tập trung thống nhấttrên cơ sở phân công và phối hợp thực hiện quyền lực giữa các cơ quan nhà nước một cáchhợp lý Tác giả đã đưa ra một số quan điểm để nhận thức rõ hơn về những nguyên tắc này:Trước hết, theo quy định của Hiến Pháp và các đạo luật thì ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhânvới giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức Tuy nhiên, quyền lực tối cao được trao cho Quốchội Quốc hội được coi là cơ quan quyền lực cao nhất, thay mặt nhân dân quyết định nhữngvấn đề cơ bản, trọng đại của đất nước Bên cạnh đó, một số cơ quan khác cũng được Quốchội và hội đồng nhân dân trực tiếp và gián tiếp thành lập để cùng với Quốc hội và các cơquan thực hiện quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước ở nước ta luôn đảm bảo sự tập trungthống nhất vào các cơ quan quyền lực nhà nước nhằm tránh hiện tượng mâu thuẫn và xungđột Không những thế, để đảm bảo sự tập trung thống nhất quyền lực từ trung ương đến địaphương, Hiến pháp quy định hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước không phảicủa địa phương mà “của địa phương” mà ở “địa phương”, không chỉ “chịu trách nhiệm trướcnhân dân địa phương” mà còn phải chịu trách nhiệm trước “cơ quan nhà nước cấp trên “màcao nhất là Quốc hội Tuy nhiên, chủ thể trực tiếp mang và thực hiện quyền lực nhà nước làNhà nước chứ không phải nhân dân Nếu cho rằng quyền lực nhà nước nếu tập trung ở nhândân sẽ là chính thể cộng hòa, quyền lực vừa tập trung ở nhân dân vừa tập trung ở cơ quan caonhất Do đó tác giả chỉ ra quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nhưng tập trung ở cơ quanđại diện cao nhất Cuối cùng, dù quyền lực nhà nước nước ta là tập trung thống nhất, khôngphân chia nhưng trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước thì giữa các cơ quan phải có
sự phân công, phối hợp với nhau: Quốc hội thực hiện công việc lập pháp, quyết định nhữngvấn đề trọng đại của đất nước và có quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của nhànước Chính phủ là cơ quan hành pháp, đồng thời chấp hành Quốc hội nhưng quyền công bố
Trang 5luật cũng không thuộc Chính phủ Tòa án là cơ quan tư pháp thực hiện việc xét xử Việc tổchức bộ máy nhà nước như trên sẽ giữ vững được sự tập trung thống nhất quyền lực nhà nướccũng như phát huy tính chủ động, sáng tạo và tránh được tình trạng phân tán, cục bộ, phânquyền cát cứ.
Theo tác giả muốn hoàn thiện hơn bộ máy nhà nước CHXHCNVN cần tập trung vào một sốvấn đề :
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước củanhân dân, nghiên cứu kĩ về vấn đề quyền lực nhà nước để tìm ra được cơ chế tổ chức và thựchiện quyền lực nhà nước đảm bảo sự kiểm soát của nhân dân với quyền lực nhà nước củamình
Cải tiến công tác bầu cử làm cho quá trình bầu cử thật sự dân chủ
Hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng cần phân công chuẩn xác chứcnăng, nhiệm vụ quyền hạn cho các cơ quan nhà nước cũng như xác định rõ mối quan hệ phốihợp giữa các cơ quan nhà nước với nhau, với công dân, với các tổ chức chính trị xã hội khác
mà đặc biệt là với Đảng
Cuối bài viết, tác giả khẳng định quyền lực là vấn đề phức tạp và việc vận dụng lí thuyết vềquyền lực vào thực tiễn tổ chức và thực thi quyền lực lại càng khó khăn và phức tạp hơn Dovậy, việc tiếp tục nghiên cứu để làm rõ các khía cạnh của quyền lực nhà nước và để đạt được
sự thống nhất về nhận thức là rất cần thiết
Theo quan điểm cá nhân của em Nhà nước đã đặt lợi ích của nhân dân làm đầu Sửa đổi lạicác luật theo quyền lợi của nhân dân, hướng tới tâm lý lo lắng sợ hãi của nhân dân về các tệnạn xã hội và cần nhà nước chở che để sửa đổi
Giải thích cho ta hiểu rằng quyền lực nhà nc có thể đc chủ thể có quyền hoặc không có quyền
sử dụng Nền tảng quyền lực thuộc về nhân dân, nông dân và lớp tri thức còn quyền lực tốicao thuộc về quốc hội Tác giả đã cho thấy đc sự phức tạp của quyền lực
Để hiểu rõ các khía cạnh của quyền lực và đạt đc sự thống nhất về nhận thức của quyền lực là
sự cần thiết
Quyền lực nhà nước và việc sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992
Đầu tiên, tác giả trình bày một số hiểu biết về quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước cóthể hiểu là khả năng của nhà nước có thể buộc cá nhân, tổ chức trong nhà nước phải phụctùng Tuy nhiên, sự phục tùng ấy không phải chỉ dựa trên những “ khả năng “từ phía nhànước mà còn bởi những tâm lý lo lắng, sợ hãi trước các hiện tượng bạo lực, tội phạm, mongmuốn được nhà nước chở che Từ đó, tạo điều kiện cho các lực lượng cầm quyền phủ lên trênnhà nước sức mạnh siêu nhiên, vô hình – sức mạnh của thượng đế Trong mối quan hệ giữanhà nước và cá nhân, tổ chức thì nhà nước là chủ thể của quyền lực – quyền lực nhà nước còncác cá nhân, tổ chức là đối tượng của quyền lực ấy Tuy nhiên, trong xã hội, các cá nhân, tổchức phải phục tùng nhà nước nhưng mặt khác nhà nước cũng phải phục tùng nhân dân.Quan hệ giữa nhà nước với nhân dân không chỉ là quan hệ một chiều Trong quan hệ giữanhà nước với cá nhân, tổ chức thì chủ thể này phải phục tùng nhà nước Quan hệ giữa nhândân với nhà nước thì nhà nước phải phục tùng nhân dân
Tác giả cho rằng trong xã hội chủ nghĩa nhân dân là chủ của xã hội, có quyền quyết định mọivấn đề của xã hội, cùng với công cụ quan trọng đó là nhà nước Nhà nước thay mặt nhân dân
Trang 6đứng ra tổ chức và quản lý đời sống với quyền lực nhà nước chính xuất phát từ nhân dân, donhân dân tạo ra Bên cạnh đó, ý chí của nhà nước phải phù hợp với nhân dân, mặt khác, nhândân phải kiểm soát việc thực hiện ý chí của nhà nước Do vậy cần phải có trưng cầu ý dântrong các vấn đề hay có các cơ quan đại biểu thay mặt nhân dân kiểm tra, giám sát các hoạtđộng của nhà nước Tác giả cũng cho rằng quyền lực ấy có thể sử dụng để tổ chức và quản lýđời sống xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa đem lại lợi ích cho xã hội và cũng có thể chỉ chomột bộ phận nhỏ dân cư và trấn áp những người nuôi dưỡng nó Đó chính là bản chất của giaicấp Tóm lại, nhân dân khi thực hiện quyền lực sẽ sử dụng nhà nước làm công cụ Vì thế nhànước cần phải có quyền lực dù cho quyền lực nhân dân vẫn là tối thượng.
Cơ chế vận hành quyền lực nhìn chung là : chủ thể quyền lực thể hiện ý chí, đối tượng quyềnlực, bằng hành vi của mình thực hiện nội dung ý chí ấy Để đảm bảo các đối tượng thực hiệnchính xác nội dung ý chí nhà nước, cơ chế vận hành phải bao gồm các khâu: thể hiện ý chínhà nước; cụ thể hóa, chi tiết hóa và cá biệt hóa nội dung ý chí và xử lý vi phạm xảy ra Bakhâu này tương ứng là lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo Montesquyeu, nêu cả ba đềunằm trong tay nhà vua sẽ nảy sinh sự lạm quyền, độc tài Do vậy lập pháp, hành pháp, tưpháp phải giao cho ba cơ quan khác nhau đảm nhiệm : lập pháp nên giao cho nghị viện, tưpháp thuộc về tòa án, hành pháp nên giao cho chính phủ Tuy nhiên, chỉ có sự phân chia cácmắt, khâu trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước chứ không thể được chia thành quyềnlập pháp hành pháp hay tư pháp Tác giả cũng giải thích rằng quyền lực nhà nước phải đượctập trung vào trung ương, quy về trung ương chứ không cát cứ, tản mạn
Tác giả đồng thời cũng đưa ra một số vấn đề liên quan:
Thứ nhất, tác giả đưa ra phương án sửa đổi điều 2 Hiến pháp 1992 từ “tất cả quyền lực nhànước thuộc về nhân dân” thành “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” Vì không phải tất cảquyền lực trong xã hội đều thuộc về nhân dân, nhưng quyền lực của nhân dân luôn là tối cao.Vậy nên điều 2 Hiến pháp 1992 nên được sửa lại là :” quyền lực tối cao trong xã hội thuộc vềnhân dân”
Thứ hai, điều 6 Hiến pháp năm 1992 quy định :” nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thôngqua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp” nên được sửa là :” nhân dân thực hiện quyền lựccủa mình chủ yếu thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân”
Thứ ba, Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp thay mặt nhân dân xây dựng Hiến pháp vàđảm bảo thi hành nghiêm chỉnh Bên cạnh đó, còn giám sát các hoạt động của bộ máy nhànước, cơ quan nhà nước ở địa phương Vì thế, dù do nhân dân bầu ra nhưng Quốc hội và hộiđồng nhân dân các cấp được coi là cơ quan quyền lực nhà nước Hiến pháp quy định hôi đồngnhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân thì chỉthể hiện chức năng của cơ quan quyền lực nhân dân Vì thế theo tác giả điều 119 Hiến phápnăm 1992 nên sửa lại là “ Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng vàquyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệmtrước nhân dân địa phương và cơ quan đại biểu nhân dân cấp trên” Tác giả cũng chỉ ra cầntăng cường chức năng giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân Và để làm được điều đó,đại biểu các cơ quan không thể đồng thời là thành viên các cơ quan khác
Thứ tư, tác giả cho rằng quyền lực nhà nước không thể tập trung ở nhân dân vì đó là cộngđồng người rất lớn Và cũng không thể tập trung ở Quốc hội vì Quốc hội cũng chỉ tham giavào một mắt, khâu nhất định trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, chỉ thực hiện quyềnlập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng cơ bản của đất nước Quốc hội thực hiện cácchức năng và nhiệm vụ với tư cách cơ quan quyền lực nhân dân
So sánh sự giống và khác giữa các tác giả
Trang 7Giống nhau:
Hai tác giả đều cho rằng: Quyền lực nhà nước được xem là khả năng của nhà nước có thểbuộc các cá nhân hay tổ chức khác phải phải phục tùng ý chí của mình và quyền lực này đượcthể hiện trong các mối quan hệ xác định Nhà nước là bộ máy quyền lực, được nhân dân ủyquyền, do nhân dân tổ chức, thay mặt nhân dân đứng ra quản lý đời sống cộng đồng
Đồng khẳng định quyền lực nhà nước là tập trung thống nhất, là sự kiềm chế, kiểm soát vàphối hợp với nhau để tạo nên tính thống nhất Để tránh sự chuyên quyền, cát cứ, phân lập thìcác quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phải được giao cho các cơ quan khác nhau
Quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện ủy quyền cho Quốc hội và Hộiđồng nhân dân Từ đó, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cơ quan đại diện cho ý chí vànguyện vọng của nhân dân, do nhân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Như vậyquyền lực tối cao thuộc về Quốc hội, Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng, nếu cầnthiết thì phải tìm cách trưng cầu ý dân
Cuối cùng, hai tác giả đều khẳng định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhândân, Quốc hội giao quyền hành pháp cho Chính phủ, tư pháp cho tòa án, Viện kiểm sát thì chỉkiểm sát các cơ quan cấp bộ trở xuống
Khác nhau:
ThS NGUYỄN MINH
ĐOAN Tác giả NGUYỄN VĂN NĂM
Quyền lực nhà nước luôn thuộc
về giai cấp thống trị, chủ yếu
phục vụ lợi ích của giai cấp
thống trị
Trong mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân thì nhà nước
là chủ thể của quyền lực còn nhân dân là đối tượng củaquyền lực Mặt khác thì nhân dân có thể để nhà nước tồn tạicũng có thể phá bỏ nó Như vậy quyền lực thuộc về nhândân còn nhà nước là đối tượng của quyền lực này
Quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân và nhân dân sử dụng
thông qua Quốc hội và Hội đồng
nhân dân
Nhà nước là chủ thể của Quyền lực nhà nước; trong khi đónhân dân có Quyền lực nhân dân và là quyền lực tối thượng
Quyền lực nhà nước có thể phân
chia được theo đơn vị lãnh thổ
giữa trung ương và địa phương
hoặc giữa các cơ quan nhà nước
theo chiều ngang
Quyền lực nhà nước không có sự phân chia mà đó là “sựphân công lao động quyền lực” giữa các cơ quan nhà nước
Trang 8Bàn về tính thống nhất của quyền lực nhà nước và sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
-Lê Minh
Tâm-Giáo sư, tiến sỹ - Lê Minh Tâm đã trình bày những khái niệm về quyền lực và quyền lực nhànước một cách chi tiết Từ đó, ông đã làm rõ tính thống nhất của quyền lực nhà nước và sựphân công, phối hợp trong việc thực hiện các quyền cũng như sự phân định tương đối củaquyền lực nhà nước, giới hạn, tương tác giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.Đầu tiên về khái niệm quyền lực Có thể thấy rằng quyền lực được sinh ra từ nhu cầu tổ chứchoạt động chung, nhu cầu lao động xã hội và quản lí xã hội Và quyền lực thể hiện mối quan
hệ chỉ huy – lệ thuộc hoặc mệnh lệnh – phục tùng Cũng giống với quyền lực nhà nước, nómang tính tương tác xã hội, tính mục đích, tính cưỡng ép và tính chính đáng Nhưng sự khácnhau giữa hai quyền lực kể trên là quyền lực nhà nước gắn liền với sự ra đời của nhà nước,theo đó nhà nước được áp đặt ý chí và buộc những chủ thể trong xã hội phải phục tùng mệnhcủa mình nhằm duy trì xã hội Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước vàquyền lực xã hội luôn thống nhất với nhau
Có nhiều quan điểm cho rằng sự thống nhất của quyền lực nhà nước tập trung vào Quốc Hộibởi vì Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất cho dân nhân bầu ra Nhưng quan điểm đó cũng
có những điểm không hợp lý thể như thiếu sự phân định phạm vi quyền lực nhà nước giữacác cơ quan nhà nước, nhất là thiếu sự kiểm soát quyền lực nhà nước đối với quyền lập pháp
Vì thế, ta cũng có thể hiểu tính thống nhất theo một cách là thống nhất quyền lực nhà nước làtoàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tập trung ở nhân dân chứ không thuộc vềQuốc hội Cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp mặc dù có chức năng nhiệm vụ khácnhau nhưng đều thống nhất với nhau ở chính trị chung là xây dựng nhà nước phát triển, dânchủ dân minh
Về việc phân công, phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thì như tóm tắt ởtrên, quyền lực nhà nước là do dân nhân chủ quyền Do nhân dân tuy có quyền lực nhưngkhông thể thực hiện trực tiếp nên phải ủy quyền cho nhà nước Xã hội ngày càng phát triển,nhu cầu quản lí ngày càng cao nên việc phân định ba quyền là cách thức cần thiết để phát huyvai trò của nhà nước trong công cuộc xây dựng đất nước Do quyền lực nhà nước là thốngnhất nên cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp luôn đi cùng nhau chứ không tách rờinhau, hoạt động cùng nhau Việc phân công quyền lực nhà nước nhằm mục đích đảm bảotính pháp quyền của nhà nước và mang tính xã hội chủ nghĩa, ngoài ra còn phân định nhiệm
vụ quyền hạn cũng như giới hạn của bộ máy nhà nước để nhà nước làm việc có hiệu quả vàngày càng phát triển hơn
Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
-Nguyễn Minh
Đoan-Nguyên tắc quyền lực nhà nước là một khái niệm cơ bản phác thảo sự phân chia thẩm quyền
và sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ khác nhau trong việc thực hiện các quyền lập
Trang 9pháp, hành chính và tư pháp Nguyên tắc này đảm bảo quyền lực nhà nước được thực hiệnmột cách thống nhất và có tổ chức, từ đó giúp duy trì sự ổn định và trật tự xã hội Bằng cáchphân chia các chức năng khác nhau của nhà nước cho các cơ quan, bộ phận khác nhau,nguyên tắc quyền lực nhà nước cho phép mỗi cơ quan chuyên môn hóa và tập trung vào cáctrách nhiệm cụ thể của mình, do đó nâng cao hiệu quả và hiệu quả trong việc cung cấp cácdịch vụ của nhà nước cho người dân Đồng thời, nguyên tắc quyền lực nhà nước còn đảm bảocác cơ quan nhà nước phối hợp với nhau một cách thống nhất, đa dạng hóa công việc và tối
đa hóa trong việc sử dụng các nguồn nhân lực xã hội
Mọi xã hội đều phải đối mặt với câu hỏi làm thế nào để giải quyết tranh chấp Nhiều xã hội
sơ khai đã chọn một hệ thống trả thù riêng để giải quyết tranh chấp, nhưng khi các nền vănminh phát triển, các cộng đồng bắt đầu chỉ định các tổ chức giải quyết tranh chấp một cáchhợp pháp, theo cách chuẩn mực và tuân theo hiến pháp Từ những đòi hỏi khách quan trên,quyền lực nhà nước thường được định lượng bằng các quy định của Hiến pháp để phân địnhnhiệm vụ, quyền hạn của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhờ có sự phân địnhnhư vậy mà nhân dân sẽ có thể đánh giá được hiệu quả các công việc mình đã đưa cho các cơquan mà không sợ bị lạm quyền vì nhân dân không thể giải quyết các quyền của nhân dân Mục đích của việc phân công, phối hợp quyền lực nhà nước là nhắm kiểm soát nhà nước,đảm bảo cho tính pháp quyền của nhà nước và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa Một đấtnước muốn phát triển bền vững và bền lâu thì sự chỉ huy thì cần có sự liên kết của các tổchức thiết chế và các nhánh quyền lực nhà nước với nhân dân về tính pháp quyền Phân côngnhiệm vụ quyền hạn cho Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân nhìn chung cũng là để đápứng các yêu cầu quản lí xã hội và tận dụng nguồn nhân lực một cách hợp lí cũng là cơ sở đểkiểm soát nhà nước
Tóm lại, nguyên tắc quyền lực nhà nước là một thành phần quan trọng của quản trị tốt, vì nócung cấp một khuôn khổ cho việc phân phối và phối hợp quyền lực trong nhà nước, cho phépnhà nước phục vụ hiệu quả nhu cầu của người dân Việc phân công, phối hợp giữa các cơquan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng nhằm bảo đảm rằngnhà nước mang tính thống nhất và thuộc về dân, do dân làm chủ vì những nước duy trì được
sự ổn định lâu dài về kinh tế - xã hội là những nước tuân theo tinh thần pháp quyền
Về vai trò và chức năng của nhà nước
-Nguyễn Thị
Hồi-Có thể nói, từ trước đến nay sự cải cách trong việc tổ chức hoạt động bộ máy Nhà nước taluôn là một vấn đề quan trọng Điều đó sẽ thể hiện được việc Nhà nước có đang hoạt độnghiệu quả hay không, có điều gì cần chú ý để sửa đổi hoặc nâng cao lên để ngày càng pháttriển Vai trò của Nhà nước rất quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế, xã hội để đấtnước ngày càng thành công hơn Xã hội là cơ sở cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhànước Trong xã hội, vai trò của nhà nước sẽ được thể hiện chủ yếu qua việc đề ra các chủtrương, đường lối, các chính sách, chiến lược phù hợp để phát triển đất nước Qua các giaiđoạn thì vai trò của nhà nước ngày càng phát triển, đi lên hơn Ban đầu, vai trò của nhà nướcthấp hơn nhiều so với hiện nay, tính giai cấp thể hiện rõ vì nhà nước chỉ thực hiện chức năngtrấn áp để thống trị giai cấp Bước ngoặt về vai trò của nhà nước đối với xã hội đã được đánhdấu sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Cách mạng tháng Mười Nga đã xoá bỏ chế độ sở hữu
Trang 10tài sản tư nhân, nhà nước có quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế Tiếp đến là việc suythoái kinh tế năm 1930 và sự sụp đổ các đế chế ở châu u sau chiến tranh thế giới thứ hai đãlàm nhà nước thay đổi chính sách Kế hoạch tập trung, can thiệp và phân bổ tài nguyên, kiểmtra ngành công nghiệp là một trong việc quan trọng của nhà nước Nhà nước đóng vai trò cốtlõi trong việc thúc đẩy phát triển lâu dài qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng, an ninh và môitrường kinh tế ổn định Sự quản lý của nhà nước vô cùng cần thiết trong nền kinh tế thịtrường hiện tại nhằm kiểm soát sự vận hành Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế ởhiện tại, việc hợp tác giữa các quốc gia và doanh nghiệp để phát triển hơn đồng thời họ cũngphải chịu sự cạnh tranh, ganh đua, lúc này vai trò quản lý của nhà nước vô cùng cần thiết.Nhà nước ban hành và tổ chức thông qua các chính sách, tiền tệ, thuế, để can thiệp vào nềnkinh tế trong quốc gia Nhà nước cũng thành lập các cơ quan với trách nhiệm điều tiết, quản
lý kinh tế Đảm bảo về việc phân hoá giàu nghèo, thu thuế, lương lao động, phòng chống cácdịch bệnh hiệu quả hay là bảo vệ môi trường
Về phần chức năng của nhà nước, chức năng nhà nước xuất phát từ bản chất, vai trò đối với
xã hội của nhà nước và những nhiệm vụ cơ bản của nó Và những yếu tố trên có sự thay đổinhất định trong các nhà nữa khác nhau và qua các giai đoạn phát triển của nhà nước nên chứcnăng của nhà nước cũng có sự biến động theo các yếu tố đó Bên cạnh đó, chức năng của nhànước có mối quan hệ khá chặt chẽ với nhiệm vụ của nhà nước và mối quan hệ ấy có sự thayđổi theo từng loại nhiệm vụ Tùy theo tính chất của chúng mà nhiệm vụ nhà nước được chialàm hai loại Thứ nhất, nhiệm vụ cơ bản, chiến lược hay lâu dài Hai là, nhiệm vụ cụ thể, cấpbách, trước mắt; Tiếp đến, chức năng của nhà nước rất đa dạng và phong phú nên có thể phânloại theo nhiều cách khác nhau Đối với, Trong khoa học pháp lý nước ta có một cách phânloại phổ biến và truyền thống là căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước để chia chứcnăng nhà nước thành hai loại: Một là các chức năng đối nội, tức là những mặt hoạt động chủyếu của nhà nước trong nội bộ đất nước Hai là chức năng đối ngoại, tức là nữa hoạt động cơbản của nhà nước thể hiện mối quan hệ giữa nó với các quốc gia, dân tộc khác như phòng thủđất nước để chống xâm lược, tiến hành chiến tranh xâm lược để bành trướng thế lực, mở rộngthị trường và nô dịch các dân tộc khác… Và ta cũng có thể phân loại các chức năng của nhànước theo một số cách khác: Đầu tiên, nếu căn cứ vào các lĩnh vực hoạt động của nhà nước,
có thể chia chức năng của nó thành các chức năng như: chức năng kinh tế nhằm điều tiết,quản lý nền kinh tế của đất nước ; chức năng xã hội nhằm giải quyết nữa vấn đề chung vì sựphát triển của xã hội, chức năng quốc phòng để chống xâm lược, bảo vệ độc lập, chủ quyềncủa đất nước… Thứ hai, nếu căn cứ vào mục đích hoạt động của nhà nước có thể chia chứcnăng của nó thành hai loại là chức năng tổ chức và quản lý Bao gồm một số chức năng cụthể như: chức năng kinh tế, xã hội , thiết lập các mối quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế…;chức năng bảo vệ như bảo vệ tổ quốc, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội Ngoài ra, nếucăn cứ vào khả năng và mức độ tác động của nhà nước tới xã hội thì có thể chia chức năngcủa nó thành các loại: chức năng tối thiểu, chức năng trung gian, chức năng tích cực
Thế giới đang biến đổi và tư duy mới về ‘bàn tay nhà nước’
-Nguyễn Minh
Trang 11Phong-Sự sụp đổ bất ngờ và nhanh chóng của hệ thống kinh tế hoá tập trung cao độ của Liên Xô vàkhủng hoảng kinh tế phố Wall là hồi chuông cảnh bảo cho 1 thế giới đang thay đổi, đòi hỏi 1
tư duy mới thích ứng về “bàn tay quản lý kinh tế của Nhà nước”
Vậy thế giới đã thay đổi như thế nào? Đầu tiên, xu thế đối thoại vừa cạnh tranh, vừa hợp táckhiến cho hệ thống sản xuất, thương mại và tài chính quốc gia ngày càng được mở rộng vàquốc tế hoá Đồng thời, sẽ ngày càng đậm nét hơn xu thế hội tụ và “đồng nhất hoá” giữa cáckhối kinh tế cũng như các quốc gia về mô thức tổ chức, môi trường và nguyên tắc quản lý kinh
tế chủ yếu trong nước, khu vực và cả toàn cầu
Tăng cường quá trình tái cấu trúc mới, đa dạng hoá về đa cực và trung tâm, mô hình, động lực
và mục tiêu phát triển phương hóa việc quản lý và giải quyết các vấn đề của mỗi quốc gia cũngnhư quốc tế là sự biến đối tiếp theo của thế giới Sự biến đổi này làm cho các sản phẩm hànghoá dịch vụ ngày càng đa dạng và rẻ hơn dẫn đến vai trò của thông tin ngày càng quan trọng vàtrở thành nhân tố quyết định sự thành bại của cá nhân, doanh nghiệp và của cả quốc gia Cáccông ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn do có ưu thế vượt trội trong việc huy độngnguồn vốn Hình thức chia cổ phần còn là biểu hiện mới và sẽ là mô hình hiệu quả nhất so vớibất kì loại hình doanh nghiệp nào khác Các nền kinh tế quốc gia và quốc tế sẽ chuyển dịchtheo hướng thu hẹp và mất dần đi các ngành khai thác, chế biến nguyên liệu truyền thống vàhàng loạt ngành sản xuất mới sẽ xuất hiện và phát triển mạnh mẽ hơn Đồng thời các ngànhdịch vụ sẽ dần chiếm tỉ trọng lớn và đem lại nhiều lợi nhuận Các công nghệ mới, xa lộ thôngtin ngày càng phát triển trên phạm vi toàn cầu đẩy nhanh hơn tốc độ lưu chuyển, các yếu tố táisản xuất kinh tế-xã hội Con người sẽ có tri thức toàn diện hơn, đô thị hoá sẽ tăng nhanh dẫnđến các cấu trúc chính trị và giao lưu văn hoá-xã hội sẽ chuyển dịch tương ứng “Nền kinh tếnợ” sẽ trở thành đặc trưng của mọi công ty ở mọi quốc gia kéo theo những xung lực tiềm ẩngây bất ổn định tài chính- tiền tệ ở quốc gia và quốc tế Tuy vậy, chu kỳ kinh tế tư bản khôngdần mất đi mà sẽ có sự rút ngắn, những cuộc khủng hoảng chu kỳ mang tính quốc tế rất caovới những nguyên nhân rất đa dạng đòi hỏi phải có những giải pháp Để chống khủng hoảngChính phủ các nước tuân theo các công thức: 1 là mở rộng nhu cầu xã hội thông qua nới lỏngchính sách tài chính- tín dụng, hai là khai thác thị trường quốc tế, ba là điều chỉnh hướng nănglực sản xuất và cơ cấu sản phẩm cung ứng sao cho phù hợp cầu hoặc kích thích lượng cầu mới
có khả năng thanh toán cao
Thế giới đang bước vào thời đại kinh tế mới, kinh tế thị trường có điều tiết thích hợp của chínhphủ Trong đó, yêu cầu cao hơn về tăng cường vai trò của pháp luật, chế tài, điều tiết nhà nước,kiểm soát thể chế thị trường, thắt chặt cho vay tín dụng, thiết lập hệ thống thông tin công khai,minh bạch, phát triển các công cụ dự báo, cảnh báo và trừng phạt các sai trái, gian lận… Chính
vì thế, tư duy mới về “bàn tay Nhà nước” đang và sẽ ngày càng trở nên rõ nét, bao quát và chiphối toàn diện các hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội quốc gia và quốc tế
với các biểu hiện chủ yếu sau: 1 không duy ý chí, giáo điều, cực đoan hoặc quá nhấn mạnh
tuyệt đối hoá vai trò chỉ huy tập trung, mang tính áp đặc một chiều của Nhà nước 2 chủ động tham khảo, đan xen và phối hợp chính sách giữa các quốc gia trong khu vực, cũng như toàn cầu hoá với mức tăng tiến cùng chiều với sự gia tăng khối lượng trao đổi quốc
tế song và đa phương 3 Nhà nước có vai trò ngày càng to lớn trong cuộc chiến chống với các chấn động cơ cấu hoặc chu kỳ kinh tế bộc phát nhất là khủng hoảng kinh tế tài chính- ngân hàng dù là diễn ra trong nước hay nước ngoài, đồng thời là vai trò công tác thông tin, dự báo là giám sát, cảnh báo an toàn 4 “Bàn tay” điều chỉnh của nhà nước cần chuyển dịch theo hướng giảm can thiệp hành chính, trực tiếp để chuyển sang hình thức can thiệp gián tiếp Tóm lại, thế giới mới đang định hình, đòi hỏi tư duy mới thích ứng về bàn tay bàn tay quản lý của Nhà nước trong khi thực hiện các nguyên tắc kinh tế thị
Trang 12trường, tránh các thái cực cực đoan , phiến diện trong nhận thức , tăng cường sự chi phối hợp đồng bộ các công cụ và cấp độ quản lý, giám sát chặt chẽ và chủ động xử lý kịp thời các tác động mặt trái của chính sách lựa chọn trong thực tiễn bằng hợp lực của sức mạnh
tổ chức và tài chính của trong và ngoài Nhà nước.
Thực tế cho thấy, “bàn tay Nhà nước” Việt Nam về cơ bản đã bắt kịp được với xu thế chungcủa thế giới, nhờ đó đã góp phần chèo lái đúng hướng và vững vàng con thuyền kinh tế ViệtNam vượt qua bao thách thức to lớn Tuy vậy, để nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả kinh
tế Nhà nước đối với quá trình kinh tế-xã hội ở nước ta, vượt qua các cuộc khủng hoảng trongmột thế giới đang biến đổi toàn diện và nhanh chóng, liệu pháp “bàn tay Nhà nước” ở ViệtNam cần được hoàn thiện theo một số phương hướng như sau: 1 Tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận
và thực tiễn về một số vấn đề lớn và mới trong chủ trương phát triển và quản lý nhà nước 2Tôn trọng yêu cầu khách quan của các quy luật và quy trình quản lý kinh tế, các cam kết hộinhập và sự hài hoà các lợi ích phát triển, không ngừng cải thiện môi trường kinh doanh 3 Coitrọng công tác dự báo, thông tin, phản biện chính sách trong quản lý nhà nước 4 Đảm bảo sựgắn kết, hài hòa giữa phát triển kinh tế với quan tâm phát triển văn hoá, giải quyết các vấn đềbức xúc xã hội-môi trường, nâng cao chất lượng và yêu cầu phát triển bền vững
Quan niệm về pháp luật: Một vài suy nghĩ
-Hoàng Thị Kim
Quế-Bàn về khái niệm pháp luật, pháp luật là gì, các quan niệm và cách tiếp cận khác nhau vềpháp luật, sự nhận thức, đánh giá, đánh giá và vận dụng pháp luật trong đời sống rất xưa, nay,vừa quen vừa lạ
Pháp luật là một hiện tượng xã hội phức tạp, có nhiều biểu hiện Từ những thập kỷ cuối củathế kỷ trước, các luật gia Liên Xô đã giải quyết vấn đề nhận thức pháp luật và định nghĩapháp luật Từ năm 1975, Giáo sư E A Lykaseva đã đề cập đến các quan niệm pháp luật khácnhau liên quan đến việc áp dụng các khái niệm này, tính tương đối và giới hạn của bất kỳđịnh nghĩa pháp lý nào Theo giáo sư O.E Leyxo, rất khó để đạt được một định nghĩa chung
về pháp luật vì pháp luật là một hiện tượng xã hội đặc biệt phức tạp Từ xa xưa, nhà triết họcngười Đức Kanto đã nhận xét: các luật gia luôn đi tìm một định nghĩa về luật, câu nói nàyvẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay
Trong suốt chiều dài lịch sử, người ta luôn tranh cãi về một câu hỏi lớn, pháp luật là gì, thếnào được coi là pháp luật, chủ nghĩa pháp chế, từ lý luận đến thực tiễn, từ các góc độ khácnhau, người ta có những quan niệm và cách nhìn nhận khác nhau về pháp luật Nó bắt nguồn
từ đâu và mục đích tồn tại của pháp luật là gì? Từ thực tiễn đến lý luận cổ đại, các hoàng đế,
dù nói ngôn ngữ nào, cai trị ở đâu, đều tuyên bố một điều: “Pháp là ta, ta là luật” Khi buộcphải thi hành luật nhân danh trật tự công cộng, điều này được coi là "luật là sự đau khổ cầnthiết" Từ quan điểm về mối quan hệ của nó với đạo đức, pháp luật được xác định: pháp luật
là một hiện tượng đạo đức Từ góc độ công lý và tự do, pháp luật là lượng công lý, lượng tự
Trang 13do Tiếp cận theo quan điểm chức năng, pháp luật được xác định là công cụ - phương tiệnđiều chỉnh hành vi và quan hệ xã hội.
Quan niệm vật chất về pháp luật tức pháp luật thực định là hệ thống các quy phạm được banhành và tồn tại chính thức trong xã hội Pháp luật là hiện tượng xã hội phức tạp, đa dạng.Điều quan trọng trong nhận thức về pháp luật không chỉ ở nội dung mà còn ở các hình thứcthể hiện của nó Phải nghiên cứu, đánh giá cả đầu vào, đầu ra, cả pháp luật ở trạng thái tĩnh
và trạng thái động của pháp luật Theo quan niệm rộng về pháp luật, pháp luật thực định chỉ
là một bộ phận của pháp luật Khái niệm pháp luật thực định, tư duy về pháp luật thực địnhcũng đã hàm ý nói lên rằng, ngoài pháp luật thực định ra còn có những bộ phận khác củapháp luật, cũng thuộc phạm trù pháp luật rộng lớn Khoa học pháp lý không những chỉ phântích hệ thống pháp luật mà còn phải đưa ra những tiêu chí đánh giá pháp luật Do vậy, bêncạnh những quan điểm pháp luật thực định (phân tích pháp lý) còn phải đưa ra hệ thống cáctiêu chí đánh giá pháp luật, pháp luật cần phải như thế nào, tiêu chí để phân biệt cái xấu, cáitốt của pháp luật trong tất cả các lĩnh vực pháp luật Trên đây là những vấn đề có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng trong nhận thức pháp luật và cơ sở để xác định khái niệm, định nghĩa phápluật Hiện nay đang có những quan điểm cho rằng định nghĩa truyền thống lâu nay của chúng
ta về pháp luật cần phải được xem xét lại Về vấn đề này chúng tôi có ý kiến như sau Tuy
được diễn đạt không hoàn toàn giống nhau ở các ấn phẩm khoa học, song về cơ bản, định nghĩa truyền thống của chúng ta về pháp luật xưa nay là: pháp luật là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra hay thừa nhận thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị xã hội, có tính bắt buộc chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo đường lối của nhà nước.
Định nghĩa truyền thống này vẫn đúng, không sai nhưng chưa đầy đủ, chưa hoàn toàn phù hợp với xã hội đương đại Về định nghĩa pháp luật, trước hết theo chúng tôi, cần đi từ các xác định định nghĩa pháp luật Nhìn lại định nghĩa truyền thống này có thể thấy rằng, trong định nghĩa đó các thuộc tính cơ bản của pháp luật, xuất xứ trực tiếp của pháp luật và mục đích của pháp luật đã cố gắng được đưa vào Định nghĩa về pháp luật như là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hay thừa nhận… mới chỉ đề cập pháp luật thực định.
Và, điều này cũng là một trong những lý do chủ yếu làm nên sắc thái đặc thù của chúng ta trong nghiên cứu, đánh giá, áp dụng, giảng dạy, học tập luật là nặng về phân tích quy phạm pháp luật
Theo chúng tôi, bất kỳ một định nghĩa nào về pháp luật cũng đều mang tính tương đối vì khó
có thể bao quát hết các thuộc tính của pháp luật, các biểu hiện đa dạng của pháp luật, các yếu tố có giá trị pháp luật Cần có một định nghĩa pháp luật cả về phương diện nội dung xã hội và hình thức pháp lý Một định nghĩa pháp luật mang tính chính thức, phù hợp với chúng
ta hiện nay và như trên đã đề cập cũng chỉ là tương đối, theo chúng tôi là: “pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, được xác định chặt chẽ về hình thức thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu, các lợi ích của toàn xã hội, được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì sự trật tự, ổn định, phát triển bền vững của xã hội; bảo đảm và bảo vệ các quyền con người” Thể hiện được những thuộc tính đặc trưng nhất của pháp luật
và mục đích điều chỉnh của pháp luật trong xã hội hiện đại Đồng thời, cũng cần bổ sung các thành tố khác trong quan niệm pháp luật cho phù hợp với cuộc sống quốc gia và quốc tế.
Trang 14Nhận thức về mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức
- Nguyễn Văn Năm-
Bài viết đã chỉ ra được mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật từ đó chỉ ra được những điểmgiống, khác nhau và sự tác động qua lại giữa đạo đức và pháp luật; đồng thời khẳng định vịtrí, vai trò của đạo đức và pháp luật là những công cụ rất quan trọng để quản lý xã hội
Đầu tiên là những đặc điểm giống nhau cơ bản giữa đạo đức và xã hội Trước hết, đạo đức vàpháp luật là những phương tiện điều chỉnh quan trọng bậc nhất đối với các quan hệ xã hội;đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển trong ổn định, trật tự Từ đó, cùng với các công cụkhác mà trật tự xã hội được thiết lập, củng cố và duy trì, hạn chế sự phát triển và đi tới loại bỏnhững mối quan hệ xã hội không phù hợp hoặc trái với những lợi ích hiện tại Thứ hai, cả đạođức và pháp luật đều mang tính quy phạm phổ biến, tác động lên tất cả các cá nhân, tổ chức
và hầu hết các lĩnh vực trong đời sống Thứ ba, Thứ ba, giữa pháp luật và đạo đức luôn cónhững sự phù hợp nhất định, “đạo đức của một cồng đồng bao hàm pháp quyền của nó; phápquyền của một cộng đồng là đạo đức tối thiểu của nó” Thứ tư, pháp luật và đạo đức đềuthuộc phạm trù ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhấtđịnh của lịch sử Mặt khác, có thể nói rằng pháp luật và đạo đức đều thuộc kiến trúc thượngtầng, chịu sự chi phối của cơ sở hạ tầng và tác động ngược lại chúng Cuối cùng, trong xã hội
có giai cấp, cả pháp luật và đạo đức đều vừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội
Hai là những điểm khác nhau cơ bản giữa pháp luật và đạo đức Con đường hình thành phápluật chỉ có thể thông qua con đường xây dựng pháp luật của nhà nước, đạo đức lại hình thànhtrên cơ sở tự phát hoặc do các cá nhân tiêu biểu trong xã hội hoặc do các thiết chế xã hộikhác Hình thức thể hiện của đạo đức khá phức tạp bao gồm hai hình thức chính là khôngthành văn (ca dao, tục ngữ ) và thành văn (các kinh sách tôn giáo, chính trị, các thiết chế xãhội khác) Còn pháp luật hình thức thể hiện dù thành văn hay không thành văn thì luôn thểhiện dưới dạng xác định và xu hướng chung ngày càng tồn tại phổ biến dưới dạng các vănbản quy phạm pháp luật Về tính xác định của hình thức, pháp luật có tính xác định về hìnhthức chặt chẽ hơn đạo đức Tính chặt chẽ của pháp luật có thể cho chủ thể biết trong điềukiện nào họ được làm gì, phải làm gì, không được làm gì và những hậu quả họ phải gánh chịunếu như phạm phải Ngược lại, tính xác định hình thức trong đạo đức là những quan điểm,quan niệm mang tính khái quát, hình thành trên cơ sở đa dạng và phức tạp và thường không
có những biện pháp chế tài như pháp luật Về phạm vi điều chỉnh, đây là phạm vi còn gâynhiều tranh cã song theo tác giả, phạm vi điều chỉnh của đạo đức rộng hơn pháp luật bởi phápluật chỉ điều chỉnh những mối quan hệ xã hội mang tầm quan trọng nhất định, điều chỉnhhành vi con người đến một mức xác định còn đạo đức lại điều chỉnh cả các mối quan hệ xãhội mà chủ thể của nó là những con người có tình cảm, cảm xúc, lý trí; điều chỉnh hành vicon người bất kể độ tuổi hay địa vị xã hội nào
Pháp luật và đạo đức xã hội
-Nguyễn Thị Ngọc
Mai-Bài viết “Pháp luật và đạo đức xã hội” của giáo sư Nguyễn Thị Ngọc Mai trình bày những
vấn đề cơ bản nhất về pháp luật và đạo đức xã hội thông qua những điểm tương đồng, sự
Trang 15khác biệt cũng như mối quan hệ giữa chúng Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng caohiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội của pháp luật và đạo đức xã hội.
Pháp luật được hiểu là phép tắc do nhà nước đặt ra để quy định hành vi của con người, là hệthống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ýchí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội,được đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định,
vì sự phát triển bền vững của xã hội
Về nguồn gốc, pháp luật là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan vừamang tính chủ quan Pháp luật không đơn thuần chỉ là ý chí của lực lượng cầm quyền mà còn
là sự phản ánh tập trung các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, là biểu hiện cácquan hệ lợi ích của nhóm cộng đồng người trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định.Pháp luật có những dấu hiệu (thuộc tính, đặc trưng) mà các loại quy phạm khác không cónhư: tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, tính quy phạm phổ biến, tính được đảm bảo bởiNhà nước, Trong đời sống xã hội, pháp luật được đánh giá là công cụ quản lý quan trọng,hiệu quả và không thể thiếu của bất kỳ một Nhà nước nào
Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi,quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Là chuẩn mực ứng xử của con người,đạo đức có vai trò chi phối, tác động tới hành vi của con người trong các mối quan hệ vớicộng đồng nói chung Như vậy, đạo đức là một phạm trù mang tính cá nhân vừa mang tính xãhội Về vai trò, đạo đức vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách, lối sống củacộng đồng cũng như của mỗi cá nhân Bên cạnh việc giúp con người hình thành nhân cách cánhân, đạo đức cũng góp phần quan trọng trong việc củng cố, duy trì sự ổn định, trật tự tronggia đình và xã hội
Bàn về những điểm giống nhau cơ bản giữa Pháp luật và Đạo đức, thứ nhất, pháp luật và đạođức đều là công cụ điều chỉnh xã hội, là chuẩn mực, khuôn mẫu cho hành vi của các cá nhân,
tổ chức Thứ hai, pháp luật và đạo đức đều hình thành trên cùng một nền tảng cơ sở kinh tế
xã hội Thứ ba, trong nhiều trường hợp cả pháp luật và đạo đức đều vừa phục vụ cho lợi íchcủa giai cấp cầm quyền vừa phục vụ cho lợi ích của xã hội nói chung
Bàn về những điểm khác nhau cơ bản giữa pháp luật và đạo đức xã hội, thứ nhất về nguồngốc hình thành, đạo đức chủ yếu hình thành một cách tự phát trong đời sống xã hội do thànhviên xã hội tự đặt ra được xã hội chấp nhận và tự nguyện tuân theo Pháp luật, theo các nhàkinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ xuất hiện khi nhà nước ra đời, xã hội đã phát triểnđến trình độ nhất định Thứ hai, về hình thức thể hiện, đạo đức được hình thành chủ yếu do tựphát nên các quy tắc thường không có hình thức xác định, thường thể hiện dưới dạng bấtthành văn và được lưu truyền từ đời này sang đời khác Pháp luật do nhà nước ban hành nên
có hình thức xác định như tập quán, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật Tùy từng thời
kỳ lịch sử, từng nhà nước khác nhau và hình thức pháp luật nào được coi là phổ biến Thứ ba,
về phạm vi tác động, xuất phát từ nguồn gốc hình thành cũng như hình thức thể hiện của đạođức trong đời sống xã hội cho nên phạm vi tác động của đạo đức là rất rộng so với pháp luật.Thứ tư, về khả năng áp dụng và cơ chế điều chỉnh, cả pháp luật và đạo đức đều là khuôn mẫuhành vi Tuy nhiên, nếu các quy định của pháp luật thường chặt chẽ chính xác được áp dụngthống nhất trong phạm vi hiệu lực của nó thì các quy định của Đạo đức thường rất khoái quát,chung chung Thứ năm, về biện pháp đảm bảo thực hiện, các quy phạm pháp luật được nhànước đảm bảo thực hiện trên hai phương diện cụ thể là: (i) sự phù hợp về mặt nội dung củaquy phạm pháp luật với nhu cầu điều chỉnh xã hội; (ii) đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp
cụ thể như tuyên truyền, phổ biến, giáo dục hãy áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước,bằng các biện pháp tổ chức, hành chính, kinh tế Trong khi đó, các quy phạm đạo đức được
Trang 16đảm bảo thực hiện trị bằng các biện pháp mang tính xã hội như sự lên án của cộng đồng, sựtẩy chay của xã hội…
Bàn về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức đức xã hội: Thứ nhất, pháp luật được hìnhthành chủ yếu trên cơ sở nền tảng đạo đức xã hội Thứ hai pháp luật thể chế nhiều kiếp phạmđạo đức thành pháp luật, đã có nhiều quy tắc đạo đức đã được luật hóa để bảo vệ, giữ gìn.Thứ ba, pháp luật góp phần hình thành những quan điểm chuẩn mực đạo đức mới, với nhữngquy định của mình, pháp luật góp phần định hình quan niệm, chuẩn mực đạo đức mới Thứ
tư, đạo đức hỗ trợ góp phần đưa pháp luật vào đời sống Bên cạnh đó, không phải lúc nàopháp luật và đạo đức cũng có tác động cùng nhiều mà cũng có tác động ngược
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội của pháp luật và đạođức Bên cạnh những mặt tích cực, mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong xã hội ViệtNam hiện nay phần tồn tại nhiều hạn chế định như:
Trong một số trường hợp, ranh giới điều chỉnh giữa pháp luật và đạo đức chưa rõ ràng, sự thểchế hóa các quy phạm đạo đức của nhà nước không cụ thể dẫn đến khó ứng dụng vào đờisống, cùng một hành vi nhưng có thể có các đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau.Trong xã hội hiện nay còn nhiều quan niệm tư tưởng cổ hủ vẫn tồn tại mà chưa bị ngăn chặnđúng mức cần thiết Vì vậy, trên cơ sở phân tích tác giả đã đề xuất: Thứ nhất, xác định đúng
vị trí vai trò của pháp luật và đạo đức trong đời sống xã hội Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật cũng như các chuẩn mực đạo đức phù hợp kết hợp với việc nâng cao ýthức cá nhân Thứ ba, tăng cường công tác phổ biến pháp luật giáo dục đạo đức Bên cạnh đó,Nhà nước cần tạo môi trường xã hội minh bạch, thuận lợi để pháp luật được thực hiệnnghiêm minh, các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp được phát huy trong các mối quan hệ xã hội
Tập tục nói chung có vai trò vô cùng to lớn đối với đời sống cộng đồng, chúng là nhữngchuẩn mực cho hành vi của con người trong những hình thức tổ chức xã hội
Tuy nhiên cùng với sự phát triển của văn hóa- xã hội vai trò của tập tục ngày càng bị thu hẹplại Nhà nước, xã hội ngày càng can thiệp nhiều hơn vào các lĩnh vực tự quản của các cộngđồng, cũng như các mối quan hệ xã hội mà cư dân đã xây dựng được Nhưng vào các nămgần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nhiều tập tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp
đã được khôi phục, tập tục có điều kiện thay đổi và phát triển và phát huy vai trò trong đờisống xã hội Có thể nói, ở nước ta hiện nay, tập tục đã, đang và sẽ còn tiếp tục thể hiện vai trò