Luận án : So sánh đặc điểm sinh sản các nguồn tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) bố mẹ và thực nghiệm nuôi tôm thành thục trong hệ thống bể tuần hoàn Mục tiêu của luận ána) Mục tiêu tổng quátNhằm tìm hiểu sản lượng khai thác tôm sú bố/mẹ tự nhiên cùng với sự phân phối và sử dụng nguồn tôm bố/mẹ ở các trại giống; đồng thời phát triển kỹ thuật nuôi vỗ thành thục tôm sú bố/mẹ trong điều kiện có kiểm soát (trong bể) để tạo ra nguồn tôm chất lượng cao phục vụ cho các trại sản xuất giống góp phần làm giảm sự lệ thuộc vào nguồn tôm khai thác tự nhiên.b) Mục tiêu cụ thểMục tiêu cụ thể của luận án là nhằm:- Xác định được hiện trạng khai thác, phân phối và sử dụng nguồn tôm sú bố/mẹ khai thác từ biển ở vùng trọng điểm ĐBSCL.- Xác định được một số đặc điểm sinh sản của tôm sú cái có nguồn gốc biển và đầm; và sự ảnh hưởng số lần đẻ của tôm cái đến chất lượng của ấu trùng và hậu ấu trùng.- Xác định khả năng nuôi vỗ thành thục tôm sú bố/mẹ trong bể có hệ thống lọc sinh học trong (ở đáy bể).- Xác định hiệu quả của việc bổ sung a-xít arachidonic vào thức ăn chế biến trong cải thiện sự thành thục và chất lượng sinh sản của tôm bố/mẹ nuôi trong bể tuần hoàn.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
CHÂU TÀI TẢO
SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN CÁC NGUỒN TÔM SÚ
(Penaeus monodon Fabricius, 1798) BỐ MẸ VÀ THỰC
NGHIỆM NUÔI TÔM THÀNH THỤC TRONG HỆ
THỐNG BỂ TUẦN HOÀN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ THỦY SẢN
Cần Thơ, 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
CHÂU TÀI TẢO
SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN CÁC NGUỒN TÔM SÚ
(Penaeus monodon Fabricius, 1798) BỐ MẸ VÀ THỰC
NGHIỆM NUÔI TÔM THÀNH THỤC TRONG HỆ
Người hướng dẫn khoa học:
PGs.TS NGUYỄN THANH PHƯƠNG PGs.TS ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG
Cần Thơ, 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận án này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện các thí nghiệm và phân tích Tất cả các
số liệu và kết quả được trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực và chưa được dùng cho bất cứ luận án cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày 18 tháng 06 năm 2012
Tác giả
Châu Tài Tảo
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản, Khoa sau Đại Học, Bộ môn Kỹ thuật nuôi Hải sản, bộ môn Dinh dưỡng và chế biến Thủy sản, Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ trong những năm qua
Tôi xin cảm ơn Bộ Giáo dục và Đào Tạo, Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Thủy sản, Bộ môn Kỹ thuật nuôi Hải sản và bộ môn Dinh dưỡng và chế biến Thủy sản đã hỗ trợ kinh thí thực hiện luận án này
Đặc biệt xin bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGs.Ts Nguyễn Thanh Phương và PGs.Ts Đỗ Thị Thanh Hương đã tận tình hướng dẫn, quan tâm, giúp đỡ, động viên và cho tôi những lời khuyên quí báu trong suốt thời gian thực hiện luận án Xin chân thành cảm ơn PGs.Ts Trần Ngọc Hải, PGs.Ts Trần Thị Thanh Hiền, PGs.Ts Đặng Thị Hoàng Oanh, Ths Hoàng Văn Súy, Ths Lý Văn Khánh, Ths Nguyễn Hương Thùy, Ths Trần Lê Cẩm Tú luôn sẵn lòng giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn đến quí thầy, cô, anh, chị nghiên cứu sinh Khóa 6 Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi thực hiện luận án này
Xin gởi lời cảm ơn đến Chi Cục Nuôi trồng Thủy sản tỉnh Cà Mau, đã cung cấp cho tôi số liệu để thực hiện luận án
Sau cùng là lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người thân và bạn
bè đã động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận án
Cần Thơ, ngày 18 tháng 06 năm 2012 Tác giả
Châu Tài Tảo
Trang 5
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm tạ ii
Mục lục iii
Danh sách bảng x
Danh sách hình xii
Danh mục từ viết tắt xiv
Tóm tắt xv
Abstract xviii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
1.1 Hiện trạng nuôi tôm nước lợ trên thế giới và Việt Nam 7
1.1.1 Nuôi tôm nước lợ thương phẩm trên thế giới 7
1.1.2 Nuôi tôm nước lợ ở Việt Nam và Đồng bằng sông Cửu Long 9
1.1.2.1 Diện tích và sản lượng tôm nuôi nước lợ 9
1.1.2.2 Sự phát triển của các mô hình nuôi tôm nước lợ 11
1.2 Sản xuất giống tôm biển (Penaeus) trên thế giới và Việt Nam 16
1.2.1 Sản xuất giống tôm biển (Penaeus) trên thế giới 16
1.2.2 Sản xuất giống tôm sú (Penaeus monodon) ở Việt Nam 17
1.3 Nuôi vỗ thành thục tôm sú bố/mẹ trên thế giới và Việt Nam 19
1.3.1 Nuôi vỗ thành thục tôm sú (Penaeus monodon) bố/mẹ trên thế giới 19
1.3.2 Nuôi vỗ thành thục tôm sú (Penaeus monodon) bố/mẹ ở Việt Nam 23
1.4 Một số đặc điểm sinh học tôm sú 24
1.4.1 Vị trí phân loại 25
1.4.2 Tập tính sống 25
1.4.3 Phân bố của tôm sú 26
Trang 61.4.4 Vòng đời phát triển của tôm sú 27
1.4.5 Đặc điểm sinh học dinh dưỡng 27
1.4.6 Đặc điểm sinh trưởng 28
1.4.7 Đặc điểm sinh học sinh sản 28
a) Kích cỡ thành thục 28
b) Cơ quan sinh dục đực và cái 28
c) Tập tính giao vỹ 29
d) Sự phát triển của buồng trứng 30
e) Tập tính đẻ trứng 31
1.5 Nhu cầu dinh dưỡng cho tôm bố/mẹ 31
1.5.1 Chất béo (lipid) 31
1.5.1.1 Chất béo tổng số 32
1.5.1.2 Các nhóm chất béo 32
1.5.1.3 A-xít béo 33
1.5.2 Chất đạm (protein) 34
1.5.3 Chất bột đường (carbohydrate) 35
1.5.4 Carotenoid 35
1.5.5 Vitamin 36
1.5.6 Chất khoáng 37
1.6 Thức ăn nuôi vỗ thành thục tôm biển 37
1.6.1 Thức ăn tươi sống 37
1.6.2 Thức ăn nhân tạo 40
1.7 Những nghiên cứu về vitellogenin (protein tạo noãn hoàng) 41
1.7.1 Sơ lược về vitellogenin 41
1.7.2 Các nghiên cứu về Vitellogenin trên các loài giáp xác 42
1.8 Nghiên cứu về a xít arachidonic 44
1.8.1 Sơ lược về a-xít arachidonic (ARA) 44
1.8.2 Một số nghiên cứu về a-xít arachidonic 45
Trang 7Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
2.1 Khảo sát tình hình khai thác và sử dụng tôm sú bố/mẹ ở tỉnh Cà Mau 48
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu và số mẫu điều tra 48
2.1.2 Cách chọn mẫu điều tra 48
2.1.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 48
2.1.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 48
2.1.3 Phương pháp xử lý số liệu 49
2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh sản của tôm sú có nguồn gốc biển và đầm 49
2.2.1 Đặc điểm sinh sản của tôm mẹ 49
2.2.1.1 Vật liệu thí nghiệm 49
2.2.1.2 Nguồn nước thí nghiệm 50
2.2.1.3 Hệ thống bể lọc và bể nuôi tôm mẹ 50
2.2.1.4 Nguồn tôm thí nghiệm 51
2.2.1.5 Bố trí thí nghiệm 51
2.2.1.6 Các chỉ tiêu ghi nhận 52
a) Các chỉ tiêu môi trường của bể nuôi tôm mẹ 52
b) Chỉ tiêu sinh học của tôm bố/mẹ 52
c) Chỉ tiêu sinh hóa 53
2.2.2 Phát triển của ấu trùng 56
2.2.2.1 Nguồn ấu trùng thí nghiệm 56
2.2.2.2 Thức ăn và thuốc phòng trị bệnh trong ương ấu trùng và hậu ấu trùng 57 2.2.2.3 Chăm sóc ấu trùng 57
2.2.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi trong thời gian ương tôm 58
a) Chỉ tiêu môi trường 58
b) Tăng trưởng ấu trùng 58
c) Tỉ lệ sống 58
Trang 82.2.2.5 Phương pháp đánh giá chất lượng tôm bột (PL) 58
2.2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 59
2.3 Nghiên cứu ứng dụng hệ thống lọc sinh học để nuôi thành thục và nuôi phát dục tôm sú bố/mẹ 59
2.3.1 Hệ thống bể nuôi thành thục tôm bố/mẹ 59
2.3.2 Nguồn nước thí nghiệm 61
2.3.3 Vận hành bể nuôi 61
2.3.4 Thử nghiệm nuôi thành thục tôm bố/mẹ trong hệ thống bể lọc tuần hoàn 61 2.3.4.1 Nguồn tôm bố/mẹ 62
2.3.4.2 Bố trí thí nghiệm 62
2.3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi 63
a) Các yếu tố môi trường 63
b) Các chỉ tiêu sinh học của tôm 63
2.4 Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục tôm sú trong bể lọc tuần hoàn với thức ăn có bổ sung acid arachidonic (ARA) 63
2.4.1 Hệ thống bể nuôi tôm bố mẹ 63
2.4.2 Nguồn tôm bố mẹ 64
2.4.3 Bố trí thí nghiệm 64
2.4.4 Chăm sóc tôm bố/mẹ trong bể nuôi 66
2.4.5 Kích thích tôm mẹ sinh sản 66
2.4.6 Ương ấu trùng 68
2.4.6.1 Hệ thống ương ấu trùng 68
2.4.6.2 Nguồn ấu trùng 68
2.4.6.3 Nguồn nước thí nghiệm 68
2.4.6.4 Thức ăn và thuốc phòng trị bệnh để ương ấu trùng và hậu ấu trùng 68
2.4.6.5 Chăm sóc ấu trùng 68
2.4.6.6 Các chỉ tiêu theo dõi 69
a) Sinh trưởng và phát dục của tôm bố/mẹ 69
Trang 9b) Thí nghiệm ương ấu trùng 70
2.4.6.7 Phương pháp xử lý số liệu 70
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 71
3.1 Tình hình khai thác và sử dụng tôm sú (Peneaus monodon) bố/mẹ 71
3.1.1 Tình hình khai thác tôm sú bố/mẹ 71
3.1.1.1 Ngư dân và ngư trường khai thác tôm sú bố mẹ 71
3.1.1.2 Ngư cụ và mùa vụ khai thác 72
3.1.1.3 Số lượng tôm bố/mẹ khai thác qua các năm 73
3.1.1.4 Số lượng tôm bố/mẹ khai thác qua các tháng trong năm 74
3.1.2 Kênh phân phối tôm sú bố/mẹ 76
3.1.2.1 Đại lý cấp I 77
3.1.2.2 Đại lý cấp II 78
3.1.3 Giá bán tôm sú bố/mẹ năm 2007 78
3.1.4 Sử dụng tôm sú bố/mẹ trong trại sản xuất giống 80
3.1.4.1 Kích cở tôm bố/mẹ 80
3.1.4.2 Nuôi vỗ tôm bố/mẹ 81
3.1.4.3 Tỷ lệ tôm cái phát triển buồng trứng và tỷ lệ sống sau khi cắt mắt 82
3.1.5 Thuận lợi và trở ngại trong khai thác, phân phối 82
3.1.5.1 Thuận lợi 82
3.1.5.2 Trở ngại 83
3 2 Đặc điểm sinh sản của các nguồm tôm sú bố/mẹ 84
3.2.1 Sự thành thục và sinh sản của tôm sú có nguồn gốc biển và đầm 84
3.2.1.1 Các yếu tố môi trường bể nuôi tôm mẹ 84
3.2.1.2 Tỷ lệ sống và tỷ lệ tôm đẻ sau khi cắt mắt 85
3.2.1.3 Sự biến động hàm lượng Vitellogenin trong máu theo giai đoạn phát triển của buồng trứng qua các lần đẻ ở tôm sú 85
3.2.2 Ảnh hưởng của số lần đẻ đến chất lượng ấu trùng và hậu ấu trùng 92
3.2.2.1 Thành thục và đẻ trứng của tôm cái 92
Trang 103.2.2.2 Đánh giá chất lượng của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm biển và đầm
qua các lần đẻ 97
a) Các yếu tố môi trường bể ương ấu trùng 97
b) Sinh trưởng của các giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng có nguồn gốc tôm biển qua các lần đẻ 98
c) Sinh trưởng các giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng có nguồn gốc tôm đầm qua các lần đẻ 99
d) So sánh chiều dài qua các lần đẻ của tôm biển và tôm đầm 100
e) Tỷ lệ sống PL15 của tôm từ tôm cái biển và đầm qua các lần đẻ 102
f) Đánh giá chất lượng tôm PL15 từ tôm mẹ biển và đầm bằng phương pháp sốc 104
3.3 Ứng dụng hệ thống lọc sinh học nuôi thành thục tôm sú bố/mẹ 105
3.3.1 Các yếu tố môi trường của bể nuôi tôm bố/mẹ 105
3.3.2 Sinh trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú bố/mẹ nuôi trong bể tuần hoàn 110
3.3.3 Tỉ lệ thành thục và đẻ trứng của tôm bố/mẹ nuôi thành thục trong bể 112
3.4 Ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung acid Arachidonic (ARA) lên thành thục và sinh sản của tôm sú bố/mẹ nuôi trong bể lọc sinh học 114
3.4.1 Các yếu tố môi trường bể nuôi vỗ thành thục tôm bố/mẹ 114
3.4.2 Tăng trưởng của tôm bố/mẹ 115
3.4.3 Tỷ lệ sống của tôm bố/mẹ 117
3.4.4 Lột xác, giao vĩ của tôm và tỉ lệ sống sau cắt mắt 118
3.4.5 Tỷ lệ tôm thành thục, đẻ và nở trứng sau khi cắt mắt và sau lột xác 119
a) Sau cắt mắt 119
b) Sau lột xác 120
3.4.6 Ương ấu trùng tôm sú từ tôm cái nuôi vỗ bằng các loại thức ăn có và không có bổ sung ARA 124
3.4.6.1 Các yếu tố môi trường 124
Trang 113.4.6.2 Tăng trưởng của ấu trùng qua các lần đẻ của tôm cái cho ăn thức ăn
có bổ sung ARA 126
a) Giai đoạn Zoea-3 126
b) Giai đoạn Mysis-2 127
c) Giai đoạn hậu ấu trùng (tôm bột) 128
3.4.6.3 Tỷ lệ sống của hậu ấu trùng (PL-15) 130
3.4.6.4 Đánh giá chất lượng của PL15 bằng formol 150 ppm 131
3.5 Thảo luận chung 133
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 137
4.1 Kết luận 137
4.2 Đề xuất 138
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ XUẤT BẢN 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
Trang 12DANH SÁCH BẢNG
Trang Bảng 1.1: Cơ cấu diện tích nuôi tôm sú cả nước theo hình thức nuôi năm
2007 12
Bảng 1.2: Diễn biến diện tích nuôi tôm nước lợ theo các phương thức nuôi ở các tỉnh ĐBSCL qua một số mốc thời gian 13
Bảng 1.3 Các phương thức nuôi tôm sú ở ĐBSCL năm 2010 13
Bảng 1.4: Quy hoạch nuôi tôm sú theo phương thức nuôi ở ĐBSCL 15
Bảng 1.5: Số trại và sản lượng tôm sú giống của cả nước và ĐBSCL qua các năm 17
Bảng 1.6 Tình hình SXG, kiểm dịch tôm giống các tỉnh ĐBSCL năm 2010 19
Bảng 2.1: Công thức thức ăn chế biến của các nghiệm thức 65
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 65
Bảng 3.1: Kích cở tôm sú bố/mẹ sử dụng ở các trại giống 81
Bảng 3.2: Các yếu tố môi trường trong suốt quá trình nuôi 85
Bảng 3.3: Sự biến động hàm lượng Vitellogenin (µgALP/mg protein) trong quá trình sinh sản của tôm đầm qua các lần đẻ 86
Bảng 3.4: Sự biến động hàm lượng Vitellogenin (µgALP/mg protein) trong quá trình sinh sản của tôm biển qua các lần đẻ 87
Bảng 3.5: Hàm lượng vitellogenin và sức sinh sản tôm sú biển và tôm sú đầm 91 Bảng 3.6 Các chỉ tiêu sinh học của tôm biển qua các lần đẻ 94
Bảng 3.7 Các chỉ tiêu sinh học của tôm đầm 96
Bảng 3.8: Các yếu tố môi trường nước trong các bể thí nghiệm 98
Bảng 3.9: Chiều dài (cm) của các giai đoạn của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm sú 99
Bảng 3.10: Chiều dài (cm) của các giai đoạn của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm đầm 100
Trang 13Bảng 3.11: Chiều dài (cm) của tôm biển và tôm đầm qua các giai đoạn 101
Bảng 3.12: Tỷ lệ sống (%) của tôm PL15 qua các lần đẻ của tôm biển và đầm 103
Bảng 3.13: Tỷ lệ PL15 từ tôm mẹ biển và tôm đầm chết khi sốc formol và độ mặn 105
Bảng 3.14: Các yếu tố môi trường trong suốt quá trình nuôi 106
Bảng 3.15: Sinh sản của tôm sú cái nuôi vỗ thành thục (g/cá thể) 113
Bảng 3.16: Các yếu tố môi trường trong suốt quá trình nuôi 115
Bảng 3.17: Tăng trưởng trung bình của tôm bố/mẹ sau 90 ngày nuôi 116
Bảng 3.18 Các chỉ tiêu sinh học của tôm sau khi cắt mắt 122
Bảng 3.19 Các chỉ tiêu sinh học của tôm sau khi lột xác đẻ lại 123
Bảng 3.20: Nhiệt độ (oC) trung bình của các nghiệm thức qua các lần đẻ 124
Bảng 3.21 pH trung bình của các nghiệm thức qua các lần đẻ 125
Bảng 3.22: TAN (mg/L) trung bình của các nghiệm thức qua các lần đẻ 125
Bảng 3.23: NO2- (mg/L) trung bình của các nghiệm thức qua các lần đẻ 126
Bảng 3.24: Chiều dài trung bình của zoea-3 (cm) ở các nghiệm thức thí nghiệm qua các lần đẻ 127
Bảng 3.25: Chiều dài trung bình của tôm giai đoạn mysis-2 ở các nghiệm thức thí nghiệm qua các lần đẻ 128
Bảng 3.26: Chiều dài trung bình của hậu ấu trùng ở các nghiệm thức qua các lần đẻ 129
Bảng 3.27: Tỷ lệ sống (%) trung bình của tôm ở giai đoạn PL-15 của các nghiệm thức qua các lần đẻ 131
Bảng 3.28: Tỷ lệ tôm chết (%) của tôm PL-15 khi sốc bằng formol 150 ppm 132
Trang 14DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1.1: So sánh sản lượng các loài tôm biển nuôi trên thế giới (1999-2008) 8
Hình 1.2: Sản lượng nuôi trồng thủy sản Việt Nam giai đoạn 2000-2010 9
Hình 1.3: Sản lượng và diện tích nuôi tôm nước lợ ở ĐBSCL giai đoạn 2001-2010 10
Hình 1.4: Diện tích và sản lượng nuôi tôm nước lợ theo tỉnh ở ĐBSCL giai đoạn 2001-2010 11
Hình 1.5: Hệ thống nuôi gia hóa tôm sú (Penaeus monodon) ở CSIRO (Úc) 21
Hình 1.6: Vòng đời của tôm sú (Penaeus monodon) 27
Hình 1.7: Quá trình giao vỹ của tôm sú (Penaeus monodon) 29
Hình 1.8: Các giai đoạn phát triển của buồng trứng tôm sú 30
Hình 1.9: Thức ăn (Tôm ký cư) cho tôm mẹ 39
Hình 1.10: Cấu trúc của a-xít arachidonic 44
Hình 2.1: Hệ thống lọc sinh học và bể nuôi tôm mẹ 51
Hình 2.2: Thức ăn (Tôm ký cư) cho tôm mẹ 52
Hình 2.3: Cách lấy máu tôm mẹ và trữ mẫu trong nước đá 53
Hình 2.4: Hệ thống bể ương ấu trùng 57
Hình 2.5 Thiết kế hệ thống bể lọc tuần hoàn nuôi tôm bố/mẹ 60
Hình 2.6 Sơ đồ mặt cắt hệ thống lọc nuôi vỗ tôm bố/mẹ 60
Hình 2.7: Chuyển hóa đạm trong hệ thống lọc sinh học (Thomas 2000) 61
Hình 2.8: Dùng dây thung cột cuống mắt tôm 67
Hình 2.9: Hệ thống bể nuôi phát dục tôm sú mẹ 67
Hình 2.10: Hệ thống bể ương ấu trùng 69
Hình 3.1: Ngư trường khai thác tôm sú bố/mẹ 71
Hình 3.2: Phương tiện lưu trữ tôm sú bố/mẹ trên tàu khai thác 73
Hình 3.3: Số lượng tôm sú bố/mẹ khai thác qua các năm 73
Trang 15Hình 3.4: Số lượng tôm sú cái khai thác từ năm 2007 đến 2010 75
Hình 3.5 Số lượng tôm sú đực khai thác từ năm 2007 đến 2010 75
Hình 3.6 : Sơ đồ phân phối tôm sú bố/mẹ khai thác tự nhiên 76
Hình 3.7: Hình thức mua bán tôm sú bố/mẹ trên tàu của đại lý cấp I 77
Hình 3.8: Giá mua của tôm mẹ tại trại sản xuất tôm sú giống 79
Hình 3.9: Sơ đồ biến động giá tôm tăng từ tàu khai thác đến trại sản xuất giống 80
Hình 3.10: Hàm lượng Vitellogenin trước khi đẻ của tôm biển và tôm đầm 89
Hình 3.11: Tương quan giữa hàm lượng vitellogenin và sức sinh sản của tôm đầm 89
Hình 3.12: Tương quan giữa hàm lượng vitellogenin và sức sinh sản của tôm biển 90
Hình 3.13: Tương quan giữa hàm lượng vitellogenin và sức sinh sản của tôm biển và tôm đầm 90
Hình 3.14: Biến động của nhiệt độ trong thời gian nuôi vỗ tôm bố/mẹ 106
Hình 3.15: Biến động của pH trong thời gian nuôi vỗ tôm bố/mẹ 107
Hình 3.16: Biến động của độ cứng trong thời gian nuôi vỗ tôm bố/mẹ 108
Hình 3.17: Biến động của độ kiềm trong thời gian nuôi vỗ tôm bố/mẹ 108
Hình 3.18: Biến động TAN trong thời gian nuôi vỗ tôm bố/mẹ 109
Hình 3.19: Biến động của N-NO2- trong thời gian nuôi vỗ tôm bố/mẹ 109
Hình 3.20: Biến động của N-NO3- trong thời gian nuôi vỗ tôm bố/mẹ 110
Hình 3.21: Sinh trưởng của tôm bố/mẹ sau 120 ngày nuôi thành thục 111
Hình 3.22: Tỷ lệ sống của tôm sú bố/mẹ sau 120 ngày nuôi thành thục 111
Hình 3.23: Tỷ lệ sống của tôm cái sau 90 ngày nuôi 118
Hình 3.24 Tỷ lệ sống của tôm đực sau 90 ngày nuôi 118
Hình 3.25: Tôm PL-15 dùng đánh giá chất lượng 132
Trang 17TÓM TẮT
Chủ động nguồn tôm sú (Penaeus monodon) bố mẹ chất lượng tốt là
vấn đề quan trọng cho nghề sản xuất giống tôm và nuôi tôm nói chung ở nước
ta Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá tình hình khai thác và sử dụng tôm sú bố mẹ ở Cà Mau và cải tiến kỹ thuật nuôi phát dục tôm sú trong bể để góp phần phát triển bền vững nghề sản xuất giống tôm sú ở ĐBSCL
Nghiên cứu về tình hình khai thác và sử dụng tôm sú (Penaeus monodon) bố mẹ được thực hiện tại vùng cửa biển Rạch Gốc, huyện Ngọc
Hiển, tỉnh Cà Mau từ tháng 11/2006 đến 06/2007 thông qua phỏng vấn 32 tàu khai thác tôm bố mẹ, 23 đại lý mua bán cấp 1 và 13 đại lý cấp 2; và số lượng tôm khai thác được cập nhật vào 2/2011 Khảo sát về sử dụng tôm sú bố mẹ ở trại giống được thực hiện ở hai cụm trại sản xuất giống tôm sú trọng điểm là huyện Đầm Dơi và Năm Căn của tỉnh Cà Mau Kết quả cho thấy số lượng tôm
sú bố mẹ khai thác tăng nhanh qua các năm từ 2007 đến 2010; năm 2010 khai thác được 145.027 con tôm cái và 42.675 con tôm đực Mùa vụ khai thác tôm quanh năm nhưng tập trung vào tháng 10 năm trước đến tháng 6 năm sau ở ngư trường vùng biển phía Tây và Tây Nam Tôm được khai thác bằng lưới rê
3 màng Các đại lý cấp I thu gom tôm bố mẹ từ ngư dân ngay trên biển (trung bình 162 con/tháng) và bán cho các đại lý cấp II với giá trung bình (năm 2007)
là 826.087 đồng/con tôm cái và 78.043 đồng/con tôm đực Số tôm cái của mỗi đại lý cấp II (mua từ đại lý cấp I) phân phối trong tỉnh là 1.213 con/năm và ngoài tỉnh là 4.571 con/năm với giá bán trung bình là 1.321.145 đồng/tôm cái
và 109.615 đồng/tôm đực Tôm sú cái sử dụng ở các trại giống có kích cỡ trung bình là 189 g/con Tôm cái được nuôi phát dục với mật độ trung bình 5,63 con/m2; thức ăn là ốc mượn hồn; tỉ lệ tôm phát triển buồng trứng 82,6%;
tỷ lệ sống và tỷ lệ đẻ là >80%
Nghiên cứu so sánh một số đặc điểm sinh học sinh sản của tôm sú bố
mẹ có nguồn gốc khác nhau gồm tôm khai thác từ biển (tôm biển) và tôm bắt
từ đầm nuôi quảng canh cải tiến (tôm đầm) được thực hiện với các bể nuôi có thể tích 200 lít, mỗi bể nuôi 1 tôm cái, được kết nối với bể lọc sinh học tuần
Trang 18hoàn Tôm bố mẹ có khối lượng trung bình là 190–210 g/con tôm cái và 80 g/con tôm đực Kết quả cho thấy hàm lượng vitellogenin trong huyết tương của tôm cái thay đổi theo qui luật là tăng dần từ giai đoạn I, đạt cực đại ở giai đoạn IV và giảm thấp khi đẻ, và chu kỳ được lặp lại ở lần phát dục và đẻ trứng tiếp theo Tôm sú có nguồn gốc biển có hàm lượng vitellogenin trung bình cao nhất (8,53 µgALP/mg protein) ở giai đoạn IV của lần tái phát dục trước khi đẻ lần 2; trong khi tôm đầm có hàm lượng vitellogenin cao nhất (4,95 µgALP/mg protein) ở giai đọan IV trước khi đẻ lần 1, và các giá trị này khác biệt nhau có
ý nghĩa thống kê (p<0,05) Có mối tương quan thuận giữa hàm lượng vitellogenin và sức sinh sản của cả hai nguồn tôm biển và tôm đầm Sức sinh sản, tỷ lệ nở, tỷ lệ sống của PL15, tăng trưởng của ấu trùng và hậu ấu trùng của tôm biển cao hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với tôm đầm qua các lần đẻ
Nghiên cứu ứng dụng hệ thống bể tuần hoàn có lọc sinh học ở đáy để nuôi thành thục tôm sú bố mẹ được thực hiện trong 4 tháng với tôm cái có khối lượng ban đầu trung bình 112 g/con và tôm đực 66,7 g/con Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố môi trường nước trong hệ thống bể nuôi vỗ rất thích hợp cho tôm phát triển Sau 120 ngày nuôi, tôm cái và tôm đực đạt khối lượng trung bình lần lượt là 151 g và 99 g; tỷ lệ sống tương ứng đạt 66,7% và 50%; sức sinh sản đạt từ 3.783 đến 4.234 trứng/g tôm mẹ và tỷ lệ nở từ 58,5-79% Kết quả cho thấy hệ thống bể nuôi này hoàn toàn phù hợp cho nuôi vỗ phát dục tôm sú
Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục tôm sú bằng thức ăn có bổ sung a-xít
arachidonic (ARA) được thực hiện với 3 nghiệm thức gồm (i) thức ăn chế biến không bổ sung a-xít arachidonic; (ii) bổ sung a-xít arachidonic với tỷ lệ 0,45%; và (iii) bổ sung a-xít arachidonic tỷ lệ 1,06 % Tôm thí nghiệm có
nguồn gốc biển với khối lượng tôm cái và đực lần lượt là 150–155 g/con và 60-65 g/con Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau 90 ngày nuôi, khối lượng trung bình của tôm ở các nghiệm thức có bổ sung và không bổ sung ARA đạt tương đương nhau (173-174 g/tôm cái và 72-73 g/tôm đực) Tỉ lệ sống của tôm cái ở nghiệm thức bổ sung ARA 0,45% và 1,06% đạt 55%; trong khi ở nghiệm thức
Trang 19không bổ sung ARA chỉ đạt 50% Tỉ lệ tôm lột xác và giao vỹ của cả 3 nghiệm thức là 100% Sức sinh sản của tôm cũng có xu hướng giảm dần qua 3 lần đẻ ở tất cả các nghiệm thức; sức sinh sản của tôm ở nghiệm thức không có
bổ sung ARA thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với sức sinh sản của tôm ở nghiệm thức có bổ sung ARA 0,45% và 1,06% qua các lần đẻ (p<0,05) Tỷ lệ
nở của trứng ở nghiệm thức bổ sung 0,45% và 1,06% ARA qua các lần đẻ khác nhau không có ý nghĩa, nhưng cao hơn có ý nghĩa so với nghiệm thức không bổ sung ARA (p<0,05) ARA không ảnh hưởng đến chất lượng của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm sú
Trang 20ABSTRACT
Preparing readily high-quality black tiger shrimp (Penaeus monodon)
broodstocks is a very important issue for shrimp seed production, and for shrimp culture industry, generally, in Vietnam The objectives of this study were to evaluate the status of exploitation and use of the tiger shrimp broodstocks in Ca Mau province, and to improve the technologies for maturation culture of broodstocks in tanks in order to contribute to sustainable development of shrimp seed production in the Mekong Delta
Study on fishing and use of the tiger shrimp broodstocks was conducted
in Rach Goc estuary area, Ngoc Hien district of Ca Mau province from 11/2006 to 06/2007 through the interview of 32 shrimp broodstock fishing boats, 23 first-level distributors, and 13 second-level distrubitors of shrimp broodstocks The numbers of caught shrimp broodstocks were updated in 02/2011 Survey on the use of shrimp broodstocks at hatcheries was conducted in two main shrimp hatcheries areas of Dam Doi and Nam Can districts, Ca Mau province The results shown that the numbers of caught shrimp broodstocks increased rapidly from the year 2007 to 2010; a total of 145,027 female and 42,675 male broodstocks were caught in 2010 Fishing season was year-round with the peak period from October of the previous year
to June of the following year Shrimp broodstocks were caught mainly in the West and South–West sea areas of Ca Mau province using 3-layer gillnet The first-level distributors bought shrimp broodstocks from fishermen right at the fishing ground with average number of 162 shrimps/month, and sold to the second-level distributors with average price of 826,087 VND/female and 78,043 VND/male (in 2007) The second-level distributors provided averagely 1,213 ind./year for Ca Mau province and 4,571 ind./year for other provinces at the prices of 1,321,571 VND/female shrimp and 109,615 VND/male shrimp Female broodstocks used in the hatcheries had an average body weight of 189
g Shrimp broodstocks were cultured for maturation at stocking density of
Trang 215.63 ind./m2 and fed with hermit crabs The maturation rates were about 82.6%; and the survival rates and spawning rates were normally over 80%
The comparative study on reproductive biology of the black tiger shrimp broodstocks sourced from marine catch (marine-caught broodstocks) and from extensive shrimp farms (farmed broodstocks) were conducted in recirculating tanks of 200 L, each tank stocked one female shrimp The female and male broodstocks were about 190-210 g and 80 g in body weight, respectively The results of the study showed that the vitellogenin content in blood plasma changed with developmental stages the ovary which increased from stage I to stage IV and reduced after spawning; and the rhythm was repeated for the second maturation and spawning Marine-caught broodstocks had the highest vitellogenin content (8.53 µgALP/mg protein) at stage IV of the second maturation, meanwhile the farmed broodstocks had the highest content (4.95 µgALP/mg protein) at stage IV of the first maturation; and these values were significantly different from each other (p<0.05) There was positive correlation between vitellogenin content and fecundity of both shrimp broodstock sources The fecundity, hatching rates, survival rates of PL15, and the growth of larvae and postlarvae of marine-caught shrimp broodstocks were significantly higher than those of the farmed-broodstocks (p<0.05) through different spawning and rearing cycles
Study on indoor recirculating tank with biofilter on bottom for the maturation culture of the tiger shrimp broodstocks were conducted for 4 months using female and male broodstocks of 112 g and 66,7 g in initial body weight, respectively The results of the study shown that the water quality parameters of the tanks were very good for shrimp growth and maturation After 120 days of culture, the female and male broodstocks reached the average body weight of 151 g and 99 g; and the survival rates of 66.7% and 50%, respectively The fecundity of shrimps was in range of 3,783 to 4,234 eggs/spawner; and the hatching rates were in range of 58.5-79% The results indicated that the recirculating tanks with bio-filter at the bottom was very appropriate for maturation culture of the tiger shrimp broodstocks
Trang 22Study on maturation culture of shrimp broodstocks using pellet feed supplemented with arachidonic acid (ARA) were conducted with 3 treatments
including (i) the control, feed without ARA supplement; (ii) feed with ARA
supplement at 0.45%; and (iii) feed with ARA supplement at 1.06% caught shrimp broodstocks with initial body weight of 150–155 g for female
Marine-và 60-65 g for male were used After 90 days of culture, the results showed that body weight of shrimps were similar for all the treatments with and without ARA supplement (173-174 g for female and 72-73 g for males broodstocks) The survival rates of female shrimps in the treatments with 0.45% ARA and 1.06% ARA supplement were all 55%, meanwhile those in the control without ARA supplement were only 50% The molting and mating rates of the shrimps from all the treatments were 100% The fecundity of shrimps in all the treatments decreased through 3 spawning times Through different spawning times, the fecundities of shrimps in the control without ARA supplement were significantly lower than those of shrimps in the treatments with 0.45% ARA and 1.06% ARA supplement (p<0.05) The hatching rates of eggs in the treatments with 0.45% ARA and 1.06% ARA supplement were not significantly different from each other; however, all were significantly higher than those from the control (p<0.05) ARA did not significantly effect to quality of larvae and postlarvae
Trang 23MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu
Tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) là loài có kích thước lớn,
thịt ngon, thích ứng rộng với độ mặn môi trường, lớn nhanh và đặc biệt có giá trị xuất khẩu,… nên tôm được chọn là đối tượng nuôi quan trọng của ngành nuôi trồng thủy sản thế giới và Việt Nam Theo FAO (2002) thì tôm sú được nuôi ở hơn 22 quốc gia trên thế giới FAO (2010a) cũng cho biết tổng sản lượng tôm sú nuôi trên thế giới năm 2008 là 721.867 tấn, trong đó Việt Nam là 324.600 tấn chiếm 44% sản lượng toàn thế giới Năm 2010 sản lượng tôm sú nuôi của Việt Nam là 333.174 tấn trên diện tích nuôi 613.718 ha; trong đó Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nuôi tôm sú trọng điểm của cả nước (Tổng cục Thủy sản, 2010) Tổng diện tích nuôi tôm sú ở ĐBSCL năm
2010 là 558.740 ha mà phần lớn là diện tích nuôi QCCT (55%), nuôi tôm-lúa luân canh (25%), nuôi BTC/TC (13%), tôm rừng (5%) và tôm – vườn (2%) (Sở NN&PTNT các tỉnh ĐBSCL, 2010) Theo quy hoạch đến năm 2020 thì cơ cấu phương thức nuôi tôm biển ở các tỉnh ĐBSCL theo xu hướng tăng diện tích nuôi thâm canh và giảm diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến (Bộ NN&PTNT, 2009)
Theo sự phát triển của nghề nuôi tôm thương phẩm thì nhu cầu con giống sẽ tăng lên rất cao Năm 2009 cả nước có khoảng 3.377 trại sản xuất giống tôm sú, trong đó ĐBSCL có 1.100 trại (Cục Nuôi trồng Thủy sản, 2010); năm 2010 ở ĐBSCL có 1.220 trại với sản lượng giống là 20,915 tỷ con đáp ứng được 50,8% lượng giống thả nuôi của vùng (Sở NN&PTNT các tỉnh ĐBSCL, 2010) Tuy nhiên, để nghề nuôi tôm sú phát triển bền vững thì số lượng và chất lượng tôm mẹ có ý nghĩa quyết định đến sản lượng và chất lượng tôm giống thả nuôi Hiện nay, hầu hết các trại sản xuất giống tôm sú đều phải lệ thuộc vào nguồn tôm bố/mẹ khai thác từ biển dẫn đến việc khai thác tôm sú bố/mẹ quá mức làm tăng áp lực đến nguồn lợi tôm tự nhiên Theo Withyachumnarnkul (2000) thì sự gia tăng khai thác nguồn tôm sú bố/mẹ
Trang 24ngoài tự nhiên trên toàn thế giới để cung cấp cho các trại sản xuất giống đã làm giảm đi nguồn lợi tôm tự nhiên và giá tôm tăng cao làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của các trại giống Bên cạnh đó, những năm gần đây chất lượng tôm sú bố/mẹ khai thác được rất khác nhau mà phần lớn là tôm chất lượng thấp và giá tôm cái chất lượng tốt tăng cao; để giảm chi phí trong sản xuất nên các trại có xu hướng cho tôm đẻ nhiều lần làm ảnh hưởng đến chất lượng ấu trùng và hậu ấu trùng
Nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào nguồn tôm bố/mẹ đánh bắt từ biển đã
có một số công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau liên quan đến tôm bố/mẹ So sánh sự thành thục và sinh sản của tôm cái có nguồn gốc từ biển và
đầm của Menasveta et al (1993), Wyban (1997), Withyachumnarnkul et al (1998), Phạm Văn Tình (1998), Nguyễn Thanh Phương và ctv (2009) Gia hóa tôm sú nhằm tạo ra tôm bố/mẹ chất lượng cao của Ruchimat el al (1994), Makinouchi & Hirata (1995), Liao & Chien (1996), Crocos et al (1997), Hetzel et al (1999), Preston et al (1999), Nguyễn Thanh Phương và ctv (2005), Nguyễn Quốc Hưng (2008) và Nguyễn Hoàng Ân và ctv (2009) Các
nghiên cứu về các loại thức ăn để cải thiện sự thành thục tốt của tôm cái như Rothlisberg (1998) và Phạm Văn Tình (2003) Nuôi vỗ thành thục tôm sú bố/mẹ trong lồng ở biển và trong bể xi măng của Nguyễn Cơ Thạch và Phan
Đình Phúc (2000) Nuôi tôm bố/mẹ trong bể lọc tuần hoàn của Menasveta et
al (2001); Nguyễn Thanh Phương và Châu Tài Tảo (2004) Bên cạnh, các
nghiên cứu về bổ sung a-xít arachidonic vào thức ăn cho cá biển bố/mẹ nhằm tăng sức sinh sản, tỷ lệ nở, chất lượng của ấu trùng cũng được tiến hành
(Furuita et al., 2000, 2003; Mazorra et al., 2003; Ogata et al., 2004; Salze et al., 2005); nhưng các nghiên cứu về bổ sung a-xít arachidonic cho tôm sú cái
và đực ở giai đoạn nuôi phát dục chưa thấy công bố nhiều
Nghiên cứu tiếp tục về kỹ thuật nuôi phát dục tôm sú trong điều kiện có kiểm soát nhằm đạt chất lượng cao là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay để giảm lệ thuộc nguồn tôm cái và đực tự nhiên và chủ động nguồn
tôm bố/mẹ cho các trại sản xuất giống Với các lý do trên luận án “So sánh
đặc điểm sinh sản các nguồn tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798)
Trang 25bố/mẹ và thực nghiệm nuôi tôm thành thục trong hệ thống bể tuần hoàn”
b) Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu cụ thể của luận án là nhằm:
- Xác định được hiện trạng khai thác, phân phối và sử dụng nguồn tôm
sú bố/mẹ khai thác từ biển ở vùng trọng điểm ĐBSCL
- Xác định được một số đặc điểm sinh sản của tôm sú cái có nguồn gốc biển và đầm; và sự ảnh hưởng số lần đẻ của tôm cái đến chất lượng của ấu trùng và hậu ấu trùng
- Xác định khả năng nuôi vỗ thành thục tôm sú bố/mẹ trong bể có hệ thống lọc sinh học trong (ở đáy bể)
- Xác định hiệu quả của việc bổ sung a-xít arachidonic vào thức ăn chế biến trong cải thiện sự thành thục và chất lượng sinh sản của tôm bố/mẹ nuôi trong bể tuần hoàn
3 Nội dung của luận án
a) Điều tra tình hình khai thác, phân phối và sử dụng tôm sú bố/mẹ ở tỉnh Cà Mau, vùng trọng điểm của ĐBSCL
b) Nghiên cứu các đặc điểm sinh sản của tôm sú bố/mẹ có nguồn gốc biển và đầm
Trang 264 Ý nghĩa của luận án
Luận án cung cấp thêm dẫn liệu về nguồn lợi tôm sú bố/mẹ khai thác ở vùng biển tỉnh Cà Mau; kênh phân phối và sử dụng tôm khai thác từ biển trong các trại giống; bổ sung thêm dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh sản của tôm sú nguồn gốc biển và đầm trong đó có mối quan hệ giữa hàm lượng vitellogenin và sức sinh sản của tôm; ứng dụng hệ thống bể lọc sinh học để nuôi thành thục tôm bố/mẹ và đặc biệt là ảnh hưởng của a-xít arachidonic trong thức ăn chế biến đến sự sinh sản của tôm bố/mẹ nuôi trong bể
Những kết luận về hệ thống nuôi thành thục, đặc điểm sinh sản và vai trò của a-xít arachidonic đối với quá trình sinh sản của tôm sú là cơ sở dữ liệu khoa học quan trọng phục vụ tốt cho phát triển kỹ thuật nuôi thành thục tôm sú bố/mẹ phục vụ nghề sản xuất giống và nuôi tôm sú thương phẩm
5 Điểm mới của luận án
- Luận án đã xác định được sản lượng khai thác tôm sú bố/mẹ ngoài tự nhiên tăng nhanh trong những năm gần đây; mùa vụ khai thác quanh năm; ngư trường khai thác là vùng biển phía Nam và Tây Nam; và ngư cụ khai thác là lưới rê 3 màng
- Luận án cũng đã xác định được kênh phân phối cùng với giá thành tôm sú bố/mẹ từ các đại lý cấp I mua trực tiếp từ các tàu khai thác để phân phối lại cho đại lý cấp 2 và các trại giống trong tỉnh; và đại lý cấp 2 có vai trò chủ yếu trong phân phối tôm bố/mẹ cho các trại giống ngoài tỉnh
- Luận án đã xác định được hàm lượng vitellogenin trong huyết tương thay đổi theo qui luật tăng dần từ giai đoạn I, đạt cực đại ở giai đoạn IV và
Trang 27giảm xuống thấp sau khi đẻ, nhưng chu kỳ lập lại là tăng lên ở giai đoạn II, giai đoạn III và đạt cực đại ở giai đoạn IV ở lần đẻ tiếp theo; hàm lượng vitellogenin trung bình ở giai đoạn IV cao nhất ở lần đẻ thứ 2 của tôm biển sau khi cắt mắt (8,53 µgALP/mg protein) và cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
so với hàm lượng vitellogenin cao nhất của tôm sú đầm ở lần đẻ thứ nhất (4,95 µgALP/mg protein); và tìm ra mối tương quan cao giữa hàm lượng vitellogenin trong huyết tương và sức sinh sản của tôm
- Luận án đã xác định được ở 3 lần đẻ đầu tiên của tôm sau cắt mắt có sức sinh sản cao, chất lượng của ấu trùng và hậu ấu trùng tốt; những lần đẻ tiếp theo thì chất lượng ấu trùng giảm dần; chất lượng ấu trùng và hậu ấu trùng
có nguồn gốc từ tôm cái biển tốt hơn tôm cái đầm
- Luận án đã xác định được đặc điểm sinh sản, chất lượng sinh sản, chất lượng của ấu trùng và hậu ấu trùng từ nguồn tôm bố/mẹ biển cao hơn rất nhiều so với nguồn tôm bố/mẹ đầm
- Luận án đã ứng dụng thành công hệ thống bể tuần hoàn có lọc sinh học ở đáy để nuôi thành thục tôm sú bố/mẹ; với hệ thống này thì tỷ lệ sống của tôm cái và đực lần lượt là 66,7% và 50%, sức sinh sản từ 3.783 đến 4.234 trứng/g tôm mẹ và tỷ lệ nở từ 58,5-79%
- Luận án đã xác định được hàm lượng vitellogenin trong huyết tương thay đổi theo qui luật tăng dần từ giai đoạn I, đạt cực đại ở giai đoạn IV và giảm xuống thấp sau khi đẻ, nhưng chu kỳ lập lại là tăng lên ở giai đoạn II, giai đoạn III và đạt cực đại ở giai đoạn IV ở lần đẻ tiếp theo; hàm lượng vitellogenin trung bình ở giai đoạn IV cao nhất ở lần đẻ thứ 2 của tôm biển sau khi cắt mắt (8,53 µgALP/mg protein) và cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
so với hàm lượng vitellogenin cao nhất của tôm sú đầm ở lần đẻ thứ nhất (4,95 µgALP/mg protein); và tìm ra mối tương quan cao giữa hàm lượng vitellogenin trong huyết tương và sức sinh sản của tôm
- Luận án đã xác định được ở 3 lần đẻ đầu tiên của tôm sau cắt mắt có sức sinh sản cao, chất lượng của ấu trùng và hậu ấu trùng tốt; những lần đẻ
Trang 28tiếp theo thì chất lượng ấu trùng giảm dần; chất lượng ấu trùng và hậu ấu trùng
có nguồn gốc từ tôm cái biển tốt hơn tôm cái đầm
- Luận án cho thấy a-xít arachidonic bổ sung vào thức ăn chế biến có ảnh hưởng quan trọng đến số lần đẻ của tôm, sức sinh sản, tỷ lệ nở của trứng, nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm sú
Trang 29Chương 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Hiện trạng nuôi tôm nước lợ trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Nuôi tôm nước lợ thương phẩm trên thế giới
Theo Primavera (1985); Fast (1992); Jory & Carbrera (2003) và Briggs
et al (2005) thì nghề nuôi tôm biển được bắt đầu rất sớm từ các nước Đông
Nam Á với hình thức quảng canh; nhưng nghề nuôi tôm chỉ thật sự bắt đầu phát triển mạnh từ những thập niên 1970 và đến năm 1975 Ecuador là nước dẫn đầu thế giới về sản lượng tôm nuôi ở Tây Bán Cầu còn Đài Loan và Trung Quốc dẫn đầu ở Đông Bán Cầu Nhiều loài tôm biển được nuôi trên thế giới
nhưng hai loài được nuôi phổ biến nhất là tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) và tôm sú (Penaeus monodon) (Weidner & Rosenberry,1992) Tôm
thẻ chân trắng trước đây chỉ tập trung nuôi ở các nước Nam Mỹ nhưng từ năm
1995 đến nay tôm đã được di nhập vào nuôi ở nhiều quốc gia và lục địa Châu
Á như Đài Loan (1995), Philippines (1997), Trung Quốc và Thái Lan (1998)
Indonesia, Malaysia và Ấn Độ (2001) và Việt Nam (2002) (Briggs et al.,
2005) Theo FAO (2002) thì tôm sú được nuôi ở hơn 22 quốc gia trên thế giới Trong cơ cấu loài nuôi cho tới năm 2002 thì tôm sú vẫn đóng vị trí tiên phong, nhưng từ năm 2002 đến nay dưới sức ép của dịch bệnh tôm cũng như suy thoái môi trường, sản lượng tôm sú tăng lên không đáng kể và các nước chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng (FAO, 2009) Hiện tại, các quốc gia có nghề nuôi tôm biển xếp hàng đầu thế giới là Trung quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Ecuador, Bangladesh, Ấn Độ, Mê-xi-cô và Brazil (Joy, 2011) Bên cạnh đó, nghề nuôi tôm biển cũng phát triển đa dạng về mô hình nuôi như quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh (Jory &
Cabrera, 2003; Briggs et al., 2005)
Trang 30Tổng sản lượng Tôm sú Tôm chân trắng Các loài tôm khác
Hình 1.1: So sánh sản lượng các loài tôm biển nuôi trên thế giới (1999-2008)
(Nguồn: FAO, 2010b)
Theo FAO (2002) thì sản lượng tôm sú, tôm thẻ chân trắng và tôm thẻ Trung Quốc chiếm cao nhất Trong số các loài tôm biển nuôi giai đoạn này thì tôm sú thường chiếm 50–60% tổng sản lượng tôm nuôi trên thế giới Châu Á
là khu vực có nghề nuôi tôm biển phát triển nhất thế giới; năm 2003 thì sản lượng tôm nuôi trên thế giới đạt 1.804.932 tấn, trong đó tôm sú là 666.071 tấn (FAO, 2003) Theo FAO (2005) thì tổng sản lượng tôm sú nuôi vào năm 2005
là khoảng 650.000 tấn Sản lượng chung của hai loài tôm sú và thẻ chân trắng luôn chiếm khoảng 80% tổng sản lượng tôm nuôi thế giới (FAO, 2010a)
Theo FAO (2010b) thì vào năm 2008 tổng sản lượng tôm nuôi toàn cầu
đạt hơn 3.399.105 tấn, với tổng giá trị gần 14,3 tỷ đô-la Năm 2009, mặc dù
giá tôm trên thị trường có nhiều biến động do ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng sản lượng tôm đi vào các thị trường vẫn duy trì
ổn định (FAO, 2010a) Mặc dù, gần đây một số nước trên thế giới, đặc biệt là các nước Châu Á có sự gia tăng nhảy vọt về sản lượng tôm thẻ chân trắng nhưng theo số liệu thống kê của FAO (2010b) thì sản lượng tôm sú trong suốt thập niên qua vẫn duy trì ổn định và luôn ở mức cao FAO (2010b) ghi nhận từ năm 1999 đến năm 2002 thì sản lượng của tôm sú luôn cao hơn tôm thẻ chân
Trang 31trắng nhưng từ năm 2003 đến 2008 thì sản lượng tôm thẻ chân trắng tăng lên rất nhanh và cao hơn tôm sú rất nhiều (Hình 1.1)
1.1.2 Nuôi tôm nước lợ ở Việt Nam và Đồng bằng sông Cửu Long
1.1.2.1 Diện tích và sản lượng tôm nuôi nước lợ
Ngành nuôi trồng thủy sản của Việt Nam trong những năm qua có bước phát triển nhảy vọt cả về diện tích và sản lượng; năm 2010 sản lượng nuôi trồng thủy sản của cả nước đạt 2,7 triệu tấn, tăng 4,59 lần so với sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2000 (590.000 tấn) và chiếm 52,8% tổng sản lượng thủy sản Việt Nam (5,13 triệu tấn) (Hình 1.2)
Hình 1.2: Sản lượng nuôi trồng thủy sản Việt Nam giai đoạn 2000-2010
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2009 và 2010) (SL: sản lượng; NTTS: nuôi trồng thủy sản)
Cá nước ngọt (đặt biệt là cá tra – Pagasianodon hypophthalmus) và tôm nước lợ (tôm sú, Penaeus monodon và tôm thẻ chân trắng, Litopenaeus vannamei) là những đối tượng nuôi chính và có sản lượng cao nhất trong tổng
sản lượng Sản lượng tôm nuôi nước lợ của Việt Nam năm 2010 là 469.893 tấn, trong đó tôm sú đạt 333.174 tấn trên diện tích nuôi 613.718 ha và tôm chân trắng đạt 136.719 tấn trên diện tích nuôi 25.397 ha (Tổng cục Thủy sản, 2010) Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nuôi tôm trọng điểm của cả nước và
có tốc độ phát triển khá nhanh trong những năm qua, nhất là từ sau năm 2000 (Hình 1.3)
Trang 320 50 100 150 200 250 300 350
Hình 1.3: Sản lượng và diện tích nuôi tôm nước lợ ở ĐBSCL giai đoạn
2001-2010 (Nguồn: Dự án SEAT – Đại học Cần Thơ, 2001-2010)
ĐBSCL là vùng trọng điểm về nuôi trồng thủy sản của Việt Nam, các tỉnh như Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng và Bến Tre là những tỉnh
có diện tích và sản lượng tôm nuôi nước lợ lớn của ĐBSCL và cả nước (Hình 1.4) Trong số các loài tôm nước mặn/lợ của vùng thì tôm sú vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất; cả nước có 583.290 ha nuôi, chiếm 94,5% tổng diện tích nuôi mặn/lợ cả nước và sản lượng là 293.829 tấn chiếm 95% sản lượng tôm nuôi của cả nước (Bộ NN&PTNT, 2009) Diện tích nuôi tôm sú chủ yếu tập trung ở vùng Bán đảo Cà Mau với 264.522 ha chiếm 45% diện tích nuôi tôm của vùng trong khi tôm thẻ chân trắng mới được đưa vào nuôi trong năm 2008 với diện tích là 1.399 ha chiếm khoảng 0,23% tổng diện tích mặn/lợ của vùng; năm
2010 thì diện tích nuôi tôm sú giảm so với 2008 nhưng tỷ lệ nuôi thâm canh/bán thâm canh tăng từ 7,14% lên 13% (Bộ NN&PTNT, 2009; Sở NN&PTNT các tỉnh 2010)
Trang 33Hình 1.4: Diện tích và sản lượng nuôi tôm nước lợ theo tỉnh ở ĐBSCL giai đoạn
2001-2010 (Nguồn: Dự án SEAT - Đại học Cần Thơ, 2010)
1.1.2.2 Sự phát triển của các mô hình nuôi tôm nước lợ
- Lịch sử phát triển: Nghề nuôi tôm sú bắt đầu phát triển từ các tỉnh
ven biển miền Nam Trung bộ (tỉnh Khánh Hòa) từ những năm 1980 với mô hình quảng canh cải tiến sử dụng nguồn giống bổ sung từ khai thác tự nhiên ở vùng triều với mật độ thả nuôi 1-3 con/m2 (Nguyễn Tử Cương và ctv., 2007)
Theo Vũ Đỗ Quỳnh (1989) thì nghề nuôi tôm chỉ thật sự phát triển sau năm
1987 và nuôi tôm thương phẩm phát triển mạnh vào những năm đầu thập kỷ 90; nhưng đến giữa thập kỷ 90 (1994-1995) thì sự phát triển nuôi tôm ở Việt Nam có phần chững lại do gặp phải nạn dịch bệnh tôm đầu tiên xuất hiện, đặc biệt là ở các tỉnh ĐBSCL; những năm sau đó thì dần khôi phục và phát triển nhanh Theo Trần Văn Nhường và Bùi Thị Thu Hà (2005) thì sự bùng nổ của nghề nuôi tôm thương phẩm được đánh dấu từ năm 2000 khi nghị quyết 09/2000/NQ-CP của chính phủ Việt Nam được ban hành; theo đó các địa phương được phép chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa, làm muối năng suất thấp, đất hoang hóa sang nuôi trồng thủy sản mà tập trung chủ yếu ở ĐBSCL
Trang 34- Phương thức nuôi: Theo Trần Ngọc Hải và ctv (2009) thì có rất nhiều
mô hình nuôi tôm biển đang được áp dụng trên thế giới và Việt Nam như mô hình quảng canh (QC), quảng canh cải tiến (QCCT), bán thâm canh (BTC), thâm canh (TC), nuôi kết hợp tôm-rừng và luân canh tôm-lúa Sự phát triển của các mô hình tùy vào từng vùng sinh thái, đặc biệt là trong những năm qua
đã có sự dịch chuyển theo hướng ngày càng thâm canh cao hơn, mà chủ yếu là tăng mật độ giống thả Theo Nguyễn Thanh Long (2010) thì mật độ tôm sú thả nuôi ở tỉnh Sóc Trăng của mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến là 7,56 con/m2, tôm lúa là 7,74 con/m2, bán thâm canh là 15,02 con/m2, và thâm canh
là 26,29 con/m2; còn theo báo cáo của Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009) thì mật độ nuôi tôm-lúa luân canh không quá 7 con/m2, tôm rừng từ 2-3 con/m2, bán thâm canh 8-10 con/m2, thâm canh từ 25-40 con/m2 Tổng diện tích nuôi tôm của cả nước năm 2007 rất lớn, khoảng 619.876 ha nhưng chủ yếu là mô hình quảng canh cải tiến chiếm 54,5%, trong khi đó hình thức nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh rất thấp 61.082 ha chiếm 9,9% (Bảng 1.1) Tổng diện tích nuôi tôm sú ở ĐBSCL năm 2010 là 558.740 ha trong đó phần lớn là diện tích nuôi QCCT (chiếm 55%), nuôi tôm-lúa luân canh là 25% và nuôi BTC/TC là 13% (Bảng 1.3) Bảng 1.2 cũng cho thấy là
cơ cấu về phương thức nuôi ở các tỉnh ĐBSCL có xu hướng là nuôi thâm canh tăng và nuôi tôm quảng canh cải tiến giảm dần
Bảng 1.1: Cơ cấu diện tích nuôi tôm sú cả nước theo hình thức nuôi năm 2007
nuôi (ha) 619.876 61.082 337.683 168.633 3.834 48.644
Nguồn: Bộ NN&PTNT (2009)
Trang 35Bảng 1.2: Diễn biến diện tích nuôi tôm nước lợ theo các phương thức nuôi ở các
tỉnh ĐBSCL qua một số mốc thời gian
Bến Tre
Trà Vinh
Sóc Trăng
Bạc Liêu
Cà Mau
Kiên Giang
Hậu Giang
Toàn vùng
Tỷ lệ (%)
TC/BTC - 517 700 4.894 1.227 1.798 100 75 - 9.311 2 QCCT 3.236 2.100 26.573 5.668 6.039 51.594 157.298 21.440 - 273.948 65 Tôm-lúa - - - - 40.794 28.916 14.500 5.285 - 89.495 21 Tôm-
vườn - - - - - - 3.834 - - 3.834 0,66
2007
Tôm-rừng - - 3.358 9.719 822 - 33.000 1.745 - 48.644 8,32
Nguồn: Bộ NN&PTNT (2009); Ghi chú: BT: bán thâm canh; TC: thâm canh; QCCT: quảng
canh cải tiến
Bảng 1.3 Các phương thức nuôi tôm sú ở ĐBSCL năm 2010
Phương thức nuôi Diện tích nuôi tôm sú (ha) Tỷ lệ (%)
Trang 36- Sản lượng: Theo Cục Nuôi trồng Thủy sản (2008) thì sản lượng tôm
sú nuôi của năm 2007 là 315.435 tấn (~84,12% tổng sản lượng tôm nuôi cả nước) Sản lượng nuôi nước lợ cả nước năm 2010 tăng lên 469.893 tấn trong
đó tôm sú nuôi là 333.174 tấn (Tổng cục Thủy sản, 2011) Những năm gần đây thì diện tích nuôi tôm của Việt Nam tăng chậm nhưng sản lượng và năng suất tiếp tục gia tăng do quá trình thâm canh hóa ĐBSCL luôn chiếm tỷ trọng
>80% về diện tích và tổng sản lượng tôm của cả nước (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009)
- Qui hoạch: Bộ NT&PTNT (2009) đã qui hoạch cho vùng nuôi tôm sú
ở ĐBSCL theo xu hướng thâm canh hóa là diện tích nuôi tôm bán thâm canh tăng dần; diện tích QCCT sẽ giảm nhưng vẫn giữ diện tích lớn nhất định để đảm bảo sự phát triển bền vững (Bảng 1.4)
Trang 37Bảng 1.4: Quy hoạch nuôi tôm sú theo phương thức nuôi ở ĐBSCL
Đại phương Năm qui
hoạch
Phương thức nuôi Long
An
Tiền Giang
Bến Tre
Trà Vinh
Sóc Trăng
Bạc Liêu
Cà Mau
Kiên Giang
Tổng cộng
Trang 381.2 Sản xuất giống tôm biển (Penaeus) trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Sản xuất giống tôm biển (Penaeus) trên thế giới
Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009) đã tóm lược các bước
tiến quan trọng của nghề sản xuất tôm biển trên thế giới là (i) năm 1933 thì Hudinaga lần đầu tiên sản xuất giống tôm biển (Penaeus japonicus) thành công,
mô hình bể lớn; (ii) năm 1966 thì Cook và Murphy thành công trong sản xuất giống tôm Penaeus setiferus và Penaeus aztecus với mô hình Galveston ở Texas; (iii) thập kỷ 60-70 thì mô hình Galveston được ứng dụng rộng rãi ở các nước Châu Á với các loài Penaeus monodon, Penaeus merguiensis, Penaeus indicus, Penaeus orientus từ nguồn tôm mẹ tự nhiên; (iv) thập kỷ 70 và 80 thì nhiều loài tôm được nuôi vỗ và cho sinh sản thành công trong trại; (v) chương trình sản xuất giống tôm sạch bệnh và miễn bệnh đã được bắt đầu tại Mỹ trên tôm Penaeus vannamei năm 1989 và Pháp năm 1987; (vi) năm 1995 thì chương trình gia hoá tôm cái được tiến hành ở Úc trên tôm Penaeus japonicus; (vii) ương ấu trùng tôm
biển theo mô hình tuần hoàn được tiến hành ở Tahiti và Polynesia (Pháp) từ thập
Ở Đông Nam Á thì ứng dụng kỹ thuật của Nhật Bản do Kittaka thiết lập năm 1994 và sử dụng rộng rãi ở hầu hết các trại giống (Bộ Thủy Sản, 2001a) Các
Trang 39trại sản xuất tôm sú giống qui mô lớn ở Philippines hoạt động từ năm 1973 và ở Thái Lan công nghệ sản xuất tôm biển thành công từ năm 1968 ở Phuket, Songkhla và Rayong (Bộ Thủy Sản, 2001c)
1.2.2 Sản xuất giống tôm sú (Penaeus monodon) ở Việt Nam
- Lịch sử: Theo Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009) thì ở
Việt Nam các nghiên cứu sinh sản nhân tạo tôm biển đầu tiên được tiến hành ở
miền Bắc từ những năm đầu thập kỷ 70 trên các loài như Penaeus merguiensis, Penaeus penicilatus và Penaesu japonicus; và năm 1982 thì trại sản xuất giống
tôm biển lớn được thành lập ở Qui Nhơn do FAO hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật Từ năm 1984 đến 1985 thì kỹ thuật sản xuất giống tôm sú đã được ứng dụng thành công ở Nha Trang và dần trở thành đối tượng chủ yếu trong nghề sản xuất giống
và nuôi tôm biển ở nước ta (Vu Do Quynh, 1992; Nguyen Minh Nien & Lin, 1996)
Bảng 1.5: Số trại và sản lượng tôm sú giống của cả nước và ĐBSCL qua các năm
- Phát triển trại giống: Số lượng trại sản xuất giống (SXG) tôm sú tăng
lên đáng kể từ năm 1994 đến năm 2005; năm 1994 cả nước có 800 trại sản xuất
Trang 40giống thì đến năm 1999 là 2.021 trại, và 2002 là 4.931 trại và cao nhất là năm
2004 có 5.071 (Bảng 1.5) Tuy nhiên, năm 2005 thì số lượng trại bắt đầu giảm còn 4.281 trại đến năm 2009 chỉ còn khoảng 3.377 trại (Cục Nuôi trồng Thủy sản, 2010)
Năm 2009 ở ĐBSCL có 1.105 trại SXG tôm nước lợ đang hoạt động, trong
đó có 1.100 trại SXG tôm sú và 5 trại SXG tôm chân trắng và đã sản xuất hơn 9
tỷ tôm sú giống và hơn 250 triệu tôm chân trắng giống (Cục Nuôi trồng Thủy sản, 2009) Các tỉnh có năng lực SXG tôm mạnh nhất ở ĐBSCL là Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, Kiên Giang và Bến Tre, nhưng số lượng tôm giống chỉ đáp ứng được 40,5% nhu cầu của nghề nuôi trong vùng (Bộ NN&PTNT, 2009) Năm 2010 thì ĐBSCL có 1.220 trại với sản lượng tôm giống là 20,915 tỷ con giống đáp ứng 50,8% lượng giống thả nuôi (Sở NN&PTNT các tỉnh ĐBSCL, 2010)
Bảng 1.6 cho thấy Cà Mau là tỉnh có số trại nhiều nhất (819 trại) với sản lượng là 7,967 tỷ tôm giống; nhưng Bạc Liêu dù có ít trại hơn (160 trại) nhưng sản lượng tôm giống lại cao nhất vùng là 9,672 tỷ con Tỉnh có số trại thấp nhất là Long An (1 trại) Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang và Sóc Trăng có diện tích nuôi lớn nhất của ĐBSCL nên số lượng giống nhập vào cũng tăng cao cụ thể ở tỉnh Cà Mau nhập giống vào cao nhất kế đến là Bạc Liêu và Kiên Giang, Sóc Trăng, (Bảng 1.6)