1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy vai trò quản lý nhà nước đảm bảo cho sự phát triển công nghiệp ô tô ở VN hiện nay

39 378 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát huy vai trò quản lý nhà nước đảm bảo cho sự phát triển công nghiệp ô tô ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Bính Dần
Người hướng dẫn PGS.TS Phan Kim Chiến
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Đề án môn học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 294 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : Phát huy vai trò quản lý nhà nước đảm bảo cho sự phát triển công nghiệp ô tô ở VN hiện nay

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá để tiến lên chủ nghĩa xã hội cùng với xu thế hội nhập nền kinh tế của mỗi nước với khu vực và toàn thế giới Việt Nam đang hết sức nỗ lực để cùng hội nhập và phát triển với kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới

Việc tham gia vào wto, và tiến trình của hiệp định khu vực ưu đãi thuế quan(AFTA) của khối ASEAN sẽ buộc chính phủ Việt Nam phải

có những bước đi và chính sách thích hợp để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam thích ứng được với tiến trình hội nhập và đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam khi tiến trình hội tham gia AFTA của Việt Nam hoàn tất vào năm 2006, và lộ trình gia nhập wto ngày một đến gần

Mặc dù là một ngành công nghiệp còn rất non trẻ, ngành công nghiệp ôtô của Việt Nam sẽ phải đối đầu với rất nhiều thách thức trong giai đoạn hiện nay Có thể nói ngành công nghiệp ôtô của Việt Nam mới khởi đầu từ năm 1991 với sự thành lập của hai liên doanh ôtô đầu tiên của Việt Nam là Liên doanh ôtô Mekong và Xí nghiệp sản xuất ôtô Hoà Bình(VMC) cho đến nay đã có 14 Liên doanh ôtô tại Việt Nam và hiện chính thức có 11 liên doanh đang hoạt động Mặc dù số lượng liên doanh ôtô của Việt nam nhiều như vậy nhưng ngành công nghiệp hiện mới chỉ dừng lại ở công nghệ lắp ráp(CKD), chưa có nhà máy lớn sản xuất xe ôtô dạng IKD Vì vậy có thể thấy trước rằng các liên doanh ôtô Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn và thách thức trong giai đoạn tới

Do đó trong một khuôn khổ thời gian ngắn là 5 năm(từ nay đến năm 2006) Các liên doanh lắp ráp ôtô tại Việt Nam cần phải có những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh với các sản phẩm của các nước trên thế giới Đồng thời Chính phủ Việt Nam cũng cần

Trang 2

phảit nghiên cứu và đưa ra các chính sách hỗ trợ đúng đắn và kịp thời trợ giúp cho các liên doanh lắp ráp ôtô tại Việt Nam.

Với kiến thức học được và thực tiễn tích lũy, em đã quyết định chọn đề tài: “Phát huy vai trò quản lý nhà nước đảm bảo cho sự phát triển công nghiệp ô tô ở Việt Nam hiện nay” làm đề án môn học

Mục đích nghiên cứu của đề tài: xem xét khả năng cạnh tranh của các liên doanh lắp ráp ôtô tại Việt Nam và từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm ôtô sản xuất tại Việt Nam giai đoạn tới Đề tài gồm 3 phần:

+Phần I:Cơ sở lý luận về quản lý và quản lý nhà nước về kinh tế

+Phần II: Quản lý của nhà nước đối với ngành công nghiệp ô tô giai đoạn vừa qua

+Phần III: Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đảm bảo cho sự phát triển công nghiệp ô tô hiện nay

Đây là một đề tài mang tính thời sự nóng bỏng và do có những hạn chế về trình độ và thời gian nên chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết Em rất mong nhận được những

ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và bạn bè để Bài khoá luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình và chu đáo của Thầy giáo PGS.TS Phan Kim Chiến đã giúp em hoàn thành đề án này

Trang 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

KINH TẾ 1.1 Quản lý nhà nước về kinh tế là một tất yếu khách quan

1.1.1 Nhà nước và quản lý nhà nước về kinh tế

1.1.1.1 khái niệm nhà nước

Khi lực lượng sản xuất còn kém phát triển, của cải xă hội còn chưa dư thừa, chế

độ tư hửu và giai cấp chưa xuất hiện thì loài người xử sự với nhau một cách tự giác hoặc bằn guy tín của các thủ lỉnh, lănh tụ cộng đồng.lúc này nhà nước chưa xuất hiện

Khi lực lượng cản xuất phát triển đến một mức độ nào đó thì xúât hiện tư hửu, giai cấp và nhửng mâu thuẩn về lợi ích giưă nhửng nhóm người đòi hỏi một cơ quan thiết chế quyền lực chính trị.lúc này xuất hiện nhà nước

Nhà nước một mặt là cơ quan thống trị của một hoặc một số giai cấp này lên một hoặc một số giai cấp khác,mặt khác Nhà nước phải duy trì và phát triển xă hội Như vậy nhà nước một mặt là cơ quan thống trị của một hoặc một số giai cấp này lên một hoặc một số giai cấp khác, mặt khác còn là quyền lực công đại diên cho lợi ích chung của cộng đồng xă hội nhằm duy trì và phảt triển xă hội trước lịch

sử và các nhà nước khác

1.1.1.2 Quăn lý nhà nước về kinh tế

Quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân là sự tác động có tổ choc và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân,nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có,từ đó đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đă đặt ra trong điều kiện gội nhập và giao lưu kinh tế quốc tế

Một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với những khuyết tật của của

nó thì quá trình quản lý của nhà nước là một tất yếu khách quan.Tuy nhiên việc

Trang 4

quãn lý như thế nào, định hướng ra sao thì lai tùy thuộc vào thể chế chính trị va đường lối phát triển kinh tế mà mổi quốc gia lựa chọn.

Nhận thức về quãn lý Nhà nước về kinh tế chúng ta cần làm rõ một số vấn đề sau: Thứ nhất: thực chất của quãn lý nhà nước về kinh tế là quá trình tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực mà nhà nước có thể huy động nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước

Thứ hai: Bản chất của quãn lý nhà nước về kinh tế là đặc trưng thể chế chính trị của đất nước; Nó phản ánh nhà nước là công cụ của giai cấp hoặc lực lượng chính trị xã hội nào? Nó dựa vào ai và hướng vào ai để phục vụ?

Thứ ba: Quản lý Nhà nước về kinh tế vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật: Tính khoa học thể hiện ở chổ nó có đối tượng nghiên cứu nghiên cứu cụ thể

và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể_Đó là các quy luật và nhửng vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ kinh tế của các chủ thể thamgia các hoạt động kinh tế.Tính nghệ thuật phản ánh thôngqua trình độ hiểu biết, nhân cách, bản lỉnh của cácnhà quãn lý kinh tế; Thông qua phong cách làm việc, phương pháp và hình thức

tổ choc quản lý

1.1.2 Khuyết tật của nền kinh tế thị trường đòi hỏi “bàn tay hữu hình” của nhà nước.

Sự phảt triển của lực lượng sản xuất và trình độ xã hội hóa càng cao thì đòi hỏi khách quan của quãn lý nhà nước về kinh tế càng lớn và chặt chẽ Đối với một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì quãn lý của nhà nước càng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hạn chế của mổi quốc gia

Sự vận động và phát triển không ngừng của lực lượng sãn xuất, sẽ làm thay đổi kiến trúc thượng tầng Sự thay đổi này có thể dẩn đến sự mất cân đối và hệ lụy của

nó là kìm hảm sự phát triển của nền kinh tế Đặc biệt khi yếu tố hội nhập tác động mạnh mẽ, quan hệ kinh tế quốc tế phát triển làm cho nền kinh tế càng biến động mạnh và phức tạp.Nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến vận mệnh của nền kinh tế mổi

Trang 5

quốc gia Lúc này Nhà nước không chỉ đơn thuần thực hiện chức năng bảo vệ an ninh xã hội nữa mà còn phảI hiểu sâu sắc quy luật vận động và phát triển của nền sản xuất xã hội, nắm vững và dự báo về diễn biến kinh tể trong nước và trên thế giới, sử dụng các công cụ và phương pháp quãn lý phù hợp để có thể tác động trực tiếp, điêù tiết mối quan hệ kinh tế đối ngoại; Làm tốt chức năng định hướng cho sự phát triển ngành, vùng, thành phần kinh tế đãm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững phù hợp với quy luật khách quan.

Như vậy trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì vai trò của quản

lý nhà nước về kinh tế là rất quan trọng Quãn lý nhà nước về kinh tế là một tất yếu khách quan thể hiện rĩ trong các mặt sau:

Thứ nhất: Kinh tế thị trường đề cao lợi ích cá nhân, do đó mỗi cá nhân, doanh

nghiệp, tổ choc đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, tuy nhiên hoạt động đó lại làm tổn hại đến những cá nhân, tổ chức khác Hệ lụy của nó là các yếu tố kinh tế chồng chéo lẫn nhau, triệt tiêu lẫn nhau; Mất cân bằng kinh tế; Nguồn lực phân bổ không hợp lý; Các hệ lụy về chính trị xã hội khác…

Để khắc phục nhược điểm này chỉ có nhà nước là có đủ quyền lực và tiềm lực, bằng những chương trình chiến lược phát triển, kế hoạch phát triễn cụ thể hóa bằng những mục tiêu khách quan, từ đó định hướng phát triển cho các cá nhân, doanh nghiệp, các ngành, vùng và các thành phần kinh tế

Không có bàn tay của nhà nước sẽ không có một cơ cấu kinh tế hợp lý mà ở đó

có những ngành, vùng đóng vai trò làm đầu tàu thúc đẩy cả hệ thống kinh tế, lãnh thổ kinh tế cùng phát triển hướng tới mục tiêu chung Không có bàn tay của nhà nước, sẽ không có những nguồn lực cần thiết tạo đà cho sự phát triễn, mà vấn đề quan trọng nhất làm tiền đề cho sự phát triển đó là kết cấu hạ tầng

Thứ hai: Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các hoạt động kinh

tế chịu sự tác động của các quy luật thị trường mà tại đó các thành viên kinh tế quan tâm là lợi ích và lợi nhuận Trong khi đó để tạo ra sự công bằng và tạo động

Trang 6

lực cho nền kinh tế phát triển thì đây lại là một nhược điểm của cơ chế thị trường Điều đó đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước Đó là những hàng hóa công cộng, những công trình kết cấu hạ tầng mang laị lợi ích chung nhưng xét trên khía cạnh tài chính thì không mang laị lợi nhuận về mặt giá trị tiền tệ Như vậy chỉ có nhà nước mới đủ tiềm lực tài chính để đảm bảo cho việc cung cấp những hàng hóa này Mặt khác mỗi thành viên kinh tế chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân của mình cho nên hoạt động của người này có thể gây thiệt hại cho người khác hoặc cho xã hội, tuy nhiên nó lại không được phản ánh vào chi phí của cá nhân, doanh nghiệp đó.

Do vậy nhà nước với tư cách là chủ thể của nền kinh tế, vối những mục tiêu kinh tế vĩ mô đòi hỏi phải cung cấp những hàng hóa và dịch vụ công cộng , và đãm bảo cho nền kinh tế phát triển công bằng , không có sự triệt tiêu lẫn nhau, làm mất cân đối tới sự phát triễn nền kinh tế

Thứ ba: Nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường không thể tách

rời môI trường chính trị, kinhtế, văn hóa, đối ngoại Nếu môi trường không ổn định, có sự xung đột giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; Các quan hệ kinh tế không lành mạnh, thì nền kinh tế không thể phát triển được Mặt khác khi những khuyết tật của cơ chế thị trường không thể khắc phục , thì nó lai làm môi trường kinh tế, chính trị, xã hội và đối ngoại không ổn định và lành mạnh Chính những nhược điểm này đẻ ra xu hướng phủ định nhửng điều kiện hoạt động của bản thân nó: Đó là bất bình đẳng, là phân hóa giàu nghèo, vấn đề môi sinh môi trường và quan trọng nhất là nguồn lực phân bổ không hiệu quả

Mâu thuẩn lợi ích kinh tế giũa các giai tầng xã hội là nhược điểm cơ bản nhất chi phối toàn bộ hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường Bản thân nó không khắc phục được mà đòi hỏi bàn tay của nhà nước Nhà nước sẽ đảm bảo về mặt kinh tế, chính trị, xã hội nhằm duy trì quan hệ lợi ích giữa các giai tầng xã hội trong khuôn khổ của quan hệ sản xuất thống trị của giai cấp thống trị nhằm đảm bảo quyền lợi

và địa vị của chính giai cấp đó

Trang 7

Thứ tư: Hiện nay xu hướng toàn cầu hóa ngày một gia tăng Sự chủ động hòa

nhập vào nền kinh tế toàn cầu ngày một lớn nó phát sinh ra nhửng vấn đề mang tính chất ngày một phức tạp hơn Mối quan hệ lợi ích quốc gia phát sinh và đòi hỏi nhà nước phải giải quyết một cách hợp lý Nhà nước phảI ngăn ngừa và khắc phục những tác động tiêu cực, mặt khác phải khai thác tối đa nguồn lưc bên ngoài

Để làm được điều đó vượt xa tầm của môt doanh nghiệp dù doanh nghiệp đó

có tiền lực kinh tế mạnh đến mức nào Vì nhà nước ngoài mạnh về kinh tế còn là một chủ thể kinh tế độc lập có chủ quyền, lợi ích riêng và nắm tiềm lực kinh tế quốc phòng quan trọng Do vậy không chỉ có quan hệ lợi ích kinh tế giữa các giai tầng trong nước mà quan hệ lợi ích kinh tế giữa các quốc gia cũng đặt ra những vấn

đề đòi hỏi việc nâng cao vai trò quản lý của nhà nước

Thứ năm: Vai trò quãn lý của nhà nước về kinh tế không chỉ là sự điều tiết,

khống chế, định hướng bằng pháp luật, các đòn bẩy kinh tế, các chính sách, biện pháp kích thích mà còn bằng thực lực kinh tế cua mổi quốc gia_tức là bằng sức mạnh của hệ thống kinh tế quốc gia và cáccông cụ kinh tế đặc biệt khác

Đó là hệ thống các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước một mặt là công cụ quãn lý của nhà nước, mặt khác còn là lực lượng kinh tế trực tiếp tham gia hình thành, mở rộng quan hệ thị trường

Như vậy vai trò của nhà nước trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trượng

là rất quan trọng Với tư cách là chủ thể chủa nền kinhtế quốc dân, Nhà nước sẽ điều tiết, khống chế, định hướng nền kinh tế phảt triển theo phướng, mục tiêu riêng

1.2 Quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam hiện nay

Quá trình quản lý kinh tế xã hội của nước ta dựa trên nguyên tắc đảng lãnh đạo,

nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bầng, dân chủ, văn minh; Thực hiện công nghiệp hóa_hiện đại hóa đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đãm bảo chủ động hội nhập quốc tế.Quá trình quãn lý này có một số đặc điểm cơ bản sau:

Trang 8

1.2.1 Đãm bảo lảnh đạo của đảng trên mặt trận kinh tế và quản lý kinh tế

Đảng cộng sản việt nam dưới ánh sáng chủ nghĩa mac_lennin và tư tưởng Hồ Chí Minh là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật

Đảnh phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa với đặc trương cơ bãn: 1) Là

xã hội do nhân dân lao động làm chủ; 2) Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sãn xuất phát triển và chế độ công hữu một số tư liệu sãn xuất chủ yếu; 3) Có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bãn sắc dân tộc; 4) Con người phảI được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no , tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; 5) Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, giúp đở lẫn nhau cùng tiến bộ; 6) Có quan

hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới

Kiên quyết chống lại 4 nguy cơ đe dọa đất nước:

Thứ nhất: Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế

Thứ hai: Nguy cơ diển biến hòa bình

Thứ ba: Nguy cơ chệch hướng xã hội chũ nghĩa

Thứ tư: Nguy cơ của nạn tham nhũng và tệ quan liêu cùng với ngững suy thoái phẩm chất đạo đức của một số cán bộ quản lý

Đảng phải xây dung và thực hiện tốt các chính sách kinh tế xã hội

1.2.2 Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý của mình đối với nền kinh tế nói riêng, kinh tế xã hội nói chung

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chũ

nghĩa, giữ vững trật tự, kỹ cương, chống tham nhũng

Nhà nước phải sữ dụng tốt các công cụ quản lý của mình.Thông qua đó ý chí của nhà nước được truyền tải một cách có hệ thống tới toàn bộ nền kinh tế

Trang 9

Nhà nước phải thực hiện tốt các choc năng quản lý của mình.Thông qua đó thể hiện đậm nét vai trò quản lý của mình, đồng thời quá trình quản lý trở nên thống nhất và mang lại hiệu quả cao.

1.3 Công cụ và phương pháp quản lý của nhà nước về kinh tế

1.3.1 Công cụ quản lý của nhà nước về kinh tế

Công cụ quản lý của nhà nước về kinh tế là lổng thể các phương tiện hữu hình

và vô hình, mà nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế trong xã hội, nhằm mục tiêu quản lý nền kinh tế quốc dân

Như vậy thông qua các công cụ quản lý của mình , nhà nước có thể truỳen tảI được ý định và ý chí của mình lên mọi tổ choc, cá nhân thuộc lãng thổ quốc gia và những khu vưc chiu sự ảnh hưởng

Hệ thống các công cụ quản lý của nhà nước có một số đặc trưng cần hiểu rõ như sau:

Thứ nhất: Mang tính chủ thể Chủ thể sữ dụng các công cụ quản lý của nhà

nước, là các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế

Thứ hai: Mang tính mục đích Các công cụ quản lý của nhà nước nhằm thực

hiện các mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô, chứ không phảI là muc tiêu quản lý từng ngành, từng địa phương, từng tổ choc

Thứ ba: Mang tính hệ thống Các công cụ quản lý của nhà nước là một hệ

thống nhiều chủng loại, có thể là công cụ hửu hình hoặc vô hình

1.3.1.1 Pháp luật

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xữ sự có tính bắt buộc chung thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và cộng đồng xã hội, do nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ, nhằm mục tiêu bảo toàn và phát triển xã hội theo các đặc trưng đã định

Nhà nước việt nam thực tiễn có hai loại văn bãn pháp luật điều chĩnh hoạt động quản lý của nhà nước về kinh tế, đó là văn bãn quy phạm pháp luật và văn bãn áp dụng quy phạm pháp luật:

Trang 10

Thứ nhất: văn bãn quy phạm pháp luật Đây là văn bãn có vai trò quan trọng

Văn bản do Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp ban hành để thị hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, ủy ban thường vụ quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; Văn bản do ủy ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp

Khi nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật cần chú ý các đặc điểm sau:

− Phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành;

− Hình thức văn bản, thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành văn bản, được quy định trong luật;

− Nội dung của văn là các quy tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật) áp dụng trong một phạm vi nhất định nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội;

− Nhà nước bảo đảm việc thực hiện các quy phạm pháp luật;

Thứ hai: là văn bản áp dụng quy phạm pháp luật

Văn bản áp dụng quy phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về kinh tế là những văn bản có tính chất cá biệt do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhưng không có đầy đủ các yếu tố của văn bản quy phạm pháp luật, thường được ban hành để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể đối với đối tượng cụ thể như các quyết định bổ nhiệm, bãi nhiệm, đề bạt, nâng lương, khen thưởng, kỹ luật, điều động công tác đối với cán bộ công chức nhà nước

Trang 11

* Pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý nhà nước về kinh tế.

Thứ nhất: Tạo tiền đề pháp lý vững chắc để điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế,

duy trì sự ổn định lâu dài của nền kinh tế quốc dân nhằm mục tiêu phát triển kinh tế bền vững

Thứ hai: Tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi và

nghĩa vụ giữa các chủ thể kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế quốc dân

Thứ ba: tạo cơ sở pháp lý cần thiết để kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và

phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

* Trong giai đoạn hiện nay sự phát triển của nền kinh tế một cách nhanh chóng, cùng với đó là những yếu tố mới từ quá trình hội nhập đòi hỏi nhà nước cần hoàn thiện và tăng cường đổi mới hệ thống pháp luật theo hướng sau:

Thứ nhất: cần nghiên cứu và ban hành các đạo luật có liên quan đến việc tạo

môi trường pháp lý chính thức, ổn định cho sự hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế thị trường

Thứ hai: Quán triệt đầy đủ nguyên tắc bình đẳng trong quá trình xây dung và

thực thi hệ thống pháp luật quản lý nhà nước về kinh tế

1.3.1.2 Kế hoạch

* Kế hoạch là quá trình xây dung, quán triệt, chấp hành và giám sát, kiểm tra việc thực hiện phương án hành động trong tương lai

* Tùy thuộc vào đường lối phát triển kinh tế và thể chế chính trị của mổi quốc gia

để xác định vai trò của quản lý kế hoạch vĩ mô trong quản lý kinh tế.ở việt nam chúng ta hiện nay quản lý kế hoạch vĩ mô đóng vai trò hết sức quan trọng trong quản lý kinh tế quốc dân.Cụ thể:

Trước hết quản lý kế hoạch vĩ mô là căn cứ cơ bản của quản lý kinh tế quốc dân

Thứ hai: Đây là một khâu quan trọng và là một bộ phận cấu thành hữu cơ của

quản lý kinh tế quốc dân

Trang 12

Thứ ba: Quản lý hế hoạch vĩ mô là một công cụ quan trọng của nhà nước để

điều hành nền kinh tế vĩ mô

Một hệ thống các chính sách kinh tế đồng bộ, phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước trong tong thời kỳ lịch sử nhất định, sẽ đãm bảo cho sự vận hành của

cơ chế thị trường một cách hiệu quả và năng động.Ngược lại sẽ gây ra phản ứng dây chuyền tiêu cực đến các chính sách khác

1.3.1.4 Tài sản quốc gia

* Tài sản quốc gia là tất cả các nguồn lực của đất nước Theo nghĩa hẹp thì đây là nguồn vốn và các phương tiện vật chất kỹ thuột mà Nhà nước có thể sử dụng để tiến hành quản lý kinh tế quốc dân

* Tài sản quốc gia là cơ sở vật chất mà kinh tế hà nước dựa vào đó mà phát triển, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, đảm bảo nguồn thu của nhà nước và đảm bảo cho nhu cầu vật chất ngay một gia tăng của nhân dân

1.3.2 Phương pháp quản lý của nhà nước về kinh tế

1.3.2.1 Khái niệm: Phương pháp quản lý của nhà nước về kinh tế là tổng thể những

cách thức tác động có chủ đích và có thể có của nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thành của nó để thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân

Trang 13

1.3.2.2 Phương pháp hành chính

* Phương pháp hành chính trong quản lý nhà nước về kinh tế là cách thức tác động trực tiếp của Nhà nước thông qua các quyết định dứt khoát mang tính bắt buộc lên đối tượng quản lý nhà nước về kinh tế, nhằm thực hiện mục tiêu của quản lý kinh tế

vĩ mô trong những trường hợp nhất định

* Đặc điểm cơ bản nhất của phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế của Nhà nước là tính bắt buộc và tính quyền lực.Nó phản ánh rỏ bản chất của nó là sử dụng quyền lực nhà nước để tạo sự phục ting của các cá nhân và tổ chức trong hoạt động

và trong quản lý kinh tế

Phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế có vai trò rất quan trọng: Nó tạo nên trật tự kỹ cương làm việc trong hệ thống; Kết nối các phương pháp khác lại với nhau thành một thể thống nhất; Có thể giấu được ý đồ hoạt động và giải quyết các vấn đề đặt ra trongquản lý rất nhanh chóng

Phương pháp hành chính tác động lênđối tượng quản lý theo hai hướng: Tác động

về mặt tổ choc và tác động điều chỉnh hành động của đối tượng quản lý kinh tế

Tác dộng hành chính có hiệu lực ngay khi ban hành quyết định, do đó phương pháp hành chính có vai trò rất lớn trong trường hợp hệ thống quản lý rơi vao tình trạng khó khăn, phức tạp

1.3.2.3 Phương pháp kinh tế

* Phương pháp kinh tế trong quản lý nhà nước về kinh tế là cách thức tác động gián tiếp của Nhà nước, dựa trên nhửng lợi ích kinh tế mang tính hướng dẩn,lên đối tượng quản lý nhà nước về kinh tế, nhằm làm cho họ quan tâm đến hiệu quả cuối cùng của hoạt động, từ đó mà tự giác, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không cần có sự tác động thường xuyên của Nhà nước bằng phương pháp hành chính

* Phương pháp này đánh vào lợi ích kinh tế, từ đó tạo ra động lực cho đối tượng quản lý vừa năng động trong công việc, vừa đảm bảo hài hòa lợi ích cá nhân với lợi

Trang 14

ích chung của cả hệ thống.Thực chất của phương pháp nay là đặt đối tượng quản lý vào điều kiện kinh tế nhất định từ đó để họ có khả năng kết hợp với lợi ích chung của cả hệ thống.

* Phương pháp kinh tế không tác động trưc tiếp, không có sự cưởng bức mà tácđộng thông qua lợi ích, tức là đặt ra cácmục tiêu nhiệm vụ và đưa ra nhửng điều kiện khuyến khích về kinh tế, nhửng phương tiện vật chất mà họ có thể sử dụng để

họ tự tổ choc thực hiện nhiêm vụ được giao

1.3.2.4 Phương pháp giáo dục

* Phương pháp giáo dục trong quản lý nhà nước về kinh tế là cách thức tác động của nhà nước vào nhận thức và tình cảm của những con người thuộc đối tượng quản lý của Nhà nước về kinh tế, nhằm nâng cao tính tích cực, tự giác, tự chịu trách nhiệm của họ trong việc hoàn thành những nhiệm vụ được giao

* Suy cho cùng thì đối tượng của quản lý là con người do đó phương pháp này có ý nghĩa to lớn Muốn làm tốt điều này chúng ta phải vận dụng tốt các quy luật tâm lý.Phương pháp giáo dục thường được kết hợp với các phương pháp khác một cách linh hoạt, uyển chuyển

* Có nhiều hình thức giáo dục, tùy thuộc vào nhửng nội dung khác nhau mà chúng

ta sử dụng các hình thức khác nhau,chẳng hạn: Thông qua sách báo, truyền thanh

và truyền hình,thông qua các tổ chức đoàn thể, các hoạt động xã hội khác

1.4 Chức năng cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế

1.4.1 Khái niệm

Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là hình thức biểu hiện phương hướng

và giai đoạn tác động có chủ đích của nhà nước tới nền kinh tế quốc dân Là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà nhà nước phải tiến hành trong quá trình quản lý nền kinh tế quốc dân

1.4.2 Các chức năng cơ bản

Trang 15

1.4.2.1.Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại của quản lý nhà nước về kinh tế.

* Chức năng đối nội

Thứ nhất: Chức năng ban hành và bảo vệ pháp chế: Đây là một chức năng phản ánh rỏ bản chất của nhà nước Thông qua việc thiết lập bộ máy quyền lực của mình, nhà nước thực hiện chức năng quản lý nói chung và choc năng quản lý kinh

tế nói riêng mang tính cưởng bức, bao gồm các nội dung cơ bản sau:

Xác lập khuôn khổ pháp luật cho nền kinh tế hoạt động

Kiểm tra, kiểm soát việc thực thi pháp luật trong hoạt động kinh tế

Thứ hai: Chức năng ổn định và phát triển kinh tế: Chức năng này thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau:

Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Đó là môi trường chính trị, kinh tế, xã hội cần phải đảm bảo sự ổn định Duy trì pháp luật và ổn định môi trường kinh tế vĩ mô

Xây dựng cơ sở hạ tầng đảm bảo những điều kiện cơ bản cho hoạt động kinh tế.Dẫn dắt và hổ trợ những nổ lực phát triển thông qua kế hoạch và các chính sách kinh tế, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực huy động được đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế

Hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội, bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội

Thứ ba: Điều chỉnh xã hội, điều chỉnh kinh tế bao gồm các nhiệm vụ sau:Không ngừng hoàn thiện và đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả, công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Gắn phát triển kinh tế với văn hóa tư tưởng, gắn phát triển kinh tế với sự ổn định bền vửng thể chế chính trị xã hội

Phát huy ảnh hưởng kinh tế và chính trị của đất nước ra bên ngoài, thắt chặt quan hệ hửu nghị với mọi quốc gia, giử vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước

Trang 16

* Chức năng đối ngoại.

Phát triển quan hệ hợp tác đa phương cùng có lợi giữa các quốc gia, khu vực

và các khối nước

Bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lảnh thổ quốc gia

Chống và ngăn ngừa các tác động xấu đến kinh tế đất nước

Phát huy tối đa ảnh hưởng của đất nước ra bên ngoài

1.4.2.2 Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế theo giai đoạn tác động.

* Xác định phương hướng, mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Phát triển kinh tế ở đây là phát triển bền vững Nó phải thỏa mãn ba điều kiện cơ bản: Một là tăng trưởng kinh tế; Hai là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại; Ba lằtng thu nhập thực tế của mổi người dân, phản ánh mức sống thực tế của nhân dân

Xác định phương hướng là một choc năng rất quan trọng Nó gắn liền với việc lựa chọn phương án hành động trong tương lai.Việc xác định phương hướng sẽ trả lời cho câu hỏi làm gì? Làm như thế nào? Ai làm? Và khi nào thì làm? Dựa vào đó

mà đề ra chiến lược, đường lối phát triển mộtcách có ý thức và phù hợp với quy luật

* Lập chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

* Xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý kinh tế

* Tổ chức các hệ thống kinh tế trong nước hoạt động

* Kiểm tra, kiểm soát nền kinh tế đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển

* Điều chỉnh và tìm kiếm các biện pháp phát triển nền kinh tế, mở rộng và khai thông môi trường kinh tế đối ngoại

1.5.Tại sao cần phát huy vai trò quản lý của nhà nước đối với ngành công nghiệp ô tô giai đoạn hiện nay?

1.5.1 Lý thuyết ngành công nghiệp non trẻ.

Trang 17

Ngành công nghiệp ô tô là một ngành công nghiệp còn rất non trẻ ở việt nam.Tuy nhiên đây lại là một ngành công nghiệp rất quan trọng Nó vừa là một ngành hoạt động hiệu quả và mang lại giá trị gia tăng cho nền kinh tế, mặt khác nó đóng vai trò làm đầu tàu, hổ trợ cho sự phát triển của các ngành khác

Theo quan điểm phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, cụ thể trong quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô tới 2010 và tầm nhìn đến 2020 như sau:

Thứ nhất: Công nghiệp ô tô là ngành công nghiệp rất quan trọng cần được ưu

tiên phát triển, nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa và xây dung tiềm lực an ninh quốc phòng của đất nước

Thứ hai: Phát triển nhanh ngành công nghiệp ô tô trên cơ sở thị trường và hội

nhập kinh tế thế giới; Lựa chọn các bước phát triển thích hợp, khuyến khích chuyên môn hóa_hợp tác hóa nhằm phát huy nhửng lợi thế và tiềm năng của đất nước, đồng thời tích cực tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế trong ngành công nghiệp ôtô

Thứ ba: Phát triển ngành nông nghiệp ô tô trên cơ sở phải gắn kết với tổng thể

phát triển công nghiệp chung , và các chiến lược phát triển các ngành liên quan đã được phê duyệt nhằm phát huy tối đa nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, trong

đó doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò then chốt

Thứ tư: Phát triển ngành công nghiệp ô tô trên cơ sở tiếp thu khoa học công

nghệ tiên tiến trên thế giới đồng thời đẩy mạng hoạt động nghiên cứu và phát triển, tận dụng tối đa các cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật hiện có nhằm đáp ứng nhanh chóng nhu cầu trong nước về các loại xe thông dụng với giá cả cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước phát triển nhằm đẩy nhanh quá trình sản xuất linh kiện và phụ ting trong nước

Thứ năm: Phát triển công nghiệp ô tô phải phù hợp với chính sách tiêu ding

trong nước, đảm bảo đồng bộ với hạ tầng giao thông và những yêu cầu về bảo vệ

và cải thiện môi trường

Trang 18

Để công nghiệp ô tô có thể đứng vững và phát triển đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước.Thông qua các chính sách bảo hộ mậu dịch, các chính sách hổ trợ, ưu tiên phát triển từ đó mà ngành có thể cạnh tranh thông qua lợi thế từ việc bảo hộ, từ đó lớn mạnh và có thể cạnh tranh công bằng, trở thành ngành công nghiệp chủ chốt của nền kinh tế.

1.5.2 Thách thức đến từ yếu tố hội nhập.

Mặc dù ngành công nghiệp ô tô còn đang chập chững, chưa thực sự vững vàng, tuy nhiên nó sẽ phải ra “đường lớn” vào thời gian tới để ganh đua với các đại gia trên thế giới Việt Nam đang tích cực để hội nhập kinh tế thế giới, và cho đến nay chúng ta đã gia nhập WTO do đó trong thời gian tới sự bao hộ của nhà nước sẽ giảm đi rất nhiều.Theo đó cạnh tranh trong nước sẽ trở nên gay gắt hơn rất nhiều nhất là hàng nhập khẩu từ các nước ASEAN

Mặt khác tiến trình hội nhập đi đôi với nó là là lộ trình cắt giảm thuế Khi rào cản thuế quan bảo hộ giãm đi thì đòi hỏi năng lực thực sự của ngành Lúc này cạnh tranh sẻ khốc liệt hơn vì sự có mặt của các ông lớn trong làng ô tô thế giới

Việc Việt Nam gia nhập WTO buộc ngành công nghiệp ô tô của chúng ta phải trả lời câu hỏi tất yếu trong cạnh tranh là “Tồn tại hay không tồn tại”? Đây là một vấn đề rất quan trọng, nó vừa phản ánh thực lực của các doanh nghiệp ô tô mặt khác nó còn phản ánh năng lực quản lý của nhà nước để đảm bảo cho Việt Nam thực sự có một ngành công nghiệp ô tô

Trong bối cảnh như vậy việc phát huy vai trò quản lý của nhà nước là rất quan trọng Đường lối, chính sách của nhà nước một cách đúng đắn sẻ tạo điều kiện tối đa cho ngành phát triển, mặt khác nó còn phát huy các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế mà ngành có được.Phát huy vai trò quản lý của nhà nước không đơn thuần chi

là tăng cường bảo hộ cho ngành Một cách tổng quát đó còn là phương hướng, chiến lược, mục tiêu cụ thể để có thể phát triển nganh công nghiệp ô tô, đảm bảo đủ sức cạnh tranh trong nước, trong khu vực và trên thế giới

Trang 19

CHƯƠNG II: QUẢN LÝ NGÀNH ÔTÔ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN VỪA QUA

2.1 Quản lý của nhà nước theo từng giai đoạn phát triển của ngành công nghiệp ôtô ở Việt Nam.

2.1.1 Giai đoạn từ 1992 đến 1995

Bắt đầu từ năm 1992, thị trường ôtô Việt Nam đã có hai nhà sản xuất trong nước là Công ty liên doanh ôtô Mêkông và Xí nghiệp liên doanh sản xuất ôtô Hoà Bình(VMC) Năm 1992 là năm thứ hai liên tiếp

có mức tăng trưởng kinh tế cao, do vậy nhu cầu xe ôtô của Việt nam cũng tăng lên Với những loại xe du lịch như Kia Pride, Mazda 323 - 626(của VMC) hay Fiat và Mekong 2 cầu(của Công ty liên doanh ôtô Mêkông) đã phần nào đáp ứng được nhu cầu thị trường xe trong nước tại thời điểm đó Doanh số bán ra của hai liên doanh này mỗi năm một tăng lên Vào năm 1995 thì có thêm hai liên doanh sản xuất ôtô khác cũng đã bắt đầu đưa ra thị trường xe lắp ráp trong nước là Công ty liên doanh ôtô Daewoo và công ty liên doanh sản xuất ôtô Vinastar

Doanh số cụ thể từng năm của các liên doanh ôtô trong giai đoạn

16,9% 45,9% 33,8% 17,2%

Ngày đăng: 20/12/2012, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w