Nghiên cứu tính đa hình di truyền và vai trò truyền bệnh của các thành viên trong nhóm loài Anopheles maculatus ở Việt Nam
Trang 1§¹i häc quèc gia Hμ Néi
Tr−êng §¹i häc khoa häc tù nhiªn
NguyÔn ThÞ H−¬ng B×nh
Nghiªn cøu tÝnh ®a h×nh di truyÒn
vμ vai trß truyÒn bÖnh
cña c¸c thμnh viªn trong nhãm loμi
Anopheles maculatus ë viÖt Nam
Chuyªn ngµnh: Di truyÒn häc
M· sè: 62.42.70.01
Tãm t¾t LuËn ¸n tiÕn sü sinh häc
Hµ Néi – 2009
Trang 2Vµo håi 9 giê 00 ngµy 17 th¸ng 8 n¨m 2009
Cã thÓ t×m hiÓu luËn ¸n t¹i:
- Th− viÖn Quèc gia
- Th− viÖn Tr−êng §¹i häc khoa häc Tù nhiªn
- Trung t©m th«ng tin - th− viÖn §¹i häc Quèc gia Hµ Néi
- Th− viÖn ViÖn Sèt rÐt-Ký sinh trïng-C«n trïng-Trung −¬ng
Trang 3Đặt vấn đề
Những nghiên cứu về các côn trùng truyền bệnh, trong đó có muỗi
Anopheles, trung gian truyền bệnh sốt rét ngày càng được đẩy mạnh trên
mọi phương diện: phân loại, phân bố, vai trò truyền bệnh, sinh học, tập tính
và biện pháp phòng chống Nhiều phương pháp kỹ thuật, nghiên cứu mới nhằm phân loại và xác định nguồn gốc phát sinh được ứng dụng rất mạnh Việc kết hợp giữa các phương pháp nghiên cứu truyền thống với những phương pháp sinh học phân tử là rất cần thiết để nghiên cứu các quần thể muỗi truyền bệnh Nhiều loài muỗi lúc đầu được xác định như một loài đơn, nhưng trong quá trình nghiên cứu sâu về vai trò dịch tễ, đặc tính sinh học và bằng việc sử dụng các kỹ thuật mới, áp dụng các dấu hiệu nhận biết về di truyền, hoá sinh đã xác định chúng là những nhóm loài đồng hình (sibling species complex, cryptic species complex), và chúng có thể có vai trò
truyền bệnh khác nhau Loài muỗi Anopheles (Cellia) maculatus được
Theobald phát hiện ở Hồng Kông, Trung Quốc vào năm 1901 Đây là loài
muỗi phân bố rộng rãi ở vùng Đông phương Cho đến nay, phức hợp An
maculatus gồm ít nhất 12 loài thành viên Nhiều thành viên trong nhóm này
đã được xác định có vai trò truyền bệnh ở Malaysia, Thái Lan, Nepal,
Trung Quốc, Singapore ở Việt Nam, trước đây, muỗi Anopheles maculatus
được xác định là một loài đơn, phân bố rộng rãi ở vùng rừng núi toàn quốc Những nghiên cứu gần đây về hình thái, tế bào cho thấy phức hợp loài này gồm ít nhất 6 loài đã được định tên và một số dạng chưa xác định rõ vị trí
phân loại Đến nay loài An maculatus vẫn được coi là vectơ truyền bệnh
thứ yếu ở nước ta Nhiều vấn đề mang tính hệ thống liên quan đến phân loại, vai trò truyền bệnh của loài muỗi này ở Việt Nam cần được giải quyết
Với những lý do nêu trên chúng tôi tiến hành đề tài :”Nghiên cứu tính
đa hình di truyền và vai trò truyền bệnh của các thành viên trong
nhóm loài Anopheles maculatus ở Việt Nam” nhằm mục đích :
1 Xác định thành phần loài và phân bố của các thành viên trong phức
hợp loài An maculatus ở Việt Nam
2 Xác định tính đa hình di truyền và mối quan hệ di truyền của các thành viên trong phức hợp loài
3 Xác định vai trò truyền bệnh của chúng nhằm góp phần vào việc phòng chống vectơ sốt rét ở nước ta
Trang 4Những đóng góp mới về mặt khoa học
vμ ý nghĩa thực tiễn của luận án
1- Lần đầu tiên đã phối hợp nhiều kiểu dấu hiệu từ dấu hiệu hình thái kiểu hình đến dấu hiệu di truyền tế bào, điện di enzym và phân tích phân tử ADN để nghiên cứu một nhóm loài đồng hình có vai trò truyền sốt rét ở Việt Nam và xác định mối quan hệ di truyền của các thành viên trong nhóm
loài An maculatus
2- Lần đầu tiên đã xây dựng được bảng định loại hình thái đầy đủ các pha
phát triển của các thành viên, đã định tên trong nhóm loài An maculatus và
lập bản đồ phân bố của chúng ở Việt Nam
3- Đã bổ sung thêm về những đặc điểm đa hình sinh học, sinh thái học của
muỗi và bọ gậy các thành viên trong nhóm loài An maculatus ở Việt Nam 4- Đã xác định được khả năng truyền cả hai loài KST P.falciparum và
P.vivax của muỗi An maculatus
Cấu trúc của luận án
Luận án có 188 trang (không kể phụ lục) bao gồm các phần: Đặt vấn đề (3 trang); chương 1: Tổng quan tài liệu (40 trang); chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (17 trang); chương 3: Kết quả nghiên cứu (83 trang); chương 4: Bàn luận (20 trang); Kết luận và đề nghị (3 trang); các công trình đã công bố của tác giả có liên quan đến nội dung luận án (1 trang); những đóng góp mới của luận án (1 trang); tài liệu tham khảo (20 trang, gồm 27 tài liệu tiếng việt, 192 tài liệu tiếng Anh, 2 tài liệu tiếng Pháp) và phụ lục (32 trang) Luận án được trình bày với 33 bảng, 72 hình Chương 1 (3 hình), chương 2 (8 bảng, 6 hình), chương 3 (25 bảng, 63 hình) Phụ lục (10 bảng)
Chương 1: tổng quan tμi liệu 1.1 Đại cương về vấn đề nghiên cứu các loài đồng hình
Nhiều loài muỗi là vectơ truyền bệnh sốt rét tồn tại như thành viên của các phức hợp loài, trong đó có những loài truyền bệnh và những loài không
có vai trò này (Torres và cs, 2000; Van Bostel và cs, 2001) Để nghiên cứu các phức hợp loài đồng hình đòi hỏi phải áp dụng nhiều phương pháp khác nhau từ đơn giản đến phức tạp để kết hợp được ưu điểm của từng phương pháp (Cockburn, 1997)
1.2 Đa hình di truyền và nghiên cứu đa hình di truyền ở muỗi
Tính đa hình di truyền có thể được xác định tại mọi cấp độ tổ chức bao gồm từ số lượng nucleotit đến cấu trúc của ADN trong mỗi tế bào cũng như
số lượng, cấu trúc của nhiễm sắc thể, protein, hay hình thái cơ thể của mỗi
loài trong các điều kiện tự nhiên khác nhau
Trang 51.2.1 Đa hình enzym và ứng dụng để nghiên cứu đa hình di truyền ở muỗi: Hiện tượng đa hình izozym trong tự nhiên là kết quả của đột biến gen
cấu trúc của các locut kiểm soát việc tổng hợp các sản phẩm của gen, có tính ứng dụng cao, cung cấp những số liệu có giá trị cho những nghiên cứu
về Anopheles Những dấu hiệu về sự đa hình di truyền đã được phát hiện ở hầu hết các loài Anopheles nhất là ở các loài đồng hình Có nhiều nhóm loài, phức hợp loài đã được nghiên cứu bằng phương pháp này như: An
minimus, An dirus ở Châu á, An quandrimaculatus ở Nam Mỹ, An gambiae, An funestus ở châu Phi…( Coluzzi và cs, 1977; Narang và cs,
những đảo đoạn nhiễm sắc thể được sử dụng để nghiên cứu cấu trúc quần thể (Taylor và cs., 1993; Petrarca và cs, 2000; Kamau và cs, 2002)
1.2.3 Đại cương về PCR và ứng dụng trong nghiên cứu đa hình di truyền ở muỗi
- Phản ứng PCR: Phản ứng PCR có ứng dụng rất hiệu quả để nghiên cứu
sự khác nhau ở mức độ phân tử, xác định chính xác quan hệ tiến hoá của
các loài Các nhóm loài muỗi truyền bệnh quan trọng đều đã được sử dụng phản ứng PCR để định loại như: An gambiae (Scott, 1993); An
quandrimaculatus (Collins và cs 1996), An dirus (Jian và Feng, 1997); An sinensis (Ma Yajunvà cs, 1998), An funestus (Kaumau, 2002; Anna Cohuet
và cs, 2003)
- Kỹ thuật RAPD-PCR và ứng dụng RAPD- PCR trong nghiên cứu đa hình ở muỗi : Kỹ thuật RAPD sử dụng mồi ngẫu nhiên tạo ra các đoạn
nhân bản đa hình Chỉ thị RAPD được dùng để phân tích và xác định mối
quan hệ giữa các quần thể, loài sinh vật
Wilkerson và cs (1993) đã sử dụng RAPD-PCR để phân biệt 2 loài muỗi
trong phức hợp Anopheles gambiae là An gambiae và An arabiensis Phức hợp loài An dirus cũng được Sylvie Manguin và cs (2002) phân biệt nhờ sử
dụng kỹ thuật RAPD
Trang 6- Đại cương về PCR- RFLP và ứng dụng PCR- RFLP trong nghiên cứu
đa hình muỗi: Phân tích PCR- RFLP dựa trên nguyên tắc là sự khác nhau
về kích thước của các phân đoạn được tạo ra do xử lý enzym giới hạn đối với các đoạn ADN đích đã được nhân bản
RFLP-PCR được sử dụng để phân biệt 2 loài trong phức hợp
An.maculipennis ở Anh An maculatus có thể nhận biết được khi dùng
enzym HaeII cắt đoạn ITS2 (Torress và cs, 2000) Favia và cs (1997) phân
biệt 3 dạng An gambiae bằng PCR-RFLP
- Kỹ thuật sử dụng mẫu dò ADN (DNA - probe): Sử dụng mẫu dò ADN
dùng phân loại các loài vectơ sốt rét dựa trên đặc tính bắt cặp bổ sung của nucleotit Các dòng mẫu dò ADN để có thể phân biệt được 5 trong 6 loài
thuộc phức hợp Anopheles gambiae (Collins và cs, 1987)
- Kỹ thuật đa hình cấu tạo sợi đơn (Single strand conformational polymorphism-SSCP): Kỹ thuật này phát hiện điểm đột biến trong các sản
phẩm của phản ứng PCR Sharpe và cs (1999) dùng SSCP để phân loại các
loài thuộc series Myzomyia là An aconitus, An varuna và An minimus
- Kỹ thuật khuếch đại một allen đặc biệt (Allene-specific ASA) Dựa vào thiết kế những mồi chỉ bắt cặp với một allen nhất định và
amplification-allen đó đặc trưng cho loài Walton và cs (1999), Manguin và cs (2002)
nghiên cứu phức hợp loài An dirus bằng ASA Năm 1999, Sharp và cs đã
phân biệt các loài trong series Myzomyia bằng ASA
- Microsattellite ADN-SSR: Microsattellite đã được chứng minh là đặc
biệt hữu ích cho việc nghiên cứu di truyền quần thể và lập bản đồ di truyền
ở châu á , Rongnoparus và cs (1996, 1999) đã phân tích các locut ở An
maculatus ở Nam Mỹ, Conn và cs (2001) đã mô tả tính chất của 8 locut
đa hình ở muỗi An.darlingi và ở châu Phi, Sharakhov và cs (2001) đã mô tả
tính chất của 31 locut ở An.funestus
- Phương pháp giải trình tự: Giải trình tự ADN là quá trình xác định trật
tự nucleotit của một đoạn ADN nhất định Các đoạn gen được giải trình tự nhiều ở muỗi là IST1, IST2, COI và COII cũng như D3 Việc giải mã toàn
bộ hệ gen An gambiae, vectơ truyền bệnh sốt rét chính ở Châu Phi đã được
bắt đầu vào năm 2001 Tháng 5/2007 các nhà khoa học đã phác thảo xong
trình tự bộ gen của muỗi Aedes aegypti, vectơ truyền bệnh sốt dengue,
dengue xuất huyết, sốt vàng
1.3 Những nghiên cứu về vai trò truyền bệnh và tính ưa vật chủ của các vectơ
1.3.1 Những nghiên cứu về vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi
Để chứng minh vai trò truyền bệnh của một vectơ người ta phải chứng minh được chúng có mang vật gây bệnh Có nhiều phương pháp để chứng minh điều này như: mổ muỗi phát hiện thoa trùng (Ronal Ross, 1901) Kỹ thuật miễn dịch liên kết enzym (ELISA) và kỹ thuật PCR
Trang 71.3.2 Xác định tính ưa vật chủ của vectơ
Một biện pháp cơ bản để chứng minh được một loài muỗi có truyền bệnh hay không là xem muỗi có hút máu người hay không Nếu xác định
được một loài muỗi có tính ưa thích vật chủ là con người thì chúng ta có bằng chứng để nghĩ tới loài muỗi này có khả năng truyền bệnh cho người nhiều hơn loài khác không thích đốt máu người
Phương pháp miễn dịch, xác định máu vật chủ trên thạch; năm 1986, Bukort và cs, đã áp dụng phương pháp ELISA; và gần đây là sử dụng kỹ thuật PCR để xác định máu vật chủ
1.4 Những nghiên cứu về nhóm loài An maculatus
1.4.1 Nghiên cứu về An maculatus ngoài nước
- Từ loài muỗi Anopheles maculatus đến nhóm loài An maculatus: Loài
muỗi Anopheles maculatus được Theobald phát hiện năm 1901 tại Hồng
Kông Hiện nay, tổng số loài đã được định tên là 12 loài, ngoài ra còn có một số dạng chưa được định tên
- Vấn đề xác định các thành viên trong nhóm loài An maculatus
Các thành viên trong nhóm loài An maculatus được định loại bằng
nhiều phương pháp như: hình thái (thường chỉ dựa vào dấu hiệu muỗi trưởng thành, Rattanarithikul và Green [1986] cũng chỉ mô tả muỗi trưởng
thành và trứng của An notanandai và An sawadwongporni Hai loài mới
An dispar và An greeni ở Philippine của Rattanarithikul và Harbach
(1990) có thể nói là bản mô tả đầy đủ nhất); dấu hiệu di truyền tế bào (Năm
1993, Baimai và cs đã mô tả bộ NST (Karyotype) của các thành viên trong
nhóm loài An maculatus ở vùng Đông Nam á, điện di enzym và phân tích
ADN (những nghiên cứu điển hình là của Torres, 1999; C.Walton, 2007 và
Ma Ya Jun 2002, 2006)
- Phân bố: Nhóm loài An maculatus phân bố rộng trong vùng Đông
Phương từ ấn Độ, qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Nam Trung Quốc; phía Đông Bắc đến Đài Loan, Trung Quốc; phía Tây
Nam đến bán đảo Mã Lai, phía Đông đến quần đảo Philippine
- Đặc điểm sinh học: Tuỳ từng vùng phân bố, các thành viên trong nhóm
loài có đặc điểm sinh học và sinh thái học khác nhau Bọ gậy của chúng thường thấy ở các mạch nước, suối nhỏ có ánh sáng rọi trực tiếp hoặc không trực tiếp Muỗi thích sống gần chuồng gia súc, ở những vùng muỗi ưa đốt máu người và là vectơ truyền bệnh chính, còn đại đa số các thành viên trong
nhóm loài ưa đốt máu súc vật hơn và không có vai trò truyền bệnh
Trang 8-Vai trò truyền bệnh: Anopheles maculatus s.l được coi là vectơ sốt rét
quan trọng ở bán đảo Malaysia, Thái Lan, ấn Độ, Nepal, Miến Điện (Rao,
1984)
1.4.2 Nghiên cứu về An maculatus trong nước
- Những nghiên cứu về sinh học, sinh thái học của muỗi An maculatus:
An maculatus là loài muỗi hoang dại phân bố khá rộng, trú ẩn tiêu máu
ngoài nhà là chủ yếu An maculatus phát triển mạnh vào mùa mưa Bọ gậy
bắt được ở các suối ven rừng, có ánh sáng nhiều, đôi khi bắt được ở các ruộng lúa, giếng, vũng nước ven suối
- Về vai trò truyền bệnh của An maculatus: An maculatus s.l được xác
định là một vectơ truyền sốt rét thứ yếu ở Việt Nam, Toumanoff (1936) đã
mổ thấy loài muỗi này mang thoa trùng và oocysts, Đặng Văn Ngữ (1966)
cũng xác định tỷ lệ mang KST của loài muỗi này khoảng 1,9%
Chương 2: Đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các loài muỗi thuộc nhóm loài Anopheles maculatus ở Việt Nam.
2.2 Thời gian nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu
- Tháng 10-2001 đến tháng 12-2006
- Địa điểm thu mẫu trên toàn quốc
2.3 Phương pháp nghiên cứu: Mô tả thực địa và phòng thí nghiệm
2.3.1 Phương pháp thu thập và xử lý mẫu vật tại thực địa
Muỗi được thu thập và bảo quản theo phương pháp chuẩn của Tổ chức Y
tế Thế giới và Viện Sốt rét, Ký sinh trùng, Côn trùng (1975, 1987)
2.3.2 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
-Nuôi muỗi: Theo dòng gia đình để làm tiêu bản đồng bộ và phân tích các
dấu hiệu di truyền theo dòng gia đình
- Phân loại muỗi dựa trên các dấu hiệu hình thái: theo R.Rattanarithikul
và C A Green, 1986, R.Rattanarithikul và R.E Harbach, 1990, Rattanarithikul và cs, 2006, J A Reid, 1968 , Lục Bảo Lân, 1997
- Phân tích đặc điểm di truyền tế bào: Làm tiêu bản bộ NST từ tế bào não
bọ gậy tuổi 4 theo 2 phương pháp: Phương pháp của V.Baimai (1997) có
sửa đổi và phương pháp của Frank (1962) có cải tiến
Phân tích kết quả theo Baimai và cs (1993), xác định các đặc điểm cấu trúc, cân tâm, lệch tâm, cận tâm mút
- Điện di enzym và phân tích kết quả điện di: Điện di trên gel cellullose
acetate (Itan II, Helana Laboratories, U.K) theo phương pháp của Smith và
cs, 1996 với 11 hệ enzym: ODH, LDH, MDH, GPI, PGM, MPI, IDH,
6-PGD, α-GPD, GOT, HAD
Phân tích kết quả theo Futuyma, D.J 1986, sử dụng phần mềm TFPGA version 1.3 (Mark P Miller, 1997): tính tần số alen, tính phù hợp với định
Trang 9luật cân bằng Hardy Weinberg, hệ số tương đồng di truyền và khoảng cách
di truyền
- Tách chiết ADN của muỗi: theo Collin và cs (1987) tủa ADN bằng
ethanol
- Phương pháp PCR-RFLP : Cắt sản phẩm nhân bản đoạn ITS2 của các
loài trong nhóm An maculatus bằng 10 enzym cắt giới hạn AluI, EcoRI,
BamHI, HindIII, XbaI, MspI, Cfr131, HaeII, HindII, HeaIII
- Phương pháp RAPD-PCR: tiến hành PCR với 7 mồi A1, A5, F2, F4,
OPL1, OPA4, OPA10
Phân tích số liệu bằng phần mềm TFPGA 1.3, tính hệ số tương đồng di
truyền, khoảng cách di truyền và lập cây chủng loại phát sinh
- Phương pháp giải trình tự: giải trình tự đoạn ITS2 trên máy AB3730 Xử
lý và phân tích kết quả bằng phần mềm MEGA version 3.1
- Xác định ký sinh trùng trong muỗi bằng phương pháp ELISA: Theo
phương pháp của Wirtz và cs (1987) với 3 loại kháng thể đơn dòng là
P.falciparum, P.vivax 210 và P.vivax 247
- Kiểm tra lại mẫu ELISA dương tính: bằng phương pháp PCR lồng theo
G.Snounou và cs (1992)
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
3.1 Đa hình dấu hiệu kiểu hình của các thành viên trong nhóm loài An
maculatus
3.1.1 Đa hình các dấu hiệu hình thái của các thành viên trong nhóm
loài An maculatus
Tổng số mẫu vật có thể sử dụng để nghiên cứu là 9583 mẫu bao
gồm các mẫu vật nuôi theo dòng gia đình, muỗi trưởng thành và bọ gậy thu
Bọ gậy
Tổng cộng
Trang 10- Đa hình hình thái muỗi trưởng thành của các thành viên trong nhóm
loài An maculatus
Các thành viên của nhóm loài An maculatus ở Việt Nam rất đa dạng
về dẫn liệu hình thái
- An maculatus: Tấm lưng các đốt bụng II-IV không có vẩy trắng
Đốt bụng V-VIII đặc biệt là các đốt bụng VII-VIII tập trung nhiều vẩy trắng hình thìa Không có vẩy đen chỗ chia nhánh gân cánh L2 Gân L3không có điểm đen dài ở giữa
- An dravidicus: Các đốt bụng II-VIII đều có phủ vẩy trắng hình thìa Gân
L3 ngoài 2 điểm đen ở gốc và ngọn, ở giữa còn có một băng đen dài hoặc một vài băng đen nhỏ ít nhất là ở một bên cánh
- An notanandai: Tất cả các tấm lưng đốt bụng II- VIII đều phủ vảy trắng,
chỗ chia nhánh gân L2 cánh có đám vảy đen Phần cuối các tấm lưng đốt bụng IV-VII có một hàng vẩy đen
- An pseudowillmori: Tấm lưng đốt bụng II- VII không có vảy trắng, chỉ có
vảy trắng ở đốt bụng VIII Thân L2 ngắn, ô trước cánh dài
- An sawadwongporni: Tấm lưng đốt bụng II- VIII phủ đầy vảy trắng hình
thìa, đôi khi còn có một vài vảy đen ở 2 bên mép Chỗ chia nhánh gân L2thường có đám vảy đen ít nhất ở một bên cánh Cuối các tấm lưng đốt bụng chỉ có một chùm vẩy đen ở hai bên
- An willmori: Các tấm lưng trên các đốt đốt bụng II- VII phủ đầy vảy
trắng, chỗ chia nhánh gân L2 không có chùm vẩy đen
Hình 3.1: Đa hình hình thái muỗi trưởng thành của các thành viên thuộc
nhóm loài An maculatus
Trang 11- Đa hình hình thái cơ quan sinh dục đực
Đặc điểm cơ quan sinh dục đực các
thành viên trong nhóm loài An maculatus cũng
rất đa hình dựa vào cấu trúc của thuỳ lưng, thuỳ
bụng và lá phụ gai giao cấu
- Đa hình hình thái quăng
Phiến đỉnh Gai bên đốt bụng 4
Các dấu hiệu hình thái
chủ yếu dùng để phân tích
tính đa hình giai đoạn
quăng gồm các chỉ số bánh
lái (chiều dài bánh lái/chiều
rộng), độ dài của gai bên
đốt bụng IV, phân bố các
gai cứng ở bờ cong ngoài
bánh lái (Hình 3.3) Bánh lái con đực Bánh lái con cái
Hình 3.3 Dấu hiệu hình thái bọ gậy
của An maculatus
- Đa hình hình thái bọ gậy
số dấu hiệu thường dùng để phân tích đa hình hình thái giai đoạn bọ gậy là: cấu trúc lông lá cọ (lông số 1) và hình thể các tấm kitin của các đốt bụng, số lượng các nhánh của lông số 4 đốt ngực giữa.(Hình 3.4)
Hình 3.4 Dấu hiệu hình thái quăng
của An maculatus
Thuỳ lưng Thuỳ bụng Lá phụ gai giao cấu
Hình3.2 Cơ quan sinh dục
đực của An.maculatus
Trang 12- Đa hình hình thái trứng
Các dấu hiệu dễ nhận biết tính
đa hình hình thái của pha trứng
các thành viên trong nhóm loài là
cấu trúc khoang trứng, cấu trúc,
số lượng các rẻ phao nổi
Hình 3.25 Dấu hiệu hình thái
trứng của An.sawadwongporrni
3.1.2 Đa hình các dấu hiệu sinh học, sinh thái học của các thành viên
trong nhóm loài An maculatus
- Đa hình dấu hiệu sinh học, sinh thái học giai đoạn trước trưởng thành: Nghiên cứu các ổ bọ gậy của thành viên nhóm loài
ổ nước đứng có lưu thông nhiều bọ gậy hơn: 62,26% (2506/4025) Nhiều nhất là các vũng nước mạch: 45,69%, tiếp theo là các hố đào vàng, các đáy suối cạn
notanandai và An sawadwongporni ở
suối lớn
- Đa hình dấu hiệu sinh học, sinh thái học giai đoạn trưởng thành: Các
loài muỗi chủ yếu bắt được ở chuồng trâu (83,5% - 95,21%) Tỷ lệ muỗi bắt
được bằng phương pháp mồi người rất thấp (mồi người trong nhà 0,7 -
1,32%; mồi người ngoài nhà 0,94- 4,49%) Như vậy, muỗi An maculatus
chủ yếu trú ẩn ngoài nhà và ưa đốt máu súc vật
3.2 Đa hình kiểu gen của các thành viên trong nhóm loài An
maculatus
3.2.1 Đa hình di truyền các dấu hiệu di truyền tế bào của các thành
viên trong nhóm loài An maculatus: Bộ NST 2n = 6, NST giới tính X, Y
có hình thái khác nhau (Hình 3.30)
- An maculatus: Các dạng có NST thường giống nhau, khác nhau ở NST
giới tính, có ba kiểu NST X: X1, X2, X3 và hai kiểu NST Y: Y1, Y2
Khoang trứng
Phao nổi
Trang 13- An sawadwongporni: NST X tâm cận mút gồm có một khối dị NS ở tâm
động NST Y cận tâm mút và xấp xỉ bằng độ lớn khối dị nhiễm sắc ở NST
X Những khối dị nhiễm sắc ở quanh tâm động rất rõ
- An dravidicus: Bộ NST giống với của An sawadwongporni nhưng khối
dị nhiễm sắc trung tâm lớn hơn
- An notanandai: NST X tâm cận giữa Vai ngắn hầu hết là đồng nhiễm
sắc trong khi đó vai dài toàn bộ dị nhiễm sắc
- An willmori: NST giới tính lớn bất thường NST X tâm cận giữa và vai
ngắn có phần đồng nhiễm sắc bằng phần dị nhiễm sắc, vai dài toàn dị nhiễm sắc
- An pseudowillmori: Cả NST X và Y của loài này cận tâm giữa lớn; NST
X hơi lớn hơn NST Y
NST An maculatus cái dạng 5 NST An maculatus đực dạng 5
NST An pseudowillmori cái NST An pseudowillmori đực
Hình 3.30 Bộ NST của thành viên nhóm loài An maculatus
3.2.2 Đa hình di truyền các đặc điểm điện di enzym của các thành
viên trong nhóm loài An maculatus
- Hệ izozym ODH: Hệ izozym này có 4 alen đồng trội trong một locut,
cấu trúc dimer Các alen gồm: Odha, Odhb,Odhc,Odhd; với Rf tương ứng:
96, 100, 109, 116
- Hệ izozym LDH: Tần số alen và sự phân bố tần số alen của hệ izozym
LDH phù hợp với định luật Hardy Weinberg