Tính toán, thiết kế và chế tạo hệ thống chuẩn đầu lưu lượng nước
Trang 1Học viện kỹ thuật quân sự
nguyễn hồng thái
tính toán, thiết kế vμ chế tạo
hệ thống chuẩn đầu lưu lượng nước
Chuyên ngành : Cơ học kỹ thuật
Mã số : 62 52 02 01
Tóm tắt luận án tiến sĩ kỹ thuật
Hà Nội - 2006
Học viện kỹ thuật quân sự – hμ nội
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS TS Phan Nguyên Di
2 TS Nguyễn Văn Kiều
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại Học viện Kỹ thuật quân sự
Vào hồi: giờ, ngày tháng năm 200
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự Thư viện quốc gia
Trang 21 Nguyễn Hồng Thái ứng dụng chuẩn đầu đơn vị đo lưu lượng
nước trong kiểm định và hiệu chuẩn các lưu lượng kế – Tạp chí hoạt
động khoa học Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường 5/2002, trang
26-33
2 Nguyễn Hồng Thái Chuẩn đầu về lưu lượng ở Việt Nam – Hội
nghị Khoa học Kỹ thuật đo lường Việt Nam lần thứ ba 10/2001, trang
421-424
3 Nguyễn Hồng Thái, Phan Nguyên Di Đánh giá độ không đảm
bảo đo của Chuẩn đầu về lưu lượng nước ở Việt Nam – Tuyển tập báo
cáo Hội thảo toàn quốc lần thứ nhất về cơ điện tử 9/2002, trang
379-386
4 Nguyễn Hồng Thái Development of Critical Venturi Nozzles for
Primary Standards of Gas Flow – Proceeding sai số the International
syposium on dynamics and control isdc 9/2003, page 291-301
5 Nguyễn Hồng Thái Đo lưu lượng bằng phương pháp siêu âm
Tạp chí Khoa học và kỹ thuật số 102/2003 Học viện Kỹ thuật quân
sự, trang 12-16
6 Nguyễn Hồng Thái Cải tiến hoạt động của cơ cấu chuyển dòng
trong hệ thống chuẩn đầu lưu lượng nước – Tuyển tập Công trình
khoa học Hội nghị cơ học toàn quốc lần thứ bảy 12/2002, trang
436-443
7 Nguyễn Hồng Thái Nghiên cứu ảnh hưởng của lắp đặt lưu lượng
kế sau các khuỷu cong và giải pháp sử dụng ổn dòng- Hội nghị Khoa
học Kỹ thuật Đo lường Việt Nam lần thứ tư 11/2005, trang 464-469
Trang 3mở đầu
Trước nhu cầu cấp bách của việc quản lý các lưu lượng kế đo
nước được nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước, việc đảm bảo đo lường
trong khai thác, kinh doanh và sử dụng nước, quản lý môi trường, thuỷ
lợi và một số ngành kinh tế quan trọng khác, Trung tâm Đo lường đã
xây dựng dự án “ Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và thử nghiệm, đánh giá
hệ thống chuẩn đầu lưu lượng thể tích nước” Dự án đã được Tổng cục
Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phê duyệt và tôi được phân công làm
chủ nhiệm dự án
Theo quyết định của Thủ tướng chính phủ số 14/2006/QĐ/TTg
ngày 17 tháng 01 năm 2006, hệ thống chuẩn đầu lưu lượng thể tích nước
đã được phê duyệt là chuẩn đo lường quốc gia
1 Tính cấp thiết của luận án
Tại các Viện Đo lường của các nước như Hoa kỳ, Nhật bản,
CHLB Đức đều phải có một hệ thống chuẩn đầu lưu lượng nước nhằm
đảm bảo việc sao truyền và liên kết chuẩn đạt được tính chính xác,
thống nhất, nhằm đáp ứng được những yêu cầu trong nghiên cứu khoa
học cũng như của đời sống Các nước có hệ thống chuẩn đầu chỉ công
bố kết quả đạt được và giữ bí mật về công nghệ chế tạo cũng như
phương pháp, kết quả đánh giá
Trong khi đó tại các nước trong khu vực ASEAN kể cả Việt
nam, do điều kiện kinh tế và trình độ khoa học kỹ thuật, cho đến nay
vẫn chưa có nước nào xây dựng được hệ thống chuẩn đầu lưu lượng
nước
Vì vậy việc nghiên cứu xây dựng hệ thống chuẩn đầu lưu lượng
nước của Việt nam cũng như đo lưu lượng nước có tính cần thiết và mới
2 nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu quy luật thuỷ lực của hệ thống bao gồm nguồn,
đường ống, máng lật và bình chuẩn
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc lắp đặt lên đường đặc tính sai số
của các lưu lượng kế chuẩn
Nghiên cứu qui luật sai số của từng thành phần phương pháp
đánh giá độ không đảm bảo đo của hệ thống
3 Phương pháp nghiên cứu
Về lý thuyết
Tính toán thuỷ lực cho một số thành phần quan trọng của hệ
thống như nguồn, bể tràn, thiết bị chuyển dòng và bình chuẩn
Lập mô hình toán học để xác định độ không đảm bảo đo của bình
chuẩn và hệ thống
Về thực nghiệm
Lập mô hình và tiến hành thử nghiệm để đánh giá ảnh hưởng của việc lắp đặt đối với sai số của lưu lượng kế
Chế tạo và lắp đặt bình chuẩn, thiết bị chuyển dòng, hệ thống
đường ống, bể nguồn, bể ổn áp, hệ thống bơm
Thử nghiệm xác định độ không đảm bảo đo của bình chuẩn, thiết
bị chuyển dòng và cả hệ thống
3 kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, luận án gồm 4 chương và phần kết luận bao gồm 137, 5 bảng, 59 hình vẽ và đồ thị cùng 5 phần phụ lục
Chương 1 - Tổng quan về đo lường lưu lượng và chuẩn đầu lưu lượng Chương 2 - Tính toán, thiết kế hệ thống chuẩn đầu lưu lượng nước Chương 3 - Nghiên cứu dòng chảy trong ống
Chương 4 - Đánh giá độ không đảm bảo đo của hệ thống chuẩn đầu lưu lượng nước
CHƯƠNG 1 tổng quan về ĐO LƯờNG LƯU LƯợNG
Vμ CHUẩN ĐầU LƯU LƯợNG
1 phương pháp đo lưu lượng chất lỏng trong đường ống dẫn kín:
Đo lưu lượng chất lỏng Q trong đường ống dẫn kín nghĩa là phải xác
định lượng chất lỏng V chảy qua tiết diện của đường ống đó trong một
đơn vị thời gian t bằng các thiết bị đo lưu lượng:
Q = V/t
Thiết bị đo lưu lượng ( về sau gọi là lưu lượng kế): là thiết bị dùng để
chỉ thị lưu lượng được đo
Đoạn ống đo: là đoạn ống được sản xuất đặc biệt nhằm thoả mãn các
yêu cầu liên quan tới lưu lượng kế chuẩn và lưu lượng kế được kiểm
định
Hiệu chuẩn: Tập hợp các thao tác trong điều kiện qui định để thiết lập
mối liên quan giữa các giá trị được chỉ bởi phương tiện đo, hệ thống đo hoặc giá trị được thể hiện bằng vật đọ hoặc mẫu chuẩn và các giá trị
tương ứng thể hiện bằng chuẩn
2 Chuẩn Chuẩn đầu: là chuẩn được chỉ định hay được thừa nhận rộng rãi là có
chất lượng về mặt đo lường cao nhất và giá trị của nó được chấp nhận không dựa vào các đại lượng khác cùng đơn vị
Trang 4Chuẩn thứ: là chuẩn mà các giá trị của nó được ấn định bằng cách so
sánh với chuẩn đầu của cùng đại lượng
Chuẩn công tác: là chuẩn được dùng thường xuyên để hiệu chuẩn hoặc
kiểm tra vật đo, phương tiện đo hoặc mẫu chuẩn
Phương tiện đo: là phương tiện được sử dụng để thực hiện các phép đo
Sơ đồ liên kết chuẩn:
Mối liên kết giữa chuẩn đầu, chuẩn thứ và phương tiện đo ở mỗi
nước được thể hiện qua sơ đồ liên kết chuẩn Trong sơ đồ này chúng ta
thể hiện vị trí của chuẩn đầu là duy nhất và có độ không đảm bảo đo
nhỏ nhất, chuẩn này được sử dụng để hiệu chuẩn cho các chuẩn thứ có
độ không đảm bảo đo lớn hơn
Các chuẩn thứ có thể là chuẩn công tác hay so sánh và được đặt ở
các trung tâm khu vực, hay các ngành có liên quan Các chuẩn thứ được
sử dụng để kiểm định hay hiệu chuẩn cho các phương tiện đo được sử
dụng trong lưu thông, phân phối, mua bán hàng hoá và các mục đích
khác
Sơ đồ liên kết chuẩn lưu lượng nước tại Việt Nam
Việc xây dựng sơ đồ liên kết chuẩn lưu lượng nước có ý nghĩa rất
quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân do phải song song giải quyết
hai bài toán là hiệu quả đầu tư của ngân sách Nhà nước và đáp ứng được
nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với phương tiện đo
Dựa vào các số liệu thống kê đã thu thập từ các báo cáo của ngành
kinh doanh nước sạch, cho tới năm 2010 số đồng hồ nước được lắp đặt ở
nước ta sẽ vào khoảng trên 2 triệu chiếc, trong đó số đồng hồ có đường
kính dưới 200mm chiếm đến 99% và một số lưu lượng, lưu tốc nước đã
và đang được sử dụng tại các phòng thí nghiệm, thuỷ văn, thuỷ lợi v.v
Chuẩn thứ Chuẩn đầu
Phương tiện đo
Để có thể kiểm định các đồng hồ nước trên, chúng ta đã và đang xây dựng các hệ thống kiểm định tại các công ty kinh doanh nước, các cơ sở chế tạo, lắp ráp đồng hồ nước và đặc biệt là tại các Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tại mỗi tỉnh thành giải quyết nhiệm vụ đảm bảo đo lường pháp quyền trong kinh doanh nước sạch Các đơn vị này thường sử dụng các đồng hồ chuẩn có cấp chính xác 0,2-0,5 % với số lượng ước tính khoảng 500 chiếc với các loại đường kính từ 15 - 200
/h Ngoài ra còn có một số đồng hồ chuẩn được sử dụng ở các lĩnh vực kinh tế khác
Nếu chúng ta phải đưa ra nước ngoài hiệu chuẩn các đồng hồ chuẩn thì với giá hiệu chuẩn khoảng 500 USD cho một chiếc và chu kỳ hiệu chuẩn thông thường là một năm thì kinh phí hàng năm phải bỏ ra là 250.000 USD
Mặt khác nếu chúng ta tự nghiên cứu, thiết kế và chế tạo trong nước với kinh phí khoảng 100.000USD (khoảng 1/10 kinh phí nếu phải mua của nước ngoài) thì dự án sẽ có tính khả thi cao
Việc xác định nguyên lý hoạt động của hệ thống chuẩn đầu theo phương pháp dung tích dựa trên khả năng chế tạo trong nước các bình chuẩn dung tích lớn đến 3000L có độ không đảm bảo đo đến 0,02% Phương pháp khối lượng sẽ được thay thế sau năm 2010 khi chúng ta có khả năng trang bị cân chuẩn lớn đến 5 tấn, việc thay thế cân chuẩn sẽ không ảnh hưởng đến thiết kế chung của hệ thống
Như vậy việc xác định sơ đồ liên kết và sao truyền chuẩn đảm bảo nhu cầu hiệu chuẩn cho hầu hết các cỡ cũng như chủng loại đồng hồ chuẩn đã và sẽ được sử dụng tại Việt Nam đến năm 2010
Việc tiến hành kiểm định hay kiểm tra, thử nghiệm mẫu đối với các phương tiện đo thể tích, lưu lượng hoặc lưu tốc sẽ được tiến hành thông qua các đồng hồ chuẩn hoặc trực tiếp so sánh với hệ thống chuẩn đầu Ngoài ra hệ thống chuẩn đầu lưu lượng nước còn được sử dụng để thực hiện việc so sánh liên phòng với các hệ thống chuẩn đầu của các nước trong khu vực và trên thế giới Do việc xác định dải đo cũng như cấp chính xác của hệ thống chuẩn đầu cũng phải đáp ứng được nhu cầu
so sánh liên phòng sẽ được tiến hành với các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc v.v và các nước công nghiệp phát triển như CHLB Đức, Pháp hay Hoa Kỳ
Trang 5Sơ đồ liên kết chuẩn lưu lượng nước tại Việt Nam
Đã có từ năm 2001
Sẽ được bổ sung (năm 2010)
U là độ không đảm bảo đo tương đối, δ0 là sai số tương đối
Bình chuẩn hạng I Tần số kế chuẩn hạng II
Nhiệt kế chuẩn hạng I
Các phương tiện chuẩn đo lưu lượng khối lượng nước (Quả cân chuẩn, cân chuẩn) Các tỉ trọng kế chuẩn hạng I
Lưu tốc kế, lưu lượng kế
δo = 2 - 5 %
Bộ các lưu lượng kế chuẩn
1 - 200 m3/h U = 0,2-0,5 %
1- 200 m3 / h
U = 0,1 %
1.4 tổng quan các phương pháp đo lưu lượng
Mục tiêu chủ yếu của hệ thống chuẩn đầu lưu lượng nước là đảm bảo việc sao truyền và liên kết chuẩn cho các lưu lượng kế chuẩn thứ và chuẩn công tác Do đó việc nghiên cứu các phương pháp đo lưu lượng cũng như các loại lưu lượng kế là cần thiết để đảm bảo việc lựa chọn nguyên lý làm việc, khả năng hiệu chuẩn, độ chính xác của hệ thống chuẩn đầu là tối ưu
Phương pháp đo lưu lượng theo nguyên lý chênh áp Phương pháp đo lưu lượng kiểu chảy bao
Lưu lượng kế kiểu tuốc bin Lưu lượng kế xoáy
Lưu lượng kế điện từ Lưu lượng kế siêu âm Lưu lượng kế kiểu ống chuẩn phương pháp dùng bình chuẩn và thiết bị chuyển dòng
Kết luận chương 1
Trong phần tổng quan này chúng ta thấy chuẩn đầu lưu lượng có
vị trí then chốt trong việc sao truyền chuẩn và kiểm định phương tiện
đo
Một trong những công việc quan trọng mà chúng tôi đã thực hiện
được là xác định được sơ đồ liên kết chuẩn từ 2001 tới 2010 Sơ đồ này
đã được phê duyệt và trong thời gian qua đã được sử dụng để giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước về Đo lường là Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường định hướng cho việc đầu tư có hiệu quả để phát triển các hệ thống chuẩn từ trung ương đến địa phương và đã đáp ứng được nhu cầu quản
lý việc lưu thông phân phối nước tại các công ty kinh doanh nước, giảm hao hụt, quản lý các đồng hồ nước từ khâu nhập khẩu, kiểm định ban
đầu, định kỳ và giải quyết các tranh chấp kinh tế, kỹ thuật
Việc xây dựng sơ đồ liên kết chuẩn cũng phù hợp với trình độ của các nước trong khu vực và trên thế giới, do đó chúng ta có thể thực hiện
được các phép so sánh trong khu vực để tiến tới công nhận lẫn nhau về
kế quả đo thử nghiệm tạo điều kiện cho việc hội nhập
Để phát huy hiệu quả sử dụng của hệ thống chuẩn đầu, phần tổng quan cũng liệt kê tất cả các loại lưu lượng kế chuẩn và lưu lượng kế công tác được sử dụng ở nước ta và trên thế giới sẽ là đối tượng được hiệu chuẩn hoặc kiểm định bằng hệ thống chuẩn đầu
Trang 6Chương 2 Tính toán, thiết kế
hệ thống chuẩn đầu lưu lượng nước
1 Lựa chọn phương án
Sau khi tìm hiểu các hệ thống chuẩn đầu của các nước trên thế
giới, nghiên cứu các công nghệ chế tạo cơ khí, điện tử cũng như khả
năng chế tạo của các cơ sở trong nước, trình độ trang bị chuẩn thời gian,
khối lượng, khối lượng riêng, độ dài và dung tích tại Việt Nam, chúng tôi
đã lựa chọn phương án xây dựng hệ thống chuẩn đầu lưu lượng nước
dùng bình chuẩn và thiết bị chuyển dòng với phạm vi lưu lượng làm việc
là từ 1-200m3
/h, độ không đảm bảo đo nhỏ hơn 0,1%, có khả năng kiểm
định và hiệu chuẩn các loại lưu lượng kế, có khả năng thực hiện được các
phép so sánh vòng giữa các tổ chức đo lường quốc tế
2 Nguyên lý hoạt động
Nguyên lý làm việc của hệ thống là xác định lưu lượng trong đường
ống bằng cách tạo ra một dòng chảy trong ống kín có lưu lượng ổn định
(còn được gọi là lưu lượng chuẩn), sau đó đo thể tích của nước chảy qua
đoạn ống đo bằng bình chuẩn và xác định thời gian chảy của lượng nước
trên bằng bộ đếm thời gian thông qua thiết bị chuyển dòng
Lưu lượng chuẩn được tạo như sau : Cụm máy bơm, bao gồm nhiều
máy bơm có lưu lượng làm việc khác nhau, (1) bơm nước từ bể chứa
(14) qua đường ống dẫn nước (2) lên bể tràn (3) Lưu lượng nước được
bơm lên bể tràn luôn lớn hơn lưu lượng cần đo (có các lưu lượng kế
kiểm tra lưu lượng bơm lên của tổ bơm và điều khiển tự động các van
hồi lưu) Trong bể tràn nước chảy qua một hệ thống nắn dòng đặc biệt
để không tạo ra những xoáy cục bộ trong bể và mặt nước trên bể luôn
được ổn định tại lưu lượng hiệu chuẩn lớn nhất của hệ thống
Lượng nước thừa sẽ tràn qua lưỡi tràn (4) vào bể tràn (12) để thoát
theo ống dẫn (13) xuống bể chứa (14), một vách ngăn và lưới tách khí
được bố trí giữa đường lên và đường về của nước để tránh tạo bọt trong
đường hút của máy bơm và đồng thời làm cân bằng nhiệt độ trong bể
Như vậy dòng nước chảy vào ống dẫn (5), đi qua bộ nắn dòng (6)
đến các lưu lượng kế chuẩn (7) là dòng chảy có áp suất tĩnh tại đầu vào
ổn định đây là một yêu cầu hết sức cần thiết cho hệ thống chuẩn đầu
lưu lượng
Dòng chảy với lưu lượng chuẩn được chảy qua một bộ các lưu lượng kế
chuẩn (7) được mắc song song để chỉ thị lưu lượng làm việc tức thời của
hệ thống
Đoạn ống đo được sử dụng để hiệu chuẩn cho các đồng hồ chuẩn (8) Đoạn ống này phải có chiều dài, độ bóng cần thiết để dòng chảy trong ống được ổn định không ảnh hưởng tới sai số của đồng hồ
Trên đoạn ống đo, phía trước đồng hồ chuẩn được lắp nhiệt kế để
đo nhiệt độ của nước và hiệu chỉnh về điều kiện tiêu chuẩn Tổn hao áp của đồng hồ chuẩn được đo bằng các lỗ lấy áp suất trước và sau đồng
hồ, ngoài ra áp suất tĩnh cũng được đo để đảm bảo đồng hồ chuẩn làm việc trong miền áp suất cho phép
11
3
4
5
6 8
14 10
9
1
2 13
Sơ đồ tổng thể hệ thống chuẩn đầu lưu lượng
12
7
Trang 7Nước chảy vào bình chuẩn qua vòi phun và thiết bị chuyển dòng
(9) Vòi phun có tác dụng làm dòng nước trong đường ống phun thành
tia có dạng hình hộp mỏng và có tiết diện đều trước khi chảy vào thiết bị
chuyển dòng Thiết bị chuyển dòng là một lưỡi mỏng chuyển động để
lái tia nước vào bình chuẩn hoặc ra đường xả Ngoài ra thiết bị chuyển
dòng còn có tác dụng như một công tắc hành trình để đóng mở bộ đếm
thời gian Nước từ bình chuẩn lại chảy vào bể chứa và tạo thành chu
trình kín để lưu lượng của bơm ổn định và tránh lãng phí
3 Nguồn
Nguồn nước thành phần quan trọng của hệ thống chuẩn đầu bao
gồm: bể nguồn, hệ thống bơm, bể ổn áp, đường ống và các van điều
khiển đã được chúng tôi tính toán và thiết kế dựa trên phương trình thuỷ
lực Becnuli
Bể nguồn được xây chìm ngay bên cạch phòng chuẩn đầu lưu
lượng Bể nguồn có kích thước dài ì rộng ì sâu = 4m ì 2,5m ì 2,5 m =
25 m3
được chia làm ba khoang, khoang 1 cho đường xả từ bể ổn áp,
khoang 2 cho đường hút của máy bơm và khoang 3 cho đường xả từ
bình chuẩn Các khoang được ngăn bằng lưới có tác dụng khử các bọt
khí từ đường xả và ngăn không cho lẫn vào đường hút của máy bơm
Việc phân chia bể nguồn thành từng khoang còn có tác dụng tạo dòng
chảy trong bể và làm cân bằng nhiệt độ giữa đường hút và đường xả
/h tại chiều cao 30m, hai bơm có cùng lưu lượng 150 m3
/h tại chiều cao 30m
Bể ổn áp được chia làm hai khoang, khoang ngoài bao gồm
đường lên từ bơm và đường xuống hiệu chuẩn, khoang trong là đường
tràn xả xuống bể uồn Giữa hai khoang lắp lưỡi tràn được điều chỉnh sao
cho nước tràn đều trên toàn bộ lưỡi tràn Chúng tôi đã đề xuất phương
án xây bể ổn áp được xây trên tầng nóc nhà 6 tầng gần phòng thí ghiệm,
sàn bể có chiều cao 27 m Bể có kích thước dài ì rộng ì cao = 4 m ì 2,5
m ì 1,8 m = 18 m3
Kết quả thực nghiệm tại lưu lượng bơm vào từ 30
đến 250m3
/h, lưu lượng tràn từ 2 đến 30m3
/h, mực nước trong bể luôn ổn
định trong khoảng ±2mm
4 thiết bị chuyển dòng
Thiết bị chuyển dòng (còn được gọi tắt là TBCD) là một thành
phần quan trọng trong hệ thống chuẩn lưu lượng, có chức năng chuyển
dòng chảy quan đoạn đo vào đường xả hay vào bình chuẩn và không
làm thay đổi lưu lượng dòng chảy qua đoạn đo Trong một chu kỳ hiệu
chuẩn, TBCD thực hiện hai lần quét qua dòng hiệu chuẩn Lần quét thứ
nhất, dòng hiệu chuẩn được chuyển từ đường xả vào bình chuẩn Sau đó
bình chuẩn được nạp chất lỏng, tiếp theo đó là lần quét thứ hai, chuyển dòng chảy về đường xả Trong các lần quét của TBCD, lưu lượng vào bình chuẩn thay đổi từ “không “ đến lưu lượng toàn phần và lưu lượng toàn phần về “không “ Do chỉ có một phần của lưu lượng toàn phần chảy vào bình chuẩn khi chuyển dòng quét, sai số của TBCD biểu thị độ không đảm bảo đo của thời gian nạp chất lỏng Sai số này đóng góp
đáng kể vào độ không đảm bảo đo của phép đo lưu lượng
Theo biểu đồ mô tả hoạt động của TBCD trên, một chiều là thời gian chảy và một chiều là lưu lượng tức thời được nạp vào bình chuẩn
Q C , và lưu lượng xả Q B Tại bất kỳ thời điểm nào trong qua trình chuyển,
lưu lượng hiệu chuẩn tổng luôn bằng tổng của lưu lượng nạp và xả: Q T
= Q C +Q B Chu trình hiệu chuẩn có thể được chia làm ba kỳ riêng biệt: kỳ mở
(t 0≤ t ≤ t 2 ), kỳ lưu lượng không đổi (t 2≤ t ≤ t 3 ), và kỳ đóng (t 2≤ t ≤ t 5)
thời gian t 0 là bắt đầu kỳ mở và biểu thị thời điểm được khởi động Trong kỳ mở, TBCD chuyển tia chất lỏng từ đường xả vào bình chuẩn
Do đó lưu lượng nạp tăng từ không đến lưu lượng tổng, Q T Một tín hiệu
t 1 bắt đầu thời gian nạp được phát ra tức thời Sau đó, là thời gian t 2 (cuối của kỳ mở) toàn bộ lưu lượng hiệu chuẩn được chuyển vào bình chuẩn ,
lúc đó Q C =Q T lưu lượng nạp, Q C, trong kỳ mở được biểu diễn bằng
đường cong C 0 Trong kỳ đóng, TBCD lại chuyển tia chất lỏng từ bình
Biểu đồ lưu lượng nước chuyển vào và ra bình chuẩn theo thời gian
T
0 t
A
t1
QC
B
2
C 0
Q
T
T T T
M C
D
c
C
C
t5
Q B
Thời gian
Trang 8Đường cong CC biểu diễn quá độ của dòng nạp trong kỳ đóng Một tín
hiệu t 4 chỉ thị việc dừng thời gian nạp được phát ra tức thời
điều khiển thiết bị chuyển dòng
Chu trình chảy vào
Tại thời điểm không đo, TBCD quay về phía đường xả, nước từ
vòi phun đập vào lưỡi của TBCD và đi vào đường xả để về bể nguồn
Khi có tín hiệu bắt đầu phép đo, cụm điều khiển 1 kéo thanh
trượt 1 và làm quay TBCD
Tại thời điểm lưỡi của TBCD gần chạm vào tia nước thì cặp tế
bào quang điện (TBQĐ) đo thời gian lật phát ra tín hiệu để khởi động bộ
đếm thời gian lật vào của TBCD Vào lúc lưỡi của TBCD đi qua điểm
giữa của vòi phun thì cặp tế bào quang điện đo thời gian nước chảy vào
bình chuẩn phát ra tín hiệu để khởi động bộ đếm thời gian của phép đo
lưu lượng Lưỡi của TBCD quay tiếp cho đến khi nào đi qua toàn bộ tia
nước từ vòi phun cặp tế bào quang điện đo thời gian lật phát ra tín hiệu
để ngừng bộ đếm thời gian lật vào và cắt nguồn nuôi chính của cụm
điều khiển 1
Mở Đóng
Đo thời gian lật Đo thời gian chảy vào bình chuẩn (Bắt đầu đo)
Cụm điều khiển 1 Cụm điều khiển 2
Tâm quay
Chu trình chảy vào
Chu trình chảy ra
Khi bình chuẩn được nạp đầy, có tín hiệu từ cảm biến nước đặt trong bình chuẩn phát ra, nguồn chính của cụm điều khiển 2 được đóng làm cho cụm điều khiển 2 kéo thanh trượt 1 và làm quay TBCD Tại vị trí lưỡi của TBCD gần chạm vào tia nước thì cặp tế bào quang điện đo thời gian lật phát ra tín hiệu để khởi động bộ đếm thời gian lật ra của TBCD Lúc TBCD đi qua điểm giữa của vòi phun thì cặp tế bào quang
điện đo thời gian chảy phát ra tín hiệu để dừng bộ đếm thời gian của phép đo lưu lượng Lưỡi của TBCD quay tiếp cho đến khi nào đi qua toàn bộ tia nước từ vòi phun thì cặp tế bào quang điện lại phát ra một tín hiệu điện để ngừng bộ đếm thời gian lật ra
thiết kế vòi phun vμ thiết bị chuyển dòng
Vòi phun
Vòi phun là thiết bị tạo dòng nước trong đường ống đo thành một tia nước mảnh, đều và liên tục để phun vào lưỡi gạt của máng lật
Đóng Mở
Cụm điều khiển 1 Cụm điều khiển 2
Tâm quay
Chu trình chảy ra
Trang 9Do đó khi máng lật chuyển động việc chuyển hướng dòng chảy ra và
vào bình chuẩn sẽ nhanh hơn, khoảng thời gian lưu lượng được đo biến
thiên theo thời gian rất nhỏ và ổn định
Yêu cầu kỹ thuật đặt ra đối với vòi phun là :
+ Dòng chất lỏng đi qua vòi phun phải ổn định, không gây ra các dao
động cục bộ làm ảnh hưởng tới lưu lượng của nước trong đường ống
+ Tổn thất áp của dòng chảy đi qua vòi phun phải nhỏ
+ Tia nước từ vòi phun phải thẳng, liên tục và không bắn toé
+ bốn vòi phun được thiết kế cho 04 bình chuẩn là 2000L; 500L;200 và
/h; 10-50m3
/h; 4-20m3
/h và 1-5m3
/h
Bằng các thí nghiệm thực tế với các dạng vòi phun khác nhau
[6], chúng tôi chọn loại vòi phun có hai cạnh bên thẳng và có hai mặt
chính dạng nón cong theo hình elip là loại có hệ số lưu lượng lớn nhất
0,85 đến 0,90 và dòng chất lỏng đi qua nó tạo thành các luồng song
song Chiều rộng của vòi phun được tính theo quãng đường hiệu dụng
của lưỡi gạt và không làm tăng tổn thất áp tại lưu lượng lớn nhất
Thiết bị chuyển dòng
TBCD phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật như được nêu sau:
- thời gian chuyển dòng < 36ms tại lưu lượng làm việc lớn nhất,
- chuyển động song song với cạnh dài của vòi phun,
- chia đều lưu lượng của vòi phun,
- khởi động và dừng bộ đếm thời gian tại điểm giữa của hành trình
- bốn TBCD được thiết kế cho 04 bình chuẩn là 2000L; 500L;200
/h; 10-50m3
/h; 4-20m3
/h và 1-5m3
/h với thời gian làm việc tương ứng từ 180 giây đến 36 giây
Bình chuẩn
Yêu cầu chung
Đồng thời với việc xác định thời gian hiệu chuẩn còn phải xác
định thể tích hiệu chuẩn của nước Các bình chuẩn được sử dụng để xác
định trực tiếp thể tích của nước hiệu chuẩn, do đó chúng cần phải có độ
chính xác cao Sai số tương đối của bình chuẩn phải nhỏ hơn 0,02%
[15] Dung tích của bình chuẩn phải tương ứng với thời gian đo nhỏ nhất
tại lưu lượng lớn nhất của dải đo tương ứng Do đó ứng với bốn dải đo là
/h; 10-50m3
/h; 4-20m3
/h và 1-5m3
/h và thời gian đo nhỏ nhất
là 36s, ta có dung tích của các bình chuẩn tương ứng là 2000L, 500L,
200L và 50L
C được xác định bằng tỷ số giữa khối lượng của nước cất và khối lượng riêng của nước cất, sau đó
hiệu chính độ nổi do quả cân và nước cất chiếm chỗ trong không khí và hiệu chính dung tích của bình chuẩn về nhiệt độ 200
C
Kết luận chương 2
Chương 2 đề cập đến việc tính toán các thông số cơ bản của nguồn dòng bao gồm: bể nguồn, bơm và bể tràn, và các thiết bị có vai trò quan trọng như thiết bị chuyển dòng, bình chuẩn để làm cơ sở cho việc thiết
kế, xây dựng và lắp đặt
Các kết quả thực nghiệm như lưu lượng lớn nhất của hệ thống, chuyển động của dòng chảy và mực nước trong bể ổn áp là hoàn toàn phù hợp với thông số tính toán lý thuyết đã chứng tỏ rằng bài toán thuỷ lực đã được xây dựng và giải quyết đúng đắn
Chuyển động của TBCD được phân tích và đánh giá chi tiết để có thể tính toán và thiết kế theo đúng yêu cầu đặt ra Nguyên lý chia dòng chảy của TBCD để có được lưu lượng đối xứng có tác dụng giảm sai số của phép xác định lưu lượng Ngoài ra, vị trí của công tắc chuyển mạch
đếm thời gian cần phải nằm giữa hành trình chuyển dòng chảy của TBCD
Việc xác định các dải lưu lượng làm việc tối ưu đã làm đơn giản việc tính toán và thiết kế các vòi phun, TBCD và bình chuẩn do có thể
áp dụng định luật tương tự thuỷ lực
Các kết quả thực nghiệm cũng cho thấy rằng các đường thoát khí,
vị trí bố trí các cảm biến mực nước trong bình chuẩn là phù hợp và có tác dụng không làm bắn bọt nước và mức nước luôn nằm trong phạm vi thang đo của bình chuẩn
Trong chương 2 cũng đưa ra được phương pháp xác định dung tích của bình chuẩn để đám bảo sai số nhỏ hơn 0,02%
Chương 3
Nghiên cứu dòng chảy trong ống Mục đích của nghiên cứu dòng chảy trong ống dẫn
Nghiên cứu dòng chảy trong ống và các ảnh hưởng của vật cản cục bộ trên đường ống như cút cong, cút cong kép không cùng mặt phẳng, tê cút, ống thu hay gioăng tới sai số của lưu lượng kế có ý nghĩa thiết thực đối với việc tính toán, thiết kế đoạn ống đo của hệ thống chuẩn đầu, cụ thể là xác định được chiều dài tối thiểu của đoạn ống thẳng sau các vật cản cục bộ và trước lưu lượng kế để sai số của lưu lượng kế không bị ảnh hưởng bởi các nhiễu dòng chảy do vật cản cục bộ gây ra
Trang 10Tại Trung tâm Đo lường Việt Nam, khi tiến hành xây dựng hệ
thống chuẩn đầu lưu lượng nước, chúng tôi đã nghiên cứu lý thuyết các
ảnh hưởng của việc lắp đặt khuỷu cong đơn, khuỷu cong kép không
cùng mặt phẳng, tê cút, ống thu, gioăng và các loại van đối với sai số
của lưu lượng kế và các phương pháp được áp dụng trên thế giới để loại
bỏ các ảnh hưởng do lắp đặt, đồng thời chúng tôi cũng đã tiến hành các
phép thử để khẳng định việc lắp đặt các lưu lượng kế không gây ảnh
hưởng đến sai số của chúng cũng như tiến hành áp dụng các phương
pháp sử dụng các loại ổn dòng loại bó ống, đĩa đục lỗ hay lưới và định
vị các đoạn thẳng trước lưu lượng kế để giảm và loại bỏ các ảnh hưởng
của việc lắp đặt đến sai số của lưu lượng kế
Trong chương này chúng tôi sẽ chỉ đề cập đến ảnh hưởng của
khuỷu cong đơn và khuỷu cong kép không cùng mặt phẳng, hai loại
khuỷu cong này đều phải lắp đặt trên hệ thống đường ống và theo các tài
liệu công bố, chúng có ảnh hưởng đáng kể đến sai số của lưu lượng kế
so với các loại van, ống thu hay gioăng Ngoài ra chúng tôi cũng trình
bày và phân tích các kết quả thử nghiệm đối với việc áp dụng các loại ổn
dòng loại bó 19 ống và 7 ống kết hợp với đoạn ống thẳng trước lưu
lượng kế để loại bỏ các ảnh hưởng của các khuỷu cong trên
Xây dựng và thử nghiệm mô hình thuỷ lực của đường ống
Để đánh giá được một cách chính xác các ảnh hưởng của việc lắp đặt tới
sai số của lưu lượng kế chuẩn cần phải có hệ thống hiệu chuẩn với các
thiết bị có độ chính xác cao để có thể phát hiện được sự thay đổi rất nhỏ
của sai số, thông thường đến 0,05%, các thiết bị được sử dụng bao gồm:
+ đường ống được có đường kính 50 mm và làm bằng inox có độ
% so với đường kính)
Bao gồm nhiều đoạn thẳng có chiều dài khác nhau: 3, 10, 30, 80, 100
lần đường kính, khuỷu cong đơn 90o, khuỷu cong kép 90o không cùng
mặt phẳng, ổn dòng loại bó 19 ống và bó 7 ống, vận tốc kế được sử dụng
là ống pi tô có đường kính thân 2,5 mm, cấp chính xác 0,5, lưu lượng kế
được sử dụng là đồng hồ tuốc bin đường kính danh định 50mm
+ hệ thống chuẩn được dùng để xác định sai số của các lưu lượng
kế bao gồm có bình chuẩn 500 L cấp chính xác 0,02 , thiết bị chuyển
dòng và bộ đếm thời gian có sai số <0,01%,
/h, tương ứng với số Reynold là 1,25*105
đến 1,56*105
Tính chất của dòng chảy sau khuỷu
Các mô hình lý thuyết được xây dựng để mô tả đặc tính thủy lực
của dòng chảy trong ống sau các khuỷu để giải thích sự thay đổi đường
đặc tính sai số của lưu lượng kế theo lưu lượng Một trong những
nguyên nhân chủ yếu gây ra sự thay đổi của sai số là sự mất đối xứng của các prôphin vận tốc theo các hướng thẳng đứng, nằm ngang và sự xuất hiện các xoáy loại I và loại II Để có thể xác định được sự xuất hiện và cường độ của các loại xoáy này, chúng tôi đã tiến hành các phép
đo prôfin vận tốc lưu lượng của dòng chảy
Khuỷu đơn
Các kết quả đo được theo đã chỉ ra rằng sự phân bố của vận tốc trung bình và rối sẽ suy giảm theo khoảng cách sau khuỷu tuỳ theo loại xoáy, số Reynold và độ nhám Theo đồ thị 3.5 chúng ta thấy rằng vận tốc rối không thay đổi đáng kể về dạng phân bố cũng như giá trị tại các
vị trí sau khuỷu cong
Đối với dòng chảy sau khuỷu cong đơn prôphin vận tốc đứng bị thay đổi
rõ rệt và sẽ ảnh hưởng đáng kể tới đường đặc tính sai số của các loại lưu lượng kế kiểu tốc độ như đồng hồ tuốc bin, siêu âm hay điện từ
Khuỷu kép không cùng mặt phẳng
Theo các kết quả đo được, khi hai khuỷu nằm sát nhau (s=0, có nghĩa là không có đoạn thẳng giữa chúng), xoáy lõi đơn (ở đây được định nghĩa
là loại I) được tạo ra Các phân bố này chỉ ra rằng, đối với đường ống ngay sau khuỷu thì: góc xoáy có giá trị khoảng ±20o
ở gần thành ống và
ở vùng gốc gần với tâm đường ống thì góc xoáy có giá trị gần bằng không, có nghĩa là chỉ có ít hoặc không có xoáy
Các ảnh hưởng của khuỷu cong tới sai số của lưu lượng kế Lưu lượng kế kiểu tiết lưu
Sai số bị suy giảm từ -0,1% đến -0,5% khi lắp gần khuỷu đơn với các và
có xu hướng tăng từ 0,1% đến 0,4% khi lắp gần khuỷu kép không cùng mặt phẳng với khoảng cách tương ứng là 20 và 2,5 lần đường kính
Lưu lượng kế tuốc bin
Các kết quả đã chỉ ra rằng, đường đặc tính của đồng hồ tuốc bin bị dịch lên từ 0,3 đến 2% khi mà nó được lắp trong khoảng cách 90 lần đường kính cách khuỷu kép không cùng mặt phẳng Khi đồng hồ được lắp gần khuỷu đơn, đường đặc tính bị dịch xuống và nhỏ hơn 0,3% trong phạm
vi 20 lần đường kính cách khuỷu
Để cải thiện đường đặc tính của các loại đồng hồ trên có thể sử dụng cơ cấu ổn dòng được lắp giữa đồng hồ và khuỷu có thể cải thiện đáng kể
đường đặc tính của đồng hồ Các cơ cấu ổn dòng này có các kích thước hình học khác nhau, khả năng ổn dòng có thể phụ thuộc vào loại dòng chảy trong ống và hình dáng ống
Loại bó 19 ống