Nghiên cứu ứng dụng phương pháp không phá huỷ để đánh giá chất lượng đạn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Bộ Quốc phòng
Học viện Kỹ thuật Quân sự -
Nguyễn Anh Tuấn
nghiên cứu ứng dụng phương pháp không phá
huỷ để đánh giá chất lượng đạn
Chuyên ngành: Cơ học kỹ thuật
Mã số: 62.52.02.01
tóm tắt Luận án tiến sỹ kỹ thuật
Hà Nội - 2008
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Nguyễn Văn Thuỷ Học viện Kỹ thuật Quân sự
2 TS Nguyễn Trọng My Viện KHKT Hạt nhân Hà Nội
GS TSKH Đào Huy Bích ĐH KHTN-ĐHQG Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại :
Vào hồi: giờ ngày tháng năm 2009
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự
Trang 31 Nguyễn Anh Tuấn (2003), “Kiểm tra, đánh giá chất lượng thân đạn
và ống liều bằng phương pháp dòng điện xoáy”, Tạp chí Khoa học
và kỹ thuật, Học viện Kỹ thuật Quân sự, số 103, trang 117-122
2 Nguyễn Văn Thuỷ, Nguyễn Anh Tuấn (2006), “ứng dụng phương pháp dòng xoáy hiển thị bằng mét kế để kiểm tra vết nứt trên vỏ
đạn”, Tạp chí Kỹ thuật và Trang bị, Tổng cục Kỹ thuật, số 75, trang 44-48
3 Nguyễn Văn Thuỷ, Nguyễn Anh Tuấn (2007), “ứng dụng phương pháp dòng xoáy kiểm tra vết nứt trên vỏ đạn”, Toàn văn các báo cáo khoa học, Hội nghị khoa học ngành Vũ khí, Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Công nghệ quân sự, trang 153-161
4 Nguyễn Văn Thuỷ, Nguyễn Anh Tuấn (2007), “ứng dụng phương pháp dòng xoáy hiển thị mặt phẳng trở kháng để kiểm tra vết nứt dưới bề mặt vỏ đạn”, Tạp chí Kỹ thuật và Trang bị, Tổng cục Kỹ thuật, số 81, trang 40-45
5 Nguyễn Văn Thuỷ, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Văn Hưng (2007),
“Phương pháp xác định khe hở cuối cùng giữa vỏ đạn và thành buồng đạn khi bắn”, Tạp chí nghiên cứu Khoa học kỹ thuật và Công nghệ quân sự, Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Công nghệ quân sự, số 20, trang 130-136
6 Nguyễn Văn Thuỷ, Nguyễn Anh Tuấn (2007), “Phương pháp xác
định điều kiện bền thân vỏ đạn chống lại sự đứt ngang khi bắn”, Tạp chí Khoa học và kỹ thuật, Học viện Kỹ thuật Quân sự, số 119, trang 56-61
7 Nguyễn Văn Thuỷ, Nguyễn Anh Tuấn (2007), “Xây dựng chuẩn
đánh giá cho phương pháp dòng xoáy kiểm tra vết nứt trên vỏ
đạn”, Tạp chí Kỹ thuật và Trang bị, Tổng cục Kỹ thuật, số 84, trang 30-33
Trang 4Các phương pháp kiểm tra hiện tại không thể tiến hành kiểm tra toàn bộ số lượng đạn dược Kết quả kiểm tra chỉ đánh giá đại diện chất lượng thực, mẫu sau kiểm tra phải huỷ bỏ gây lãng phí và thời gian kiểm tra kéo dài Vì vậy, kiểm tra được tình trạng kỹ thuật của
đạn dược trong thời gian ngắn mà không ảnh hưởng đến lượng dự trữ
là nhu cầu cấp thiết Từ đó, cần nghiên cứu xây dựng một phương pháp kiểm tra, đánh giá mới với mục tiêu không phá huỷ mẫu Đó là kiểm tra các hư hỏng về cơ học đối với các phần tử đạn dược và toàn
bộ viên đạn trong quá trình bảo quản lâu dài Đặc biệt là yêu cầu xác
định mức độ nứt, kiểm tra kỹ thuật và phân loại vỏ đạn Đây là cơ sở
để hình thành đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp không phá huỷ để đánh giá chất lượng đạn”
2 Mục đích nghiên cứu: nghiên cứu và tìm hiểu nguyên nhân gây ra hư hỏng đối với vỏ đạn Khảo sát các phương pháp kiểm tra không phá huỷ phù hợp kiểm tra vết nứt trên vỏ đạn nhưng đáp ứng yêu cầu
an toàn cháy nổ trên đạn dược ứng dụng phương pháp kiểm tra phù hợp cùng tiêu chuẩn đánh giá nứt cho vỏ đạn đồng thau
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu khả năng ứng dụng một số phương pháp kiểm tra không phá huỷ đánh giá tình trạng nứt
vỏ đạn Kiểm tra và đánh giá mức độ nứt trên vỏ đạn 25mm Hải quân bằng phương pháp dòng điện xoáy Các kết quả nghiên cứu sẽ áp dụng cho các vỏ đạn đồng thau khác có trong trang bị
4 Phương pháp nghiên cứu: luận án vận dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu tính toán và thực nghiệm trên một số loại đạn dược
có trong trang bị trên cơ sở đã có những kết quả tính toán chi tiết để kiểm chứng, đánh giá kết quả tính toán
5 ý nghĩa khoa học và thực tiễn: đề tài luận án đề cập đến vấn đề xác định vết nứt của vỏ đạn bằng phương pháp dòng điện xoáy Đây
là một vấn đề mang tính kỹ thuật, kinh tế lớn và thời sự mà các đơn
vị cất giữ, bảo quản, sử dụng vũ khí đạn trong quân đội đang đòi hỏi
Trang 5Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1 Đặt vấn đề
Quá trình cất giữ lâu dài, đạn dược chịu rất nhiều ảnh hưởng của môi trường, các tác động cơ học trong vận chuyển, bảo quản và sử dụng nên chúng luôn bị giảm chất lượng với mức độ khác nhau
Do chủng loại đa dạng nên chỉ đề cập tới phương pháp kiểm tra chất lượng cho các loại đạn súng pháo–loại có tỷ trọng lớn nhất trong trang bị hiện nay Trước hết là đánh giá chất lượng vỏ đạn, phần tử làm việc trong điều kiện khắc nghiệt và nhạy cảm nhất trong các phần tử kim loại của đạn dược đối với các tác động trong quá trình bảo quản và sử dụng Đồng thời đối tượng nghiên cứu là đạn đã lắp tổng thành phát bắn và ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu nên cần khảo sát thực nghiệm một số phương pháp kiểm tra không phá huỷ chủ yếu trên đạn dược trong điều kiện Việt Nam, qua đó khẳng định tính phù hợp của phương pháp lựa chọn cho kiểm tra nứt trên vỏ đạn 1.2 Đạn súng pháo và phân cấp chất lượng
- Đặc điểm cơ bản của hiện tượng bắn: nhiệt độ lớn, có thể đạt 1200-3200oC; áp suất khí thuốc cao, áp suất lớn nhất pmax=200-360MPa; tốc độ đạn lớn, tốc độ tại đầu nòng vd=500-1500m/s; thời gian xảy ra của một phát bắn rất ngắn, td=0,001-0,05giây; tốc độ bắn lớn, trong một số hệ thống bắn tự động tốc độ bắn có thể đạt 1000-
1200 phát/phút cho một nòng Như vậy, quá trình xảy ra rất khốc liệt
và vỏ đạn là khâu trực tiếp trong chuỗi vận hành của quá trình bắn
- Phân cấp chất lượng đạn: phân thành 5 cấp cho viên đạn và từng phần tử, cấp chất lượng chung lấy theo cấp thấp nhất của một phần tử nào đó khi không thể thay thế được Với vỏ đạn, đã xem yếu
tố nứt quyết định chất lượng chung nhưng chưa xét đến từng phạm vi trên vỏ đạn và chưa khẳng định vùng nguy hiểm nằm gần đáy vỏ đạn 1.3 Phương pháp đánh giá chất lượng đạn
- Theo 3 nội dung: kiểm tra kỹ thuật đạn dược; hoá nghiệm thuốc phóng; bắn thử đánh giá chất lượng chung
- Kiểm tra vỏ đạn trong quá trình sản xuất: theo một xác suất nhất định và kỹ thuật kiểm tra giai đoạn này chưa phát triển, nên vẫn
có một số vỏ đạn tồn tại các khuyết tật nhỏ bị lọt lưới [9], [10], [45]
- Kiểm tra vỏ đạn trong quá trình cất giữ, bảo quản và vận chuyển: hiện nay chỉ xem xét toàn bộ bề mặt ngoài của vỏ đạn bằng mắt thường, có thể được hỗ trợ bởi kính lúp và đối chiếu kết quả với tiêu chuẩn để phân cấp chất lượng [8] Phương pháp này còn nhiều
Trang 6hạn chế, phụ thuộc vào yếu tố chủ quan và chỉ kiểm tra tình trạng nứt
vỏ đạn theo một xác suất nhất định Do đó còn bỏ sót nhiều vỏ đạn bị nứt hoặc nhầm lẫn trong đánh giá phân loại gây lãng phí và ảnh hưởng bất lợi đến quá trình sử dụng
1.4 Tình hình hư hỏng của đạn dược
Đa số các loại đạn gồm nhiều lô khác nhau, thời gian sản xuất
đã rất cũ, do nhiều nước sản xuất với công nghệ khác nhau, lại qua các thời kỳ chiến tranh, cất giữ trong các kho, lán tạm nay được thu hồi về nên chất lượng bị xuống cấp rất nhanh
- Tình hình hư hỏng chung: thiếu đồng bộ, bẹp méo, han gỉ, nứt,
mờ mất ký hiệu, thiếu bao gói, nắp phòng ẩm, trương nở thuốc nổ, bao gói thuốc phóng bị bục, thuốc phóng bị đổi màu, gãy vỡ
- Tình hình hư hỏng của vỏ đạn: chủ yếu do bị nứt, ăn mòn, bẹp méo và tập trung trên vỏ đạn đồng thau Khảo sát hư hỏng vỏ đạn 25mm Hải quân ở 3 lô (khoảng 37.000 viên), cho thấy tỷ lệ đạn bị nứt vỏ chiếm khoảng 15-20%, các vết nứt dài chừng 10-15mm [9] Việc phân chọn bằng phương pháp thông thường chỉ phát hiện được những viên bị nứt mặt ngoài, những viên bị nứt mặt trong hay nứt ngầm thì không thể phát hiện được [10]
1.5 Tổng quát về kiểm tra không phá huỷ
Kiểm tra không phá huỷ (NDT) đóng vai trò quan trọng trong kiểm tra chất lượng trong sản xuất cũng như suốt quá trình phục vụ của sản phẩm nhưng không thể dự đoán những nơi nào khuyết tật sẽ hình thành và phát triển
Trong quân sự, NDT được ứng dụng từ rất sớm dùng kiểm tra khuyết tật khi chế tạo và kiểm tra định kỳ trang thiết bị Quân đội các nước phát triển như Mỹ, Nga, Trung Quốc đã xây dựng thành những quy trình hoàn chỉnh, có hệ thống và thu nhiều ích lợi từ NDT [27], [32], [34], [52] ở Việt Nam, những năm 60-70 Thế kỷ 20, các phương pháp như: kiểm tra bằng từ tính, chụp ảnh phóng xạ và siêu
âm đã được chuyển giao nhưng ít phát huy hiệu quả, bị mai một Hiện nay, NDT từng bước được cập nhập và phát triển Tuy nhiên số lượng thiết bị, kỹ thuật viên và sử dụng các phương pháp NDT còn hạn chế, tập trung trong một số ngành: hàng không, dầu khí, đóng tàu
và chế tạo máy Trong quân đội, lực lượng này còn rất mỏng và các phương pháp NDT hầu như chưa áp dụng
1.6 Khảo sát một số phương pháp NDT trên đạn dược
Đánh giá nứt trên bề mặt, dưới bề mặt hay phía sau bề mặt vỏ
Trang 7Hình 1.3 Sử dụng phương pháp thẩm thấu xác định vết nứt trên vỏ đạn a Quan sát bằng mắt; b Sử dụng phương pháp thẩm thấu (a) (b)
Hình 1.4 Sử dụng chụp ảnh RT kiểm tra độ an toàn và vị trí chi tiết trong ngòi đạn a ảnh chụp ngòi đạn M72; b ảnh chụp ngòi đạn M79
đạn, có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, đối tượng kiểm tra là vỏ đạn đã tổng lắp đòi hỏi những yêu cầu khắt khe nên qua các kết quả thực nghiệm với những phân tích ưu nhược điểm để
có lựa chọn phương pháp phù hợp
1.6.1 Kiểm tra bằng trực quan: dùng chủ yếu hiện nay để kiểm tra khuyết tật bề mặt, đánh giá mức độ nứt, han gỉ, ăn mòn của chi tiết cơ khí trong đạn, đặc biệt là vỏ đạn [8] Hạn chế lớn nhất là chỉ kiểm tra được khuyết tật hở trên bề mặt, phải làm sạch chi tiết, không xác định được độ sâu và phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố chủ quan, phải tiến hành tẩy bỏ lớp phủ bảo vệ đạn sau đó phải bảo dưỡng lại, rất phức tạp, tốn kém, lâu và kết quả thu được hạn chế
1.6.2 Kiểm tra bằng chất thẩm thấu:
sử dụng phát hiện khuyết tật hở trên bề mặt
chi tiết làm từ vật liệu không xốp và dùng
phổ biến để kiểm tra vật liệu không từ tính
Dễ thực hiện, cho kết quả trực quan (xem
hình 1.3) nhưng hạn chế trên đạn dược: đòi
hỏi tẩy bỏ lớp phủ bề mặt, khó tẩy rửa hoá
chất dùng kiểm tra và chất thẩm thấu có
thể ảnh hưởng lâu dài đến đạn dược
1.6.3 Kiểm tra bằng bột từ: dùng kiểm
tra chi tiết làm bằng vật liệu dễ nhiễm từ, có khả năng phát hiện khuyết tật hở trên bề mặt và ngay dưới bề mặt Không áp dụng trên
đạn tổng lắp do không đáp ứng được các yêu cầu về an toàn cháy nổ 1.6.4 Kiểm tra bằng chụp ảnh phóng xạ (RT): phim chụp cho biết sai hỏng trong cấu trúc vật liệu, trong lắp ráp chi tiết qua độ
đen, rất trực quan (xem hình 1.4)
nhưng chỉ cho chỉ thị tốt với
khuyết tật dạng thể tích Đạn
dược có kết cấu phức tạp, làm từ
nhiều chất liệu khác nhau nên
khó giải đoán khuyết tật Vỏ đạn
dạng vỏ trụ, chiều dày thay đổi
nên giải đoán khuyết tật khó,
yêu cầu an toàn phóng xạ và giá
Trang 8Hình 1.5 Kiểm tra khuyết tật đáy vỏ đạn dùng UT đa kênh
chất tiếp âm dạng lỏng nên khó áp dụng trên
đạn Thực hiện và giải đoán khuyết tật khó,
phải duy trì tiêu cự chùm tia ổn định, bề mặt
kiểm tra tương đối bằng phẳng và chiều dày
vùng được kiểm tra không thay đổi Khắc
phục hạn chế về chất tiếp âm, sử dụng kỹ
thuật không dùng chất tiếp âm (ACU) nhưng
kích thước đầu dò lớn, phạm vi ứng dụng
trên các cỡ vỏ đạn khác nhau hạn chế Tuy
vậy, kiểm tra UT đa kênh có lợi ích trong
chế tạo vỏ đạn, kiểm tra nhanh, chính xác, tự động và phạm vi vật liệu kiểm tra rộng (xem hình 1.5) [26], [54]
1.6.6 Kiểm tra bằng dòng điện xoáy: dùng rộng rãi để phát hiện các khuyết tật bề mặt, phân loại vật liệu, đo thành mỏng từ một phía,
đo chiều dày lớp mạ, phủ của chi tiết vỏ mỏng [24], [32], [46], [48], [50] ưu điểm: có thể phát hiện các khuyết tật trên bề mặt và dưới bề mặt vỏ đạn mà không cần tiếp xúc đầu dò và bảo đảm an toàn cháy nổ đạn dược tuyệt đối
1.7 Kết luận chương 1
1 Khảo sát hư hỏng của viên đạn, phân tích nguyên nhân hư hỏng vỏ đạn trong vận chuyển, cất giữ, bảo quản dưới tác động cơ học, điều kiện môi trường, thời gian niêm cất và nhận được vấn đề nứt là yếu tố quyết định đến chất lượng vỏ đạn
2 Đề cập tới các phương pháp đánh giá chất lượng đạn, vỏ đạn trong điều kiện quốc phòng của ta hiện nay và kết quả khảo sát khả năng ứng dụng của các phương pháp kiểm tra không phá huỷ chủ yếu trên đạn dược trong điều kiện Việt Nam Qua đó tổng hợp, phân tích
đánh giá và lựa chọn phương pháp kiểm tra xác định tình trạng hư hỏng của vỏ đạn mà vẫn giữ nguyên chất lượng viên đạn và được gọi
là “phương pháp không phá huỷ” để đánh giá chất lượng đạn Đề xuất ứng dụng phương pháp dòng điện xoáy là thích hợp cho đánh giá xác định nứt trên vỏ đạn và bảo đảm an toàn cháy nổ tuyệt đối Chương 2: Đặc điểm cấu tạo, hoạt động của vỏ
đạn, những hư hỏng và chỉ tiêu đánh giá 2.1 Đặt vấn đề
Để xây dựng phương pháp, qui trình, chỉ tiêu đánh giá nứt vỏ
đạn, tìm hiểu nguyên nhân cũng như các khuyết tật nguy hiểm có thể xảy ra trên vỏ đạn cần khảo sát: đặc điểm thiết kế và hoạt động nhằm
Trang 9(a)
(c)
Hình 2.4 Phân bố độ cứng theo chiều dài một số vỏ đạn súng
a Vỏ đạn thép đạn 20mm; c Vỏ
đạn đồng thau đạn 12,7mm
khẳng định tính khốc liệt trong quá trình làm việc khi bắn của vỏ
đạn; quá trình gia công tái sử dụng và những tác động trong bảo quản lâu dài tới vỏ đạn để định hướng mức độ, khả năng xuất hiện và phát triển của vết nứt trên vỏ đạn; xác định vùng, vị trí tiết diện nguy hiểm cần kiểm tra và chỉ tiêu đánh giá để hạn chế phạm vi, tăng tốc độ kiểm tra và đánh giá chính xác mức độ hư hỏng theo các vùng khác nhau Khảo sát tập trung vào vỏ đạn đồng thau 25mm Hải quân 2.2 Giới thiệu chung vỏ đạn súng-pháo
Hai yêu cầu chính và quan trọng đối với vỏ đạn đồng thau: bền, cứng vững khi bắn, không thay đổi cơ tính, bền ăn mòn, chống tự nứt trong suốt quá trình cất giữ bảo quản và tái sử dụng nhiều lần
2.3 Đặc điểm cấu tạo, hoạt động của vỏ đạn
- Vỏ đạn là chi tiết vỏ mỏng, có đáy đặc Vỏ đạn súng và vỏ đạn pháo hình dạng ít khác nhau, khác nhau chủ yếu về độ lớn và kết cấu phần đáy nơi lắp bộ lửa [3], [60], [61]
- Mỗi phần của vỏ đạn có đặc tính cơ lý và công dụng khác nhau tương ứng với điều kiện làm việc
- Vật liệu tốt nhất đáp ứng yêu cầu khai thác là đồng thau mác
Л68 và Л70, giới hạn bền σb=300-350MPa, độ dãn dài tương đối δ=50-55%, độ thắt tương đối ψ=45-50%
- Phân bố tính chất cơ học hợp
lý, đảm bảo hoạt động tin cậy và dễ
rút vỏ đạn khi bắn (xem hình 2.4)
- Hoạt động của vỏ đạn theo qui
luật thay đổi áp suất khí thuốc
phóng, của nhiệt độ biến đổi nhanh
và tác dụng tương hỗ giữa các bộ
phận tham gia khi bắn Hợp lý là
phối hợp các điều kiện làm việc của
vỏ đạn với quá trình bắn được
nghiên cứu bởi thuật phóng trong
Hoạt động của vỏ đạn khi bắn
chia 4 thời kỳ (xem hình 2.8) [47]:
thời kỳ 1, đặc trưng bằng biến dạng tự do thành vỏ đạn dưới tác dụng của áp suất khí thuốc đến khi tiếp xúc với buồng đạn; thời kỳ 2, biến dạng cùng buồng đạn đến thời điểm Pmax; thời kỳ 3 bắt đầu dỡ tải đàn hồi vỏ đạn cùng buồng đạn và buồng đạn về vị trí ban đầu cùng khoá nòng; thời kỳ thứ 4, dỡ tải đàn hồi vỏ đạn tiếp tục, thành vỏ đạn tách khỏi bề mặt buồng đạn hoặc bị giữ chặt (xem hình 2.9)
Trang 102.4 Khảo sát ứng suất và biến dạng của vỏ đạn khi bắn 2.4.1 Xác định khe hở cuối cùng giữa vỏ đạn và thành buồng
đạn khi bắn: giá trị là khác nhau cho từng loại đạn, liên quan với trạng thái ứng suất và ảnh hưởng đến độ bền vỏ đạn khi bắn
- Giá trị của khe hở cuối cùng tương đối tại tiết diện bất kỳ của thân vỏ đạn theo [55], [61], xác định qua biểu thức
t k e
1a
1a.2E
P3
2
2 2
0
1 3
S 2
D 3 , 3 l
Hình 2.8 Biến dạng vỏ đạn
theo các thời kỳ và sự tạo
thành khe hở cuối cùng
(a) (b)
(c)
(d)
Hình 2.9 Đồ thị tổng quát sự phân bố có thể của khe hở cuối cùng theo chiều dài thân vỏ đạn
Trang 11thành phần đàn hồi dỡ tải vỏ đạn có tính đến sơ đồ thể tích của trạng thái ứng suất tương ứng với định luật Hooke tổng quát, tính theo
=
θ θ
S
N
K
Qd
DlnS
N
K
P
2 , 0 v
' x k
k 2
, 0 v
d
D ln K
- ứng suất dọc trục σx được xác định bằng công thức
i
Tp x x
F
P N
2 , 0 v r
3
2 σ
= σ
ư
Kết hợp với hệ thức (2.8) ta tính được ứng suất vòng σθ
' 2 , 0
K 3
2
ư σ
=
Còn σx tính theo biểu thức:
' 2 , 0 v r
=
Trang 122.4.2 Tính điều kiện bền của vỏ đạn khi bắn
a Tính điều kiện bền thân vỏ đạn về nứt dọc: thời kỳ đầu của phát bắn, ứng suất chủ yếu thứ nhất là ứng suất vòng σθ , ứng suất dọc trục σx = 0 , 5 σθ [15], [17], [18] nên việc σθ chuyển qua giới hạn bền có thể dẫn đến nứt dọc Phương pháp của M.I Xverdlov, ngoài giá trị biến dạng vòng trung bình, còn xét tới đặc tính tăng bền của vật liệu bị biến cứng theo quy luật
i 05
, 0
tiết diện ở đó ứng suất dọc
trục đạt cực đại khi bắn có
độ dãn dài tương đối lớn
nhất là nguy hiểm nhất
Khi tính, phần dưới của
thân có các chỉ số ứng suất
chính khác nhau (xem hình 2.13) Tiết diện A-A tới tiết diện B-B theo chiều trục σx=σ1, σθ=σ2, σr=σ3 Biến dạng dư dọc trục xác định bằng công thức [57]
o
2
3
∆ ν
ν
ư
=
Đoạn OA và BC, ứng suất chủ yếu thứ nhất là ứng suất vòng
σ1=σθ , σ2=σx , σ3=σr , tính biến dạng dư dọc trục theo biểu thức
o 2
3
2
∆ ν
ư
ν
= ε
Trang 13Bảng 2.3 Kết quả tính toán ứng suất và biến dạng dọc trục phần dưới thân vỏ đạn 25mm vật liệu đồng thau, với áp suất lớn nhất
đến tiết diện nguy hiểm, L2 khoảng cách từ mặt ngoài đáy vỏ đạn đến tiết diện nguy hiểm