1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)

27 548 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Đoàn Thị Tuyết Nga

NGHIÊN CỨU VÀ XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ

KHÔI PHỤC DÒNG CHẢY SÔNG ĐÁY

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Khoa Địa lý, Đại học Khoa

học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Xuân Thái

PGS.TS Vũ Văn Phái

Phản biện 1: PGS.TS Lê Đình Thành

Phản biện 2: PGS.TS Đặng Duy Lợi

Phản biện 3: TSKH Phạm Hoàng Hải

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp nhà nước chấm luận án tiến sỹ họp tại vào hồi giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 Đoàn Thị Tuyết Nga (2000), Đánh giá bước đầu về tác nhân con người vào sự “chết đi” của sông Đáy đoạn từ Hát Môn

tới Ba Thá, thực trạng tình hình và những kiến nghị, Thông tin chuyên đề Khoa học công nghệ và kinh tế nông nghiệp

và phát triển nông thôn (9), tr12 - 13

2 Đoàn Thị Tuyết Nga (2006), “Dòng chảy môi trường và áp dụng nghiên cứu cho sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba

Thá”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Tạp chí Khoa học công nghệ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, (22), tr 66 – 69

3 Đoàn Thị Tuyết Nga (2006), “Thực trạng nguồn nước và sự cần thiết phải cải tạo khôi phục đoạn sông Đáy từ Hát Môn -

Ba Thá”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Tạp chí Khoa học công nghệ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, (23), tr 51- 55

4 Nguyễn Khắc Nghĩa, Nguyễn Văn Huấn, Nguyễn Tài Hợi,

Lê Trọng Đào, Đoàn Thị Tuyết Nga, Nguyễn Nghĩa Hùng,

Báo cáo kết quả nghiên cứu của đề mục “Phân tích đánh giá qui luật và xác định biên triều, nước dâng tại các cửa sông đồng bằng bắc bộ” thuộc đề tài cấp nhà nước Nghiên cứu nguồn nước các sông đồng bằng bắc bộ, Viện Khoa học

Thuỷ lợi (1999)

5 Trần Xuân Thái, Đoàn Thị Tuyết Nga (2000), Bước đầu đánh giá về tác nhân con người vào sự “chết đi” của sông Đáy đoạn từ Hát Môn tới Ba Thá, thực trạng tình hình và

những kiến nghị, Tạp chí khoa học Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr106 - 110

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Sông Đáy là phân lưu tự nhiên của sông Hồng Sông Đáy tách ra từ sông Hồng ở cửa Hát Môn thuộc huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây và đổ ra biển ở cửa Đáy

Trong khai thác thuộc địa những năm đầu thế kỷ 20, người Pháp đã chú

ý tới phòng chống lũ sông Hồng bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là bảo vệ thủ đô Hà Nội – trung tâm hành chính của Đông Dương thuộc địa Công trình phân lũ đầu tiên và lớn nhất Đông Dương được xây dựng nhằm mục đích hạ thấp mực nước lũ tại Hà Nội cứu nguy cho Hà Nội khi gặp lũ lớn là công trình phân lũ sông Đáy với hạng mục chính là đập Đáy Đồng thời, hiệu quả của việc xây dựng đập Đáy còn là ngăn chặn úng ngập thường xuyên cho lưu vực sông Đáy thuộc các tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình vào mùa lũ như trước đây

Từ sau khi có công trình phân lũ sông Đáy đến nay, đoạn sông Đáy từ Hát Môn đến Ba Thá có chiều dài hơn 60km trở thành đoạn sông “chết” vì không có nguồn nước nhập vào, ngoài lượng nước thải đổ vào từ các khu dân cư, khu sản xuất và khu canh tác trong lưu vực sông Việc canh tác sản xuất, sinh hoạt của nhân dân rất khó khăn do thiếu nước, cùng với ảnh hưởng to lớn của ô nhiễm môi trường

Cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào đánh giá so sánh giữa “cái được” và “cái mất” của việc xây dựng công trình phân lũ sông Đáy Một thực tế cho thấy rằng, qua 70 năm, chức năng phân lũ của sông Đáy bằng công trình đập Đáy chưa khi nào thực hiện được Trong thời gian trên chỉ có 4 lần phân lũ lớn vào các năm 1940, 1945, 1969, 1971và cả 4 lần đều không thành công Chức năng triệt tiêu lũ thường xuyên từ sông Hồng vào sông Đáy dường như đã thực hiện được do việc lấp cửa vào sông Đáy ở Hát Môn tới cao trình + 15m Nhưng triệt tiêu lũ thường xuyên cũng là triệt tiêu dòng chảy tự nhiên của sông Đáy đoạn từ Hát Môn tới Ba Thá và kéo theo nhiền hệ lụy mà cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá Đó là: không còn dòng chảy tự nhiên nên lòng dẫn

cơ bản của sông Đáy bị san lấp làm khu canh tác, khu dân cư dẫn tới khả năng thoát lũ của lòng dẫn sông Đáy khi phải phân lũ rất hạn chế Không còn nguồn nước từ sông Hồng, dòng chảy sông Đáy hình thành chủ yếu từ nguồn nước thải sinh hoạt và sản xuất của làng nghề ven sông cùng với nước hồi quy từ canh tác nông nghiệp nên dòng chảy sông Đáy bị ô nhiễm rất nghiêm trọng Do cửa phân lưu sông Đáy ở Hát Môn bị lấp nên tạo ra hiệu ứng động lực gây diễn biến rất mạnh mẽ lòng dẫn đoạn sông Hồng khu vực Hát Môn, Cẩm Đình, Trung Hà

Cần thiết phải làm sống lại sông Đáy trong thời gian dài không phân lũ

và cả khi phải phân lũ Cần phải đưa sông Đáy ít nhất là đoạn từ Hát Môn tới Ba Thá trở lại là con sông bình thường cùng với cuộc sống tự nhiên, bền vững của

nó Đó là tư duy xuất phát điểm khi nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài cho luận án

tiến sĩ của mình: “Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy

Trang 5

sông Đáy, phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)”

Luận án không đặt vấn đề xem xét lại nhiệm vụ phân lũ rất cần thiết và rất tích cực của công trình phân lũ sông Đáy trong chiến lược quốc gia về phòng chống lũ ở đồng bằng sông Hồng Luận án chỉ đi sâu tìm hiểu các mặt hạn chế của công trình phân lũ sông Đáy mà khi thiết kế cũng như khi vận hành, nhất là trong tình hình mới hiện nay chưa được xem xét thấu đáo Từ đó luận án xác lập các cơ sở khoa học cho việc khôi phục dòng chảy sông Đáy nhằm khai thác tối

đa tài nguyên nước và cải thiện môi trường đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá

2 Mục tiêu luận án:

Nhận diện các mặt tiêu cực của công trình phân lũ sông Đáy ảnh hưởng tới dòng chảy, lòng dẫn, chất lượng nước và các tác động bất lợi khác trên đoạn sông Đáy từ Hát Môn đến Ba Thá

Xác lập các cơ sở khoa học dựa trên các luận điểm mới về khai thác tổng hợp tài nguyên nước và dòng chảy môi trường để khôi phục tái tạo lại dòng chảy sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá theo hướng bền vững

3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn:

Là lưu vực và dòng sông Đáy từ Hát Môn đến Ba Thá trong đó có xét tới mối quan hệ với toàn hệ thống

Các vấn đề nghiên cứu được giới hạn:

Môn đến Ba Thá

4 Nhiệm vụ và nội dung thực hiện của luận án:

thuỷ văn, dân sinh kinh tế xã hội lưu vực sông Đáy và đoạn sông Đáy từ Hát Môn đến Ba Thá

định mức độ ô nhiễm môi trường nước sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá

Đáy tới nguồn nước, dòng chảy, lòng dẫn và chất lượng nước sông Đáy đoạn từ Hát Môn tới Ba Thá

sinh hoạt, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng nghề và các yêu cầu dân sinh kinh

tế khác trong khu vực nghiên cứu hiện tại và cho tương lai theo phương pháp phổ biến thông dụng

xác định nhu cầu dùng nước cần thiết để đáp ứng khai thác tổng hợp tài nguyên nước sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá

Môn tới Ba Thá bằng mô hình MIKE 11 của Viện Thuỷ lực Đan Mạch (DHI)

Trang 6

• Xác định chất lượng nước của dòng chảy môi trường mới được tái tạo trong sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá bằng mô hình chất lượng nước trong sông QUAL2E của cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (USEPA)

môi trường mới được tái tạo trên đoạn sông Đáy từ Hát Môn đến Ba Thá

5 Cơ sở tài liệu để thực hiện luận án:

phát triển của địa phương, của các làng nghề do nghiên cứu sinh đi điều tra thực

tế tại các xã trong khu vực nghiên cứu và thu thập tại các cơ quan quản lý địa phương

cứu sinh khảo sát đo đạc trong 2 đợt vào tháng 10 và tháng 12 năm 2003 kết hợp với các tài liệu chất lượng nước sông Đáy từ các dự án khác

thuỷ văn khu vực đồng bằng Bắc bộ làm cơ sở cho tính toán thủy lực và môi trường nước

tượng thuỷ văn khu vực đồng bằng Bắc bộ thực hiện

6 Phương pháp nghiên cứu:

môi trường nước

sát đo đạc

sông Đáy mới được tái tạo

sông Đáy mới được tái tạo

7 Luận điểm bảo vệ:

Luận điểm 1: Trước nhiệm vụ phòng chống lũ quá quan trọng, khi thiết kế

xây dựng và suốt trong quá trình vận hành người ta chỉ chú ý tới chức năng phân

lũ của công trình phân lũ sông Đáy mà chưa chú ý tới các mặt tiêu cực của công

trình này Luận án phân tích, xác định và nhận diện các mặt tiêu cực của công

trình phân lũ sông Đáy

Luận điểm 2: Dựa trên quan điểm sử dụng tổng hợp tài nguyên nước và lý

luận mới về dòng chảy môi trường, luận án định lượng nhu cầu dùng nước và xác định hiệu quả cải thiện ô nhiễm chất lượng nước của dòng chảy cần được tái tạo trên đoạn sông Đáy từ Hát Môn đến Ba Thá

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án:

Trang 7

• Kể từ khi có công trình phân lũ sông Đáy (1937) cho tới nay, chưa có một nghiên cứu đánh giá nào về những tác động tiêu cực bất lợi tới dòng chảy, môi trường và dân sinh kinh tế xã hội của công trình này Việc triệt tiêu dòng chảy sông Đáy bằng đê tràn Hát Môn và đập Đáy cùng với việc vận hành phân lũ hầu như chưa bao giờ được thực hiện, con người đã can thiệp quá thô bạo vào tự nhiên, đã làm “chết” đi một đoạn sông, phá vỡ hoàn toàn cân bằng tự nhiên, sinh thái và môi trường của một khu vực rộng lớn, trên đó có hàng ngàn dân sinh sống

Mặc dù gặp nhiều khó khăn về tài liệu và hạn chế về kiến thức mới song nghiên cứu sinh đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài có tính khoa học và thực tiễn lớn này

việc khôi phục và tái tạo lại dòng chảy sông Đáy dựa trên các luận điểm mới về dòng chảy môi tường và khai thác tổng hợp tài nguyên nước

đã và đang được tiến hành cho công tác quản lý lưu vực, quản lý lòng sông và quản lý vận hành công trình đầu mối khi dòng sông Đáy được tái tạo

nhân dân các địa phương trong lưu vực sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá chú ý tới bảo vệ môi trường sông Đáy, đưa các nhiệm vụ bảo vệ môi trường vào trong các định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương

9 Những đóng góp mới của luận án:

can thiệp vào tự nhiên khi xây dựng công trình phân lũ sông Đáy đã làm triệt tiêu dòng chảy của một phân lưu lớn của sông Hồng

dụng tổng hợp tài nguyên nước để xác định lưu lượng yêu cầu của dòng chảy mới cần tái tạo trên đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá Đây là bước đầu trong hướng nghiên cứu mới về dòng chảy môi trường ở Việt Nam

chảy mới được tái tạo bằng các mô hình hiện đại: MIKE11 - mô hình thuỷ lực), QUAL2E - mô hình chất lượng nước

mới được tái tạo có tính khả thi và thực tiễn cao

10 Cấu trúc luận án: Luận án bao gồm 3 chương và các phần:

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan về dòng chảy môi trường và các nghiên cứu về sông Đáy

từ khi có công trình phân lũ sông Đáy

Chương 2: Nhận diện các tác động tiêu cực của công trình phân lũ sông Đáy tới

dòng chảy và môi trường nước sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá

Chương 3: Xác lập cơ sở khoa học khôi phục dòng chảy, cải tạo môi trường

sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá

Kết luận

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DềNG CHẢY MễI TRƯỜNG VÀ CÁC NGHIấN CỨU

VỀ SễNG ĐÁY TỪ KHI Cể CễNG TRèNH PHÂN LŨ SễNG ĐÁY 1.1 Một số bài học kinh nghiệm về sự can thiệp quỏ giới hạn của con người vào dũng chảy sụng ngũi:

a Vấn đề xõy dựng đờ bao chống lũ:

Để chống lũ, ở rất nhiều cỏc sụng trờn thế giới người ta đó xõy dựng cỏc

đờ bao dọc sụng Hậu quả đưa lại từ những con đờ đú là mực nước sụng dõng cao, bựn cỏt lắng đọng trong lũng sụng, đỏy sụng tăng lờn và tạo thành cỏc

“dũng sụng treo” Mực nước sụng dõng cao luụn kốm theo hiểm hoạ vỡ đờ mà thực tế đó xảy ra rất nhiều nơi trờn thế giới cũng như ở Việt Nam

Một tỏc động bất lợi khỏc của đờ bao chống lũ là ngăn cỏch nguồn phự

sa tự nhiờn làm khụ cằn hoỏ vựng đồng bằng bồi tụ của chớnh con sụng đú tạo ra

b Vấn đề xõy dựng cỏc hồ chứa, đập dõng :

Các công trình nμy đã đem lại những lợi ích rất to lớn, song các ảnh hưởng của chúng đến môi trường khu vực cũng lμ rất đáng kể, đặc biệt ở khu vực hạ lưu đập

c Vấn đề chặn dũng, cắt dũng, chuyển dũng và khụi phục cỏc con sụng

Trong những năm 50-60 của thế kỷ 20, người Mỹ đó mắc một sai lầm khi chuyển một phần lưu lượng của một dũng nhỏnh sụng Colorado thụng qua việc xõy dựng đập Glen Canyon để lấy nước cấp cho một thành phố cụng nghiệp thuộc bang Colorado đó làm cho điều kiện tự nhiờn của nhỏnh sụng này bị mất cõn bằng, ảnh hưởng tới mụi trường trong khu vực Mức độ ảnh hưởng nghiờm trọng đến nỗi vào những năm 80 của thế kỷ này, người ta đó phải điều chỉnh, khụi phục lại dũng sụng cũ, trả lại chế độ dũng chảy tự nhiờn ban đầu

Một con sụng trở nờn nổi tiếng sau khi được khụi phục là sụng Cheonggyecheon ở Hàn Quốc mà hiệu quả của dũng chảy mụi trường do tỏi tạo lại sụng Cheonggyecheon là hết sức thuyết phục

Việc chỉnh trị, khai thỏc, mở thờm hoặc lấp đi một số nhỏnh sụng của Amuadaria và Sưdaria ở miền Trung Á – Liờn Xụ vào những năm 50-60 của thế

kỷ trước, nay đó phải trả giỏ Ở rất nhiều khu vực trước đõy màu mỡ trự phỳ nay

đó trở thành sa mạc

Ở Việt Nam, năm 1980 chỳng ta xõy dựng đập Đỡnh Vũ (Hải phũng) với ý định dồn hết nước qua cửa Cấm để hạn chế bồi lấp cảng Hải Phũng nằm ở cửa này Từ đú, cụng trỡnh Đỡnh Vũ đó làm cho cả một vựng rộng lớn ở hạ lưu trở thành hoang hoỏ do khụng cú nguồn nước làm mất cõn bằng tự nhiờn và sinh thỏi khu vực

Hơn 70 năm qua khi chặn dũng sụng Đỏy để xõy dựng cụng trỡnh phõn

lũ, người ta đó làm chết đi một đoạn sụng Ảnh hưởng của cỏc tỏc động tiờu cực này cũn rất lõu dài nếu như chỳng ta khụng nhỡn nhận và điều chỉnh lại để khụi phục trở lại dũng chảy sụng Đỏy

1.2 Tổng quan về dũng chảy mụi trường:

1.2.1 Khỏi niệm về dũng chảy mụi trường:

Trang 9

Khái niệm dòng chảy môi trường không chỉ là một khái niệm mới ở Việt Nam, mà hiện nay trên thế giới vẫn chưa thống nhất để có định nghĩa chính thức về dòng chảy môi trường

Dòng chảy môi trường là điều kiện sống còn để hệ thống sông ngòi tồn tại, hoạt động bình thường, bền vững và gắn liền với con người và hệ sinh thái

1.2.2 Lưu lượng dòng chảy môi trường

Lưu lượng dòng chảy môi trường là thành phần chính, thành phần đầu tiên của dòng chảy môi trường, nó thể hiện mức độ khoẻ mạnh của dòng sông Lưu lượng của dòng chảy môi trường càng lớn thì dòng chảy đó càng bảo đảm cung cấp đủ các yêu cầu dùng nước khác nhau

Mô tả lưu lượng dòng chảy môi trường có thể đơn giản như là việc chỉ

ra mực nước để cung cấp cho môi trường sống, một chế độ dòng chảy bổ sung hoàn chỉnh để duy trì toàn bộ dòng sông và hệ sinh thái vùng ngập nước

1.2.3 Nghiên cứu và áp dụng thực tế trên thế giới về dòng chảy môi

trường:

Hoa Kỳ là quốc gia đưa ra văn kiện lập pháp chính thức về yêu cầu dòng chảy của dòng sông từ năm 1971 Tại các nước Anh, Australia và New Zealand, khái niệm dòng chảy môi trường bắt đầu xuất hiện từ thập niên 1980, trong khi đó ở các nước khác ở Châu Âu, Nam Mỹ và Châu Á khái niệm này vẫn còn mới Ở Nam Phi gọi là yêu cầu dòng chảy trong dòng chính, ở Zimbabwe gọi là dòng chảy môi trường, ở Australia gọi là mục tiêu dòng chảy sông, ở Mozambique gọi là dòng chảy tối thiểu chấp nhận được

1.2.4 Cơ sở tiếp cận phương pháp xác định dòng chảy môi trường

Khôi phục môi trường trong sông là tái thiết lập cấu trúc và chức năng của một hệ sinh thái đến mức xấp xỉ điều kiện tự nhiên Trong thực tế, khôi phục hoàn toàn là không thể, do có các khai thác lớn, các can thiệp quá mức vào dòng

sông Vì vậy, khôi phục được hiểu là đưa sông hoặc một đoạn sông trở về trạng

thái không còn ô nhiễm sau khi đã khai thác và đã cung cấp đủ nước cho các nhu cầu sử dụng

1.2.5 Một số phương pháp xác định dòng chảy môi trường:

1.3 Tổng quan các nghiên cứu về sông Đáy từ khi có công trình phân lũ sông Đáy

Người Pháp đã xây dựng công trình phân lũ Sông Đáy (1937)

Năm 1974 nhà nước cho đầu tư sửa chữa, nâng cấp đập Đáy với hy vọng

Năm 1995 có dự án Quy hoạch Thủy lợi lưu vực sông Đáy của Bộ Nông

nghiệp & PTNT do Viện Quy hoạch Thủy Lợi thực hiện

Vào năm 2001, 2002, dự án nghiên cứu “Phân lũ và phát triển tài nguyên

nước sông Đáy” do Hà Lan tài trợ

Trang 10

Từ năm 2002 đến năm 2003, đề tài nghiên cứu độc lập cấp Nhà nước

“Nghiên cứu mô hình đề xuất cơ sở khoa học cải tạo và nâng cấp hệ thống thoát

lũ sông Đáy phục vụ công tác phòng chống lụt bão đồng bằng Bắc Bộ” do Viện

Khoa học Thủy lợi thực hiện

Từ năm 2004 Bộ Nông nghiệp và PTNT đã cho tiến hành dự án đầu tư

xây dựng 2 cống điều tiết ở cửa vào sông Đáy nhằm lấy nước tưới bổ sung cho

lưu vực sông Đáy

Chương 2 NHẬN DIỆN CÁC TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA CÔNG TRÌNH PHÂN

LŨ SÔNG ĐÁY TỚI DÒNG CHẢY VÀ MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG

ĐÁY ĐOẠN TỪ HÁT MÔN ĐẾN BA THÁ 2.1 Đặc điểm tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội lưu vực sông Đáy và khu vực từ Hát Môn đến Ba Thá

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên lưu vực sông Đáy và khu vực từ Hát Môn đến Ba Thá

a Sông Đáy – phân lưu tự nhiên của sông Hồng

Lưu vực sông Đáy là một tiểu lưu vực của sông Hồng có vị trí địa lý

Đáy ở Hát Môn

b Vị trí địa lý đoạn sông Đáy từ Hát Môn đến Ba Thá:

Lưu vực sông Đáy đoạn từ Hát Môn tới Ba Thá có tổng diện tích gần 70.000 ha Phía Bắc và Đông Bắc giáp sông Hồng, phía đông giáp Hà Nội, phía Tây giáp lưu vực sông Tích, phía Nam là khu vực trung lưu và hạ lưu sông Đáy thuộc địa phận các huyện Mỹ Đức, Ứng Hoà

c Đặc điểm địa chất thuỷ văn và thổ nhưỡng lưu vực sông Đáy từ Hát Môn đến

Ba Thá:

bồi tích (Aluvial)

d Điều kiện địa hình đoạn sông Đáy từ Hát Môn tới Ba Thá

Đoạn 1 - Khu chứa lũ Vân Cốc: là đoạn từ Vân Cốc, Hát Môn đến Đập Đáy dài 12km, có dạng hình phễu

Đoạn 2 - Đoạn sông từ Đập Đáy đến Ba Thá dài hơn 50km Chiều rộng trung bình giữa hai đê ở đoạn đầu khoảng 3000m Lòng sông nông, hẹp, không

có nguồn sinh thuỷ trong mùa kiệt

Đoạn sông Đáy từ Hát Môn tới Ba Thá có lòng dẫn rất quanh co, hệ số uốn khúc lớn

e Đặc điểm thủy văn sông Đáy

Ở trạng thái tự nhiên, chế độ dòng chảy sông Đáy tuân theo quy luật chung của dòng chảy các sông ở khu vực Bắc Bộ Một năm có hai mùa lũ (từ tháng 5 tới tháng 9) và kiệt (từ tháng 10 tới tháng 4) Đến nay khi cửa Hát Môn

bị chặn, dòng chảy sông Đáy chịu ảnh hưởng rất lớn chế độ dòng chảy sông Hồng thông qua các sông liên kết ở hạ lưu và các hệ thống công trình thuỷ lợi trong lưu vực

Trang 11

Tổng lượng dòng chảy trung bình nhiều năm trên lưu vực sông Đáy ước

g Đặc điểm dòng chảy đoạn sông Đáy từ Hát Môn tới Ba Thá:

Đoạn sông Đáy từ Hát Môn đến Ba Thá dài 65km là sông phân lưu tự nhiên của sông Hồng nhưng từ năm 1937 đã chịu tác động của con người thông qua công trình phân lũ sông Đáy, do cửa phân lưu Hát Môn bị chặn nên đoạn sông từ Hát Môn tới Ba Thá trở thành đoạn sông chết bởi không có nguồn nước nhập vào Dòng chảy của đoạn sông này chủ yếu là nguồn nước tưới nông nghiệp hồi quy từ nội đồng, nước thải sản xuất tiểu thủ công nghiệp, từ làng nghề, nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư Kết quả khảo sát đo đạc trực tiếp lưu lượng sông Đáy khu vực Cát Quế của nghiên cứu sinh tháng 12 năm 2003

còn ở nhiều khu vực không thể xác định được dòng chảy vì sông Đáy cạn khô hoặc bị phủ lấp bởi rau, bèo

2.1.2 Tình hình dân sinh kinh tế xã hội trong lưu vực sông Đáy khu vực từ

Hát Môn đến Ba Thá

Tổng diện tích toàn bộ khu vực nghiên cứu nằm trên địa giới của

119 xã thuộc 8 huyện Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, Quốc Oai, Chương

Mỹ, Mỹ Đức, Thanh Oai, Ứng Hoà của tỉnh Hà Tây với tổng số dân gần 60

vạn người Tỉ lệ phát triển dân số tự nhiên của khu vực là 1.4 %

Phát triển kinh tế: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong khu vực khoảng 8% Thu nhập chính của các huyện trong lưu vực sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá là sản phẩm nông nghiệp Trung bình ngành nông nghiệp đóng

góp từ 33,7% tới 42,8% tổng giá trị kinh tế

Trong những năm gần đây, công nghiệp sản xuất trong khu vực nghiên cứu phát triển tương đối nhanh, đặc biệt là phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề Giá trị sản xuất của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trung bình chiếm 17%, công nghiệp chế biến chiếm khoảng 21% tổng giá trị kinh tế

2.2 Công trình phân lũ sông Đáy - chức năng và nhiệm vụ

2.2.1 Sự hình thành công trình phân lũ sông Đáy

Trước năm 1934 - thời điểm bắt đầu xây dựng công trình phân lũ sông Đáy, sông Đáy là phân lưu tự nhiên của sông Hồng Lưu lượng lũ bình thường

sông Đáy thường bị ngập trên diện rộng tại các vùng ven sông Đáy thuộc các tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định Nhằm triệt tiêu lũ thường xuyên trên sông Đáy và phòng chống lũ cho Thủ đô Hà Nội cũng như hạ lưu sông Hồng khi có lũ lớn, người Pháp đã xây dựng công trình phân lũ sông Đáy từ năm

1934 và hoàn thành vào năm 1937

2.2.2 Nhiệm vụ công trình phân lũ sông Đáy trong tình hình mới khi có các

hồ chứa thượng nguồn

Khi có thêm hồ Tuyên Quang, Sơn La thì nhiệm vụ phân lũ của sông Đáy được giảm dần, công trình phân lũ sông Đáy chỉ phải làm việc khi gặp các con lũ đặc biệt lớn

Trang 12

Việc gặp cỏc con lũ 500, 1000 năm là rất hiếm, chớnh vỡ vậỵ càng rất ớt

cú cơ hội đưa dũng chảy sụng Hồng vào sụng Đỏy dự chỉ trong thời gian ớt ỏi khi phõn lũ Do đú đoạn sụng Đỏy từ Hỏt Mụn đến Ba Thỏ vẫn tiếp tục bị “chết” do vai trũ và nhiệm vụ của cụng trỡnh phõn lũ sụng Đỏy

2.3 Nhận diện cỏc tỏc động tiờu cực của cụng trỡnh phõn lũ sụng Đỏy:

2.3.1 Cỏc tỏc động tiờu cực của cụng trỡnh phõn lũ sụng Đỏy tới dũng

chảy sụng Đỏy

a Khu vực biệt lập không có mối liên hệ dòng chảy vμo ra với xung quanh:

Đây lμ khu vực lòng hồ chứa lũ Vân Cốc, nó nằm trong giới hạn giữa đê tả (Đan Phượng) - đờ hữu (Phúc Thọ), đê trμn Hát Môn vμ đập Đáy; bao gồm 11 xã của hai huyện Đan Phượng vμ Phúc Thọ- Hμ Tây

Tất cả nước hồi quy vμ nước thải đều nằm lại trong khu vực rồi ngấm xuống đất, bốc hơi hoặc tập trung trong các ao tù, hồ đầm

b Khu vực có nguồn vμo lμ nước thải vμ dòng chảy ra hạn chế

Đây lμ khu vực từ đập Đáy đến Ba Thá Qua đợt khảo sát đo đạc lưu lượng nước của nghiên cứu sinh vμo tháng 12 năm 2003 cho thấy tại vị trí Cát

/s

c Khu vực có nguồn vμo vμ dòng chảy ra bình thường ở trạng thái tự nhiên

Đây lμ khu vực từ Ba Thá ra tới cửa sông Đáy

2.3.2 Cỏc tỏc động tiờu cực của cụng trỡnh phõn lũ sụng Đỏy tới lũng

dẫn sụng Đỏy

a Lòng dẫn khu vực lòng hồ chứa lũ Vân Cốc

Lòng dẫn sông Đáy trong khu vực hồ chứa lũ Vân Cốc bị biến dạng v chia cắt do nhân dân san lấp để canh tác vμ lμm nhμ cửa

b Lũng dẫn khu vực từ đập Đỏy tới Ba Thỏ

Trên đoạn sông Đáy từ đập Đáy đến Ba Thá khu vực lòng dẫn ngậm nước (mặt cắt ướt) còn rất nhỏ, chiều rộng của mặt cắt chỉ dao động từ 10m – 20m tùy theo khu vực

Hỡnh 2.10 Sự mất cõn đối giữa cỏc thụng số hỡnh dạng mặt cắt ngang sụng Đỏy

cách 45- 50km cách đập Đáy tỷ số nμy mới đạt 30%- 35%

Trang 13

Trị số nμy chỉ dao động từ 0,2% tới 10% chứng tỏ dòng chảy thực sự sông Đáy lμ vô cùng nhỏ

2.3.3 Cỏc tỏc động tiờu cực của cụng trỡnh phõn lũ sụng Đỏy tới mụi

trường nước sụng Đỏy đoạn từ Hỏt Mụn đến Ba Thỏ

2.3.3.1 Nhận diện cỏc nguồn ụ nhiễm đổ vào sụng Đỏy đoạn từ Hỏt Mụn đến Ba Thỏ

Nguồn nước hồi quy từ sản xuất nông nghiệp

Nguồn nước thải sinh hoạt vμ chăn nuôi

Nguồn nước thải từ lμng nghề: cỏc làng nghề chế biến nụng sản thực

phẩm, cỏc làng nghề dệt nhuộm, cỏc làng nghề cơ, kim khớ

2.3.3.2 Thực trạng mụi trường nước sụng Đỏy đoạn từ Hỏt Mụn tới Ba Thỏ do cỏc tỏc

động tiờu cực của cụng trỡnh phõn lũ sụng Đỏy

tài liệu từ cỏc dự ỏn khỏc

tài liệu đo đạc trực tiếp

Nhỡn chung nước sụng Đỏy đoạn trước và ngay sau đập Đỏy cú chất lượng cũn tương đối tốt, cỏc chỉ tiờu đều đảm bảo chất lượng nước cấp cho mục đớch sử dụng nụng nghiệp

0 200

600

1000

Thượng lưu đập

Đáy

Cầu khu 6-Cát Quế

Cầu Láng- Hoμ Lạc

Cầu Mai Lĩnh cũ

Cát

Kim Bμi

Đông-Kè đá

đê tả

Đáy tại Km43

Cầu Láng- Hoμ Lạc

Cầu Mai Lĩnh cũ

Cát

Kim Bμi

Đông-Kè đá

đê tả

Đáy tại Km43

sau nhập lưu sông Tích

Hỡnh 2.18 Diễn biến hàm lượng rắn hoà tan trong nước sụng Đỏy

đoạn từ Hỏt Mụn đến Ba Thỏ.

Ngày đăng: 03/04/2014, 12:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.10 Sự mất cân đối giữa các thông số hình dạng mặt cắt ngang sông Đáy - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 2.10 Sự mất cân đối giữa các thông số hình dạng mặt cắt ngang sông Đáy (Trang 12)
Hình 2.17 Diễn biến độ dẫn điện trong nước sông Đáy - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 2.17 Diễn biến độ dẫn điện trong nước sông Đáy (Trang 13)
Hình 2.19. Diễn biến nồng độ Magiê trong nước sông Đáy - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 2.19. Diễn biến nồng độ Magiê trong nước sông Đáy (Trang 14)
Hình 2.21. Diễn biến hàm lượng sắt trong nước sông Đáy - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 2.21. Diễn biến hàm lượng sắt trong nước sông Đáy (Trang 14)
Hình 2.23. Diễn biến hàm lượng Boren trong nước sông Đáy - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 2.23. Diễn biến hàm lượng Boren trong nước sông Đáy (Trang 15)
Hình 2.24. Nồng độ Oxy hoà tan trong nước sông Đáy - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 2.24. Nồng độ Oxy hoà tan trong nước sông Đáy (Trang 15)
Hình 2.25. Diễn biến nhu cầu ôxy sinh hoá trong sông Đáy - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 2.25. Diễn biến nhu cầu ôxy sinh hoá trong sông Đáy (Trang 16)
Hình 2.28. Diễn biến hàm lượng Fecal Coliform trong nước sông Đáy - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 2.28. Diễn biến hàm lượng Fecal Coliform trong nước sông Đáy (Trang 17)
Hình 2.29. Diễn biến hàm lượng Clo ferfrigens trong nước sông Đáy - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 2.29. Diễn biến hàm lượng Clo ferfrigens trong nước sông Đáy (Trang 17)
Hình 2.30. Diễn biến nồng độ Chì trong nước sông Đáy đoạn từ Hát Môn - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 2.30. Diễn biến nồng độ Chì trong nước sông Đáy đoạn từ Hát Môn (Trang 18)
Hình 3.1: Sơ đồ logic nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học khôi phục dòng  chảy, cải tạo môi trường sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 3.1 Sơ đồ logic nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học khôi phục dòng chảy, cải tạo môi trường sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá (Trang 19)
Hình 3.5. Diễn biến mực nước trên sông Đáy theo các cấp lưu lượng - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 3.5. Diễn biến mực nước trên sông Đáy theo các cấp lưu lượng (Trang 21)
Hình 3.8 Diễn biến nồng độ thạch tín trong sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 3.8 Diễn biến nồng độ thạch tín trong sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến (Trang 22)
Hình 3.9. Diễn biến nồng độ Boren trong sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 3.9. Diễn biến nồng độ Boren trong sông Đáy đoạn từ Hát Môn đến (Trang 23)
Hình 3.21: Sơ đồ xử lý nước thải tập trung làng nghề chế biến nông sản - Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học để khôi phục dòng chảy sông Đáy phục vụ khai thác tổng hợp tài nguyên nước và cải thiện môi trường (đoạn từ Hát Môn đến Ba Thá)
Hình 3.21 Sơ đồ xử lý nước thải tập trung làng nghề chế biến nông sản (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w