1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.doc

33 1,3K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Tác giả Lờ Mạnh Cường
Người hướng dẫn Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Điệp
Trường học Học viện Kỹ thuật Mật mã
Chuyên ngành Công nghiệp ô tô
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 233,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

Trang 1

Lời mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành công nghiệp ô tô không chỉ giữ một vị trí quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển thông qua đáp ứng nhu cầu giao thông vận tải, góp phần phát triển sản xuất và kinh doanh thơng mại mà còn là một ngành kinh tế mang lại lợi nhuận rất cao nhờ sản xuất ra những sản phẩm có giá trị vợt trội Sớm nhận thức đợc tầm quan trọng của ngành công nghiệp này, các nớc phát triển nh

Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Hàn Quốc, đã rất chú trọng phát triển ngành công nghiệp ô tô của riêng mình trong quá trình công nghiệp hoá để phục vụ không chỉ nhu cầu trong nớc mà còn xuất khẩu sang các thị trờng khác.

Đứng trớc thực tế hàng năm nớc ta bỏ ra hàng trăm tỷ đồng để nhập khẩu xe ô tô trong khi xuất khẩu gạo của 70% dân số lao động trong ngành nông nghiệp chỉ thu

về đợc tiền triệu, Việt Nam đã cố gắng xây dựng một ngành công nghiệp ô tô của riêng mình với mục tiêu sản xuất thay thế nhập khẩu và từng bớc tiến tới xuất khẩu Chính phủ Việt Nam đã luôn khẳng định vai trò chủ chốt của ngành công nghiệp ô tô trong sự nghiệp phát triển kinh tế và luôn tạo điều kiện lợi thông qua việc đa ra các chính sách u đãi để khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nớc đầu t vào sản xuất ô tô và phụ tùng Nhng sau nhiều năm xây dựng và phát triển ngành, công nghiệp ô tô Việt Nam dờng nh vẫn chỉ ở điểm xuất phát.

Thực tế này đã buộc Chính phủ phải yêu cầu các cơ quan Bộ Ngành liên quan, các doanh nghiệp trong ngành cùng vào cuộc nhằm vạch ra một chiến lợc cụ thể cho việc phát triển ngành Bởi lúc này đây họ đã ý thức đợc tính cấp thiết và bức bách cần phải xây dựng và phát triển một ngành công nghiệp ô tô thực sự của riêng Việt Nam.

Chính vì thế, em đã chọn đề tài " Thực trạng và những biện pháp nhằm nâng

cao khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô tại việt nam trong quá trình hội nhập tổ chức thơng mại thế giới WTO" với hi vọng góp phần cùng tìm hiểu thực

trạng phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong qỳa trỡnh hội nhập

đồng thời nghiên cứu con đờng đi tới tơng lai của ngành công nghiệp này.

Trang 2

2, Kết cấu của đề tài

Đề tài bao gồm 4 phần chính:

I, Tính tất yếu của toàn cầu hóa trong quá trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO

II, Quá trình hình thành và phát triển của ngành công nghiệp ô tô thế giới

III, Thực trạng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

IV, Mục tiêu và một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam trong quá trình hội nhập WTO

Trong quá trình nghiên cứu và viết đề tài em đã rất cố gắng để mang đến cái nhìn toàn cảnh về ngành công nghiệp Việt Nam, về thực trạng của ngành công nghiệp ô tô trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO Tuy nhiên vấn đề nghiên cứu khá lớn và phức tạp cùng với những hạn chế về mặt thời gian và tài liệu nên bài làm không thể tránh khỏi những thiếu sót Do vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của cô giáo để đề tài này được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Điệp đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề tài này !

Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2008

Sinh viên

Lê Mạnh Cường

I TÝnh tÊt yÕu cña xu thÕ toµn cÇu ho¸

1.1.Héi nhËp lµ xu híng tÊt yÕu cña ViÖt Nam vµ cña cả thÕ giíi

Chúng ta đang sống trong một thế giới mới, thế giới toàn cầu hóa với những thayđổi lớn, đa dạng và phức tạp, có ảnh hưởng đến bất cứ quốc gia nào và cá nhân nào

Trang 3

Hội nhập là một trong những xu thế chủ yếu của quan hệ quốc tế hiện đại Cuộccách mạnh khoa học kỹ thuật và công nghệ đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trìnhchuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực lợng sản xuất đợc quốc tế hoácao độ Điều này đã đa các quốc gia gắn kết lại gần nhau, dẫn tới sự hình thành mạng lớitoàn cầu hay hội nhập kinh tế quốc tế Vậy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một quátrình điều chỉnh chính sách kinh tế, xây dựng một nền kinh tế thị trờng mạnh để thực hiện

tự do hoá trong lĩnh vực thơng mại hàng hoá, thơng mại dịch vụ, đầu t, hợp tác tài chính,tiền tệ

Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế làm tăng khả năng phối hợp chính sách,giúp các quốc gia có thể vợt qua đợc thử thách to lớn và giải quyết các vấn đề kinh tếmang tính toàn cầu Mặt khác nó còn tạo khả năng phân bổ một cách hợp lý và có hiệuquả nguồn tài nguyên, trình độ khoa học, công nghệ của nhân loại và nguồn tài chính trênphạm vi toàn cầu góp phần đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia Quá trìnhhội nhập giúp các nớc sẵn sàng tận dụng u đãi của các thành viên khác đem lại cho mình

để phát triển sản xuất mở rộng thị trờng hàng hoá và đầu t nớc ngoài

Để nõng cao sức cạnh tranh cho nền kinh tế nờn bắt đầu từ việc quy hoạch phỏttriển nền kinh tế dựa trờn một định vị quốc gia nhất quỏn Chỳng ta cần phải nõng cao sứccạnh tranh của nền kinh tế trong tất cả cỏc lĩnh vực nụng nghiệp, cụng nghiệp, thương mại

và dịch vụ Nõng cao sức cạnh tranh ở đõy khụng cú nghĩa là đầu tư tràn lan, thiếu trọngđiểm, mà ngược lại đú là phỏt huy lợi thế cạnh tranh của quốc gia Cụ thể hơn, một mặt,phải ý thức được sự cần thiết phải giữ vững và phỏt triển cỏc ngành kinh tế cú ý nghĩasống cũn, đảm bảo tớnh ổn định của nền kinh tế đất nước; mặt khỏc phải biết đầu tư nhữngngành mũi nhọn cú thể tạo ra đột phỏ cho Việt Nam trong cuộc cạnh tranh toàn cầu

Chính vì thế mà tham gia hội nhập kinh tế là một tất yếu, khách quan, là đòi hỏicấp thiết đối với mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng

+ Thứ nhất, xu hớng khu vực hoá, toàn cầu hoá trên cơ sở lợi ích kinh tế của cácbên tham gia đã trở thành nhân tố góp phần ổn định khu vực, tạo điều kiện cho các nớcgiảm bớt các khoản chi về an ninh, quốc phòng để tập trung các nguồn lực cho việc pháttriển kinh tế, chính trị, xã hội Sự ổn định này chính là điều kiện kiên quyết để thu hút đầu

t nớc ngoài

+ Thứ hai, nhờ quá trình hội nhập mà mỗi quốc gia có thể học hỏi kinh nghiệmtrong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế của các nớc đi trớc, tránh đợc những

Trang 4

sai sót, từng bớc điều chỉnh các chính sách và chế độ kinh tế phù hợp chuẩn mực của các

tổ chức, các định chế kinh tế quốc tế tạo ra môi trờng chuyển giao các công nghệ kỹ thuậtcao, rút ngắn thời gian và khoảng cách đuổi kịp các nớc trong khu vực và quốc tế

+ Thứ ba, quá trình hội nhập tạo ra mối kinh tế, chính trị đa dạng, đan xen, phụthuộc lẫn nhau, góp phần nâng cao vị thế quốc tế cho các quốc gia tham gia bình đẳngtrong giao lu và quan hệ kinh tế quốc tế Mặt khác sự giảm dần các hàng rào thuế quan vàphi thuế quan, các phân biêt đối xử chính thức và phi chính thức, kinh tế và phi kinh tế sẽtạo cơ hội không chỉ cho các công ty lớn, các nền kinh tế lớn mà còn cho cả các công tynhỏ, nền kinh tế nhỏ tham gia bình đẳng và rộng rãi vào guồng máy kinh tế thế giới

+ Thứ t, các quốc gia có môi trờng quan trọng để có thể tổ chức chấn chỉnh quản lýsản xuất, đổi mới công nghệ, nắm vững thông tin, tăng cờng khả năng cạnh tranh khôngnhững trên thị trờng quốc tế mà cả trên thị trờng nội địa

+Thứ năm, nhờ quá trình này còn tạo điều kiện để mở rộng thị trờng thơng mạidịch vụ và đầu t do đợc hởng những u đãi cho các nớc đang phát triển và chậm phát triển.Các quốc gia đợc hởng quy chế tối huệ quốc (MFN), đãi ngộ quốc gia (NT) và mức thuếquan thấp cho các nớc đối tác

+ Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập cũng tạo ra những khó khăn, đặc biệt là đốivới những nớc đang phát triển và chậm phát triển về các vấn đề nh: giảm thuế quan, khảnăng cạnh tranh các mặt hàng, các chính sách, hệ thống pháp luật Do vậy, vấn đề là ởchỗ các quốc gia phải ứng toán, vận dụng khéo léo các nguyên tắc của tổ chức để vậndụng vào việc thực thi chính sách vừa phù hợp với quốc tế, vừa bảo hộ và kích thích sựphát triển của các ngành sản xuất trong từng lĩnh vực cụ thể

1.2 Mối liên hệ giữa toàn cầu hoá với nền công nghiệp ô tô ở Việt Nam Chính sách của các hãng sản xuất ôtô trên thế giới trong xu thế toàn cầu hoá.

1.2.1 Chính sách liên kết tạo ra một liên minh vững chắc.

Sự thật, cỏc thành viờn trong tổ chức đều mong muốn tạo lập xõy dựng nờn mộtliờn minh vững chắc, trong đú cỏc quốc gia cựng hỗ trợ, giỳp đỡ nhau phỏt triển Tớnh đếnthỏng 2 năm 2008,với 152 thành viờn, WTO là tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra cỏc quytắc, luật lệ điều tiết quan hệ thương mại giữa cỏc quốc gia Khối lượng giao dịch giữa cỏcthành viờn WTO hiện chiếm trờn 98% giao dịch thương mại quốc tế

Trang 5

Các nguyên tắc chính của WTO:

- Không phân biệt đối xử (một nước không được phân biệt đối xử giữa các đối tácthương mại của mình dành quy chế tối huệ quốc – MFN cho tất cả các thành viên WTO;không được phân biệt đối xử giữa các sản phẩm, dịch vụ và công dân của nước mình vànước ngoài - tất cả phải được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia - NT);

- Thúc đẩy thương mại tự do hơn (thông qua thương lượng loại bỏ các hàng ràocản thuế quan và phi thuế quan);

- Đảm bảo tính ổn định/tiên đoán được bằng các cam kết minh bạch hoá (các công

ty, các nhà đầu tư và chính phủ nước ngoài phải được đảm bảo rằng, các rào cản thươngmại, kể cả thuế, các rào cản phi quan thuế và các biện pháp khác, không được nâng lênmột cách độc đoán; ngày càng có nhiều mức thuế và cam kết mở cửa thị trường mang tínhràng buộc tại WTO)

- Thúc đẩy cạnh tranh công bằng (bằng cách loại bỏ các hoạt động mang tính

"không công bằng" như trợ cấp sản xuất, trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá nhằm tranh giànhthị phần);

Cùng làm việc trong một tổ chức có nguyên tắc nhất quán, những điều luật thốngnhất càng làm cho các thành viên của tổ chức gắn bó chặt chẽ

Ngày càng có nhiều hãng liên minh với nhau để sử dụng cùng một thiết bị chonhiều mẫu xe Một số ví dụ điển hình như:

Ít người biết rằng General Motors và Toyota có một cơ sở cho ra lò những chiếcCorolla song song với những chiếc Tacoma bởi cả hai hãng là đại kình địch trên thươngtrường

Rồi GM hợp tác với Chrysler để sản xuất xe đa dụng Không ít người cho rằng đó

là điều viển vông nhưng họ không biết một điều từ lâu, hai ông lớn này đã cho bên kia

Trang 6

Bên cạnh những bộ phận hợp tác của các hãng có thể gọi là "thân thiết" với nhau,người ta còn chứng kiến cái bắt tay giữa hai kẻ thù không đội trời chung Đó là liên minhlâu đời nhất thế giới, đóng tại Fremont, California, giữa General Motors và "khắc tinh"Toyota Mang tên NUMMI (New United Motor Manufacturing Inc), bộ phận này đã tròn

23 tuổi và là nơi cho ra đời những chiếc Pontiac, Toyota Tacoma và Toyota Corolla

Mazda và Ford hợp tác với nhau dưới tên gọi Auto Alliance, nơi sản xuất nhữngchiếc Mustang huyền thoại và Mazda 6, dòng xe khá phổ biến ở Việt Nam Thậm chíchẳng những cùng nhau phát triển, Chrysler còn lên kế hoạch sản xuất từ đầu đến cuốidòng xe đa dụng cho Volkswagen

Những thương vụ bắt tay giữa các nhà sản xuất ngày càng nhiều hơn Ngay sau khiGiám đốc điều hành DaimlerChrysler, Dieter Zetsche, ngỏ ý muốn "ly dị" Chrysler, hàngloạt tin đồn được tung ra nhằm vào khả năng hợp tác giữa hãng này với General Motors,Ford, Hyundai Thậm chí, một vài công ty Trung Quốc cũng đánh tiếng "cầu hôn"

Rick Wagoner, Giám đốc điều hành General Motors, cho rằng kết hợp với nhau làmột trong những cách tốt nhất để xâm nhập một thị trường nào đó, hạ chi phí sản xuất,nghiên cứu Ngoài ra, đa số liên minh có lợi cho tất cả các bên tham gia Tuy nhiên, vấn

đề lớn nhất là quản lý Các nhà sản xuất bắt buộc phải cắt cử người lãnh đạo, nhân côngsang bộ phận "con chung", khiến gánh nặng nhân sự sẽ ngày càng tăng lên, đặc biệt trongtrường hợp liên minh đổ vỡ hay giải tán

Có rất nhiều nguy cơ tiềm ẩn trong các mối quan hệ đó, nhất là khi các hãng đầu tưvào nghiên cứu và phát triển ở quy mô nhỏ Tuy nhiên, xét trên khía cạnh kinh tế, hợp tácvới nhau ở thời điểm này là xu hướng tất yếu và hầu hết các liên minh đều tốt đẹp

Sự liên minh liên kết của các hãng sản xuất ô tô trên thế giới ngày nay ngày càng

có nhiều và ngày càng mạnh mẽ, việc này vừa có ích cho các doanh nghiệp sản xuất ô tôlại vừa có ích cho người tiêu dùng trong việc tiêu dùng, lựa chọn sản phẩm

1.2.2 Chia sÎ c«ng nghÖ vµ chÝ phÝ nghiªn cøu

Trang 7

Ngày càng có nhiều doanh nghiệp trên thế giới bắt tay nhau, liên minh với nhau để

sử dụng cùng một thiết bị cho nghiều loại xe

Những diễn biến thị trường như sáp nhập, chia tách, bán mua ngày nay đang tạonên một trào lưu "lai tạp" sản phẩm giữa các hãng, nghĩa là động cơ của hãng này, hộp sốcủa hãng kia và ngược lại Trên thực tế, xu hướng này đang trở nên phổ biến bởi còn rất ítnhà sản xuất tự mày mò làm từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất để lắp ráp thành xe

Theo đánh giá của các nhà phân tích, NUMMI là một trong những liên minh thànhcông nhất trong lịch sử công nghiệp ôtô, giữa hai hãng xe số một và số hai hành tinh.Thông qua NUMMI, General Motors học được cách tổ chức sản xuất của Toyota Ngượclại, hãng xe Nhật Bản nhờ đó mà dễ dàng tìm hiểu thị hiếu và chinh phục người tiêu dùngMỹ

Để hướng tới tương lai, DaimlerChrysler và BMW dắt tay nhau vào phòng thínghiệm nghiên cứu, phát triển hệ thống hybrid xăng-điện tiết kiệm nhiên liệu Riêng vớiFord, tập đoàn DaimlerChrysler lại đề nghị nghiên cứu hệ thống pin để chuẩn bị cho thế

hệ xe chạy bằng pin nhiên liệu trong tương lai xa

Chia sẻ công nghệ và chi phí nghiên cứu sẽ giúp cho các dòng xe ra đời được cảitiến hơn, mẫu mã đẹp hơn, giá cả sẽ rẻ hơn và điều này là hữu ích cho các hãng xe và cảngười tiêu dùng

1.2.3 Më réng thÞ trêng

Việc liên kết, liên minh vững chắc, chia sẻ công nghệ và chi phí nghiên cứu đã làmcho thị trường được mở rộng, việc đi vào các thị trường mới là có cơ hội hơn; sự cạnhtranh trên thị trường khốc liệt hơn đòi hỏi các doanh nghiệp ngày càng phải cải tiến côngnghệ và mẫu mã để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng Biên giới giữa các quốc gialúc này là biên giới mềm, việc biên giới của quốc gia nào rộng bao nhiêu và đến đâu là do

sự mở rộng thị trường của nghành kinh tế quốc gia đấy Việc hãng ô tô nước này kết hợpvới hãng ô tô nước khác và cho ra nhiều loại xe có mẫu mã và chất lượng tốt hơn là

Trang 8

chuyện bỡnh thường Bằng chứng là cú hàng loạt cỏc cụng ty liờn doanh ở nước ta từ năm

1991 tới nay và rất nhiều cỏc loại ụ tụ nhập khẩu về nước ta, làm cho thị trường ụ tụ trongnước trở nờn sụi động hơn rất nhiều

II Quá trình hình thành và phát triển của ngành công nhiệp ô tô trên thế giới

Theo lịch sử ngành công nghiệp ô tô thế giới, năm đầu tiên của thế kỷ 20-năm

1901, trên toàn thế giới đã có hàng trăm nhà máy sản xuất ô tô xe máy

Tuy nhiên, mốc thời gian đánh dấu sự ra đời chính thức của ngành công nghiệp ô tôphải kể đến năm 1910 khi ông Henry Ford-Ngời sáng lập ra tập đoàn Ford Motor nổitiếng, bắt đầu tổ chức sản xuất ô tô hàng loạt trên qui mô lớn

Vào những năm 1930 của thế kỷ 20, trớc chiến tranh thế giới thứ 2, ô tô đã có đợcnhững tính năng kỹ thuật cơ bản Cùng với những thành tựu khoa học kỹ thuật thời đó,công nghiệp ô tô thế giới đã thực sự trở thành một ngành sản xuất đầy sức mạnh với 3trung tâm sản xuất chính Bắc Mỹ, Tây Âu (từ trớc chiến tranh thế giới thứ I) và Nhật Bản(trớc chiến tranh thế giới thứ II) Hầu hết các hãng sản xuất có tên tuổi trên thế giới nhFord, General Motor, Toyota, Mercedes-Benz đều ra đời trớc hoặc trong thời kỳ này

Sau chiến tranh thế giới thứ II, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại bùng nổ,

ô tô và công nghiệp ô tô cũng có những bớc tiến vợt bậc Những thành tựu khoa học kỹthuật đợc áp dụng nh vật liệu mới, kỹ thuật điện tử, điều khiển học, đã làm thay đổi cơ

Trang 9

bản, bản thân ô tô và công nghiệp ô tô cả về mặt kỹ thuật, khoa học công nghệ cũng nh vềquy mô kinh tế xã hội.

Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của ô tô và ngành sản xuất ô tô thế giới, cóthể hoàn toàn đồng ý với ý kiến cho rằng thế kỷ 20 là thế kỷ của ô tô Quá trình phát triểncủa ngành công nghiệp ô tô trên thế giới có thể chia làm 3 giai đoạn:

+ Trớc năm 1945: Nền công nghiệp ô tô của thế giới chủ yếu tập trung tại Mỹ, sảnlợng công nghiệp ô tô ở Tây Âu và Nhật Bản rất thấp

+ Giai đoạn 1945-1960: Sản lợng công nghiệp ô tô của Nhật Bản và Tây Âu tăngmạnh song còn nhỏ bé so với Mỹ

+ Giai đoạn từ 1960 trở lại đây: Nền công nghiệp sản xuất ô tô xe máy Nhật đã vơnlên mạnh mẽ và đã chiếm vị trí thứ nhất trong ngành công nghiệp to lớn này Nhật đã trởthành đối thủ số một của Mỹ và Tây Âu trong ngành công nghiệp ô tô Sản l ợng ô tô trênthế giới, từ năm 1960 đến nay, gần nh ổn định và tập trung vào 3 trung tâm công nghiệplớn là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu

Tóm lại, trong quá trình phát triển kinh tế, mỗi quốc gia khu vực đều sớm nhậnthấy tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô và cố gắng xây dựng ngành công nghiệpnày ngay khi có thể Nhng không vì thế mà ngành công nghiệp ô tô thế giới trở nên manhmún, nhỏ lẻ mà chính các tập đoàn ô tô khổng lồ hoạt động xuyên quốc gia nh một sợidây xâu chuỗi liên kết có vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển ngành côngnghiệp ô tô các quốc gia nói riêng và ngành công nghiệp ô tô thế giới nói chung Vậy nênngành công nghiệp ô tô thế giới hình thành, lớn mạnh và phát triển gắn liền với sự ra đời,liên kết, hợp tác, sáp nhập và lớn mạnh không ngừng của các tập đoàn ô tô khổng lồ hoạt

động ở khắp các quốc gia, châu lục

2.2 Đặc điểm và xu hớng phát triển của nghành công nghiệp ôtô trên thế giới

2.2.1 Đặc điểm của ngành sản xuất ô tô

2.2.1.1 Về vốn đầu t

+ Vốn đầu t cực lớn

So với vốn đầu t vào các đại bộ phận các ngành công nghiệp khác, vốn đầu t vàongành công nghiệp ô tô là cao hơn rất nhiều, có thể nói là cực lớn Mỗi ô tô có đến 20.000-30.000 chi tiết, bộ phận khác nhau Các chi tiết, bộ phận lại đợc sản xuất với những côngnghệ có đặc điểm khác biệt; chi tiết phụ tùng của loại xe này không thể sử dụng chung cho cácloại xe khác, do vậy vốn đầu t cho việc sản xuất 20.000- 30.000 chi tiết thờng rất cao Thêm vào

đó, do đặc điểm của ngành là không ngừng vận dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Vìthế, ngoài các khoản chi phí ban đầu bao gồm chi phí xây mới nhà xởng, mua sắm trangthiết bị kỹ thuật, đào tạo công nhân lành nghề, và các khoản chi thờng xuyên nh mua

Trang 10

nguyên vật liệu, bảo dỡng nhà xởng, máy móc, bảo quản hàng hoá, thì chi phí cho côngtác nghiên cứu và triển khai (R&D) trong lĩnh vực ô tô cũng chiếm một phần đáng kểtrong tổng vốn đầu t ban đầu và tăng thêm

+ Thu hồi chậm

Ngành công nghiệp ô tô là ngành cơ khí chế tạo nên phần lớn vốn tập trung đầu tcho cơ sở vật chất, vốn cố định chiếm tỉ trọng lớn Không nh các ngành dịch vụ vốn chủyếu tồn tại dới dạng vốn lu động, tốc độ quay vòng vốn nhanh và do đó, dễ thu hồi Hơnnữa, vốn đầu t cho ngành lại rất lớn chỉ xếp sau sản xuất máy bay nên thời gian để thu hồivốn là rất lâu

+ Sinh lợi cao

Công nghiệp ô tô là một ngành có quy mô lớn và cũng đợc coi là ngành siêu lợinhuận Tổng giá trị hàng hóa do ngành công nghiệp này tạo ra đã đạt tới những con sốkhổng lồ Chỉ xét những chi tiết phụ tùng rất nhỏ trong ô tô nhng nó có giá trị lớn gầnbằng một chiếc xe máy có giá trị Điều này chứng tỏ ngành công nghiệp ô tô có đợcnguồn lợi nhuận lớn là do ngành tạo ra những sản phẩm có giá trị cao

2.2.1.2 Về công nghệ kỹ thuật

Đây là lĩnh vực đòi hỏi công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Một sản phẩm ô tô

đ-ợc tung ra trên thị trờng là sự kết hợp của hàng nghìn, hàng vạn chi tiết các loại, khônggiống nhau Mỗi chi tiết đều có những tiêu chuẩn kỹ thuật riêng và đợc chế tạo theo phơngpháp riêng ở những điều kiện khác nhau nhng vẫn đảm bảo tính đồng bộ của sản phẩm.Khi công nghiệp ô tô phát triển, xuất hiện nhiều chi tiết vợt quá khả năng thao tác của conngời, yêu cầu phải có sự trợ giúp của máy móc kỹ thuật Máy móc kỹ thuật càng hiện đạicàng giảm bớt sự nặng nhọc và nguy hiểm; nhng điều quan trọng hơn là dới sự điều khiểncủa con ngời, những máy móc hiện đại có thể chế tạo và lắp ráp các chi tiết thành sản phẩmcuối cùng với xác suất sai sót không đáng kể

2.2.1.3 Về tổ chức sản xuất

+ Chuyên môn hoá, hợp tác hoá trong sản xuất

Chiếc ô tô là một sản phẩm công nghiệp vô cùng phức tạp Một chiếc ô tô hiện đại

có trên 25.000 chi tiết Bản thân các nhà sản xuất ô tô không thể tự mình sản xuất ra toàn

bộ số lợng lớn các chi tiết đó Các công ty sản xuất ô tô nhận đợc từ các nhà cung cấpphần lớn các chi tiết lắp ráp và nguyên vật liệu sản xuất Sự khác nhau về tỷ lệ cũng nh nộidung phân chia giữa phần giá trị hàng hoá mà các nhà sản xuất ô tô tự tạo ra và phần mà

họ đặt hàng các nhà cung cấp tuỳ theo truyền thống và quan điểm quản lý của từng nhàsản xuất Thông thờng phần giá trị hàng hoá mà bản thân nhà sản xuất ô tô tạo ra vàokhoảng 20% tới 40% tổng giá trị ô tô Hiện nay, các nhà sản xuất ô tô trên thế giới vẫn

Trang 11

thực hiện quy trình chế tạo gồm bốn công đoạn của hãng Ford: rèn dập, hàn, sơn, lắp ráp.Cụm chi tiết quan trọng nhất của ô tô mà hầu hết các nhà sản xuất ô tô trên thế giới đều tựmình nghiên cứu, chế tạo là khung vỏ xe Khung vỏ xe đợc hoàn thành về cơ bản sau bacông đoạn đầu là rèn dập, hàn và sơn Sau đó ở công đoạn lắp ráp, các cụm và chi tiết cònlại đợc lắp ráp vào cụm chi tiết cơ sở là khung vỏ xe tạo nên chiếc xe ô tô hoàn chỉnh.Ngoài khung vỏ xe, các nhà sản xuất ô tô còn thờng tự sản xuất các chi tiết và các cụm chitiết cơ bản, quan trọng nh động cơ, hệ thống truyền lực, hệ thống treo, Các cụm chi tiếtcòn lại nh hệ thống điện, phần nội và ngoại thất, thậm chí cả nguyên vật liệu, kỹ thuậtcông nghệ để chế tạo các chi tiết do nhà sản xuất ô tô tự sản xuất, đều do các nhà sản xuất

đợc chuyên môn hoá khác cung cấp

+ Quy mô lớn và xu hớng tập trung hoá là đặc trng thứ hai của ngành công nghiệp

ô tô trong tổ chức sản xuất

Để đảm bảo hiệu quả kinh tế không thể tổ chức sản xuất ô tô với quy mô nhỏ Côngnghiệp ô tô ngay từ khi mới hình thành đã luôn gắn liền với quy mô sản xuất lớn Quy môlớn của công nghiệp ô tô đợc thể hiện cả về sản lợng, vốn đầu t và thu hút lực lợng lao

Thêm một sự khác biệt nữa so với các sản phẩm chế tạo khác, một chiếc ô tô đợchình thành từ rất nhiều chi tiết-gần 30 000 chi tiết đòi hỏi sự tinh vi trong chế tạo Chínhnhờ đặc điểm này mà ngành công nghiệp ô tô trở thành khách hàng của rất nhiều cácngành khác

2.2.2 Các giai đoạn phát triển của công nghiệp ô tô Việt Nam

Nền công nghiệp sản xuất ô tô của việt nam đã chính thức đợc hình thành và pháttriển từ đầu những năm năm mơi của thế kỷ 20

Trong thời kỳ từ năm 1952-1996 là sự xuất hiện của các công ty sản xuất ô tô củaViệt nam đợc xắp xếp theo mô hình kinh tế tập trung, bao cấp Các doanh nghiệp chủ yếusản xuất và lắp ráp các xe xã hội chủ nghĩa nh của Liên xô

Trang 12

Từ năm 1996 đến nay, khi mà một loạt các liên doanh sản xuất ô tô ra đời thì nềncông nghiệp chuyển sang giai đoạn phát triển mới Tuy nhiên, các hoạt động sản xuất vẫnchỉ dừng lại ở mức độ gia công lắp ráp chứ cha thực sự hình thành một nền công nghiệpsản xuất ô tô chính quy hiện đại theo đúng nghĩa của nó.

III Thực trạng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam trong thời kì hội nhập.

3.1 Thực trạng cuả ngành sản xuất ô tô Việt Nam thời kỳ hội nhập

Năm 2007, Việt Nam cú khoảng 770.000 xe ụ tụ con lưu hành, tỷ lệ sở hữu là 8

xe /1000 người Theo thứ trưởng bộ cụng thương Đỗ Hữu Hào, năm 2007 Việt Nam mớichỉ tiờu thụ được khoảng 100.000 ụ tụ cỏc loại, trong khi đú, lượng tiờu thụ xe gắn mỏyvào khoảng 3,6 triệu chiếc Thị trường xe mỏy đang trong thời kỳ nở rộ và theo dự đoỏn

sẽ duy trỳ trong 5-10 năm nữa do nhu cầu về lưu thụng cỏ nhõn và hệ thống đường giaothụng chưa phỏt triển Tuy nhiờn, ụng Hào nhận định, thị trường ụ tụ Việt Nam sẽ là mộtthị trường đầy tiềm năng và việc sử dụng ụ tụ thay thế cho xe gắn mỏy sẽ đến trong mộttương lai khụng xa

ễng Ngụ Văn Trụ - Phú vụ trưởng Vụ cơ khớ luyện kim và hoỏ chất (Bộ Cụngthương) đỏnh giỏ Việt Nam hiện nay đang ở thời kỳ trước “ụ tụ húa” motorization với tỷ

lệ 18xe/1000 dõn, tương đương như Ấn Độ và Pakistan, và Việt Nam năm 2007 cú thểbằng với Thỏi Lan thời điểm năm 1986 nếu so sỏnh bề tỷ lệ xe/1000 dõn và mức GDP đầungười (theo ngang sức giỏ mua)

Trang 13

Thứ trưởng Đỗ Hữu Hào thảng thắn vạch rõ những vấn đề nổi cộm chủ yếu của thịtrường ô tô trong nước hiện nay là thị trường nhỏ, sản lượng nhỏ nhưng lại có quá nhiềunhà sản xuất lắp ráp ô tô Thứ hai là thiếu nhà cung cấp nội địa về linh kiện, phụ tùng chocác liên doanh lắp ráp, sản xuất ô tô Thứ ba là giá xe ô tô sản xuất lắp ráp tại Việt Namquá cao Ngoài ra, ngay trong khu vực thì ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam lại đi saucác nước như Thái Lan và Indonesia Ngành công nghiệp phụ trợ không thể phát triểnđược vì sản lượng nhỏ và hạ tầng giao thông kém Hơn nữa Việt Nam chỉ còn có quỹ thờigian là mười năm để phát triển ngành công nghiệp ô tô (năm 2018, theo cam kết CEPT,thuế dành cho xe nhập khẩu nguyên chiếc từ các nước Asian chỉ còn 0%) đang đặt ranhững thách thức gay gắt.

Khi mức thu nhập đầu người tăng lên, các nghành cạnh tranh dựa trên chi phí laođộng giá rẻ hiện nay như dệt may da giầy hiện nay sẽ mất dần lợi thế Khi đó không cónghành công nghiệp ô tô phát triển mạnh có thể mang lại những hậu quả nặng nề Điềunày sẽ ảnh hưởng đến đầu tư xã hội , số lượng công ăn việc làm và ảnh hưởng tới cán cânthương mại Ông nêu rõ quá trình ô tô hóa là xu thế tất yếu, để đem lại lợi ich, Việt Namcần phải nâng cao thị phần của xe sản xuất trong nước với tỷ lệ nội địa hóa cao Hay nóicách khác, nếu như không phát triển được nghành công nghiệp ô tô thì về lâu dài ViệtNam sẽ phải gánh chịu mức thâm hụt thương mại khổng lồ

Trong khi đó thị trường ô tô nhập ngoại trong nước lại quá thừa, theo số liệu thống

kê của tổng cục Hải quan, cho đến ngày cuối tháng 6/2008, số lượng xe nhập khẩu về ViệtNam là 1.700 chiếc Bên cạnh đó trong tháng 4 và tháng 5/2008, số xe nhập khẩu về ViệtNam là 7.000 chiếc Còn theo số liệu của Cục cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt -

Bộ công an, 6 tháng đầu năm 2008 số lượng xe hơi nhập về nước khoảng gần 20.000chiếc, thế nhưng chỉ có 12.000 chiếc được đăng ký, còn lại khoảng 8.000 chiếc được xếpvào dạng tồn kho

Bảng1: Báo cáo sản phẩm ngành công nghiệp lắp ráp ôtô Việt Nam

Đơn vị: 1000 cái

Trang 14

éon vịtớnh

Năm2003

Năm2004

Năm2005

Năm2006

Nguồn: Trớch bỏo cỏo sản phẩm của nghành cụng nghiệp lắp rỏp ụ tụ ở Việt Nam

tớnh từ năm 2003 đến cuối năm 2007

3.1.1 Tình hình hoạt động của một số công ty Việt Nam trớc khi hội nhập

3.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Hoà nhịp cùng sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam, ngành công nghiệp ô

tô Việt Nam cũng đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm trong quá trình hình thành và

phát triển Quá trình đó có thể chia thành các thời kỳ sau:

* Thời kì trớc năm 1975

Trớc năm 1954 xe ô tô sử dụng ở Việt Nam hoàn toàn là xe của nớc ngoài mang từ

Pháp sang với các mác xe nổi tiếng nh Renault, Peugoet, Citroen Phụ tùng đợc nhập

100% từ Pháp, ta chỉ làm những chi tiết đơn giản nh bulông, êcu…phục vụ cho sửa chữaphục vụ cho sửa chữa

xe Các hãng của Pháp thành lập các gara vừa trng bày bán xe, vừa tiến hành dịch vụ bảo

hành, bảo dỡng và sửa chữa Tuy nhiên, số lợng xe ô tô sử dụng ở Việt Nam trong thời kì

này rất ít ỏi

Đến năm 1950, ta mở chiến dịch biên giới, khai thông biên giới Việt Nam với các

nớc xã hội chủ nghĩa anh em Ta đã đợc các nớc bạn viện trợ một số xe ca GAT51 dùng

để vận chuyển ngời và quân khí Lúc này các xởng quân giới sản xuất và sửa chữa vũ khí

kiêm luôn việc bảo dỡng và sữa chữa xe

Sau ngày giải phóng, Bộ công nghiệp nặng thành lập các nhà máy sản xuất phụ

tùng 1, 2, 3 để sản xuất các chi tiết nh động cơ, hộp số, gầm xe Bộ giao thông vận tải giao

cho cục cơ khí trực thuộc thành lập mạng lới sửa chữa xe và sản xuất phụ tùng khắp các

tỉnh từ Lạng Sơn, Hà Nội đến Nghệ An, Quảng Bình Một thời gian sau, Cục cơ khí Bộ

giao thông vận tải thành lập nhà máy ô tô 1-5 và nhà máy Ngô Gia Tự sản xuất phụ tùng

máy gầm Các bộ khác nh Bộ Quốc phòng, Bộ Cơ khí luyện kim cũng xây dung riêng cho

mình một nhà máy sản xuất phụ tùng ô tô

Trang 15

đóng cửa và một số nhà máy nh cơ khí Ngô Gia Tự 3-2, niềm tự hào của chúng ta trớc kia,

đã phải cho một bộ phận công nhân nghỉ không ăn lơng ở miền Nam, chúng ta không cónhà máy sản xuất phụ tùng ô tô, chỉ có các xởng sửa chữa và bán phụ tùng xe ngoại nhập

Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, làm bạnvới tất cả các nớc trên thế giới trên cơ sở hợp tác cùng có lợi Trớc tình hình đó, Đảng vàNhà nớc đã nhìn thấy những điểm yếu về vốn, về công nghệ, về con ngời, của ngành trongkhi nền kinh tế của chúng ta cần nhiều chủng loại xe để phục vụ công cuộc công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nớc

Để phát triển ngành công nghiệp ô tô, chúng ta cần có nguồn vốn lớn, trang thiết

bị, công nghệ hiện đại, có đội ngũ cán bộ đủ năng lực và trình độ để có thể sử dụng tốt hệthống trang thiết bị đó Song tại thời điểm này, việc chúng ta tự đầu t toàn bộ trang thiết

bị, công nghệ hoàn chỉnh để sản xuất xe là điều không thể

Chúng ta đã đi theo một hớng khác Song song với việc kêu gọi các nhà đầu t nớcngoài vào đầu t tại Việt Nam, chúng ta đã ban hành một loạt các chính sách về u đãi đầu t

Điều này đã làm thị trờng ô tô trong nớc sôi động hơn, nhiều nhà đầu t đã đến Việt Nam

để tìm hiêu thị trờng, nghiên cứu các hớng đầu t có lợi nhất Tuy nhiên do thời kì này tacòn bị Mỹ cấm vận về kinh tế nên các hãng sản xuất xe hơi lớn của Mỹ, Nhật Bản, Châu

Âu còn dè dặt trong việc quyết định có đầu t tại Việt Nam hay không Họ thờng đầu t giántiếp thông qua một công ty châu Á nào đó Mặc dầu vậy, đây cũng là những tiền đề quantrọng cho việc thành lập các liên doanh lắp ráp ô tô tại Việt Nam thời gian sau đó

*Thời kỳ từ năm 1991 đến nay

Phải nói rằng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam thực sự hình thành và phát triển kể

từ sau năm 1991 gắn liền với sự ra đời rầm rộ của các liên doanh của hầu hết các hãng xenổi tiếng trên thế giới nh Ford, Toyota, Mercedes-Benz Theo thống kê của Hiệp hội cácnhà sản xuất lắp ráp ô tô Việt Nam (VAMA), hiện nay trên cả nớc đã có 11 liên doanh sảnxuất lắp ráp ô tô với tổng số vốn đầu t là 543,429 triệu đô la, các liên doanh ô tô có tổngsản lợng đạt 148.900 chiếc xe/năm, giải quyết công ăn việc làm cho hơn 3000 lao động

Nh vậy, các liên doanh có vai trò cực kỳ quan trọng trong bớc đầu tạo dựng nênngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong khi vai trò của các doanh nghiệp ô tô trong nớccủa Việt Nam là hết sức mờ nhạt

Trang 16

Có thể nói, sự ra đời của 11 liên doanh trên đã cho thấy thị trờng xe hơi Việt Nam

là thị trờng đầy tiềm năng và các nhà đầu t nớc ngoài đã rất chú trọng đến thị trờng này

Nh vậy, lịch sử hình thành ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã cho thấy sau baonăm chúng ta dò dẫm con đờng phát triển ngành giờ đây con đờng đó đã hiện rõ hơn vàhứa hẹn một triển vọng sáng lạng trong một tơng lai không xa

3.1.1.2 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp ô tô Việt Nam hiện nay

Vào thời điểm này, hoạt động sản xuất lắp ráp của các liên doanh ô tô ở Việt Namcha cho thấy hết tính hiện đại trong sản xuất ô tô Một nhà máy sản xuất ô tô chuẩn phải

có ít nhất 4 quy trình cơ bản là dập, hàn, sơn và lắp ráp; trong khi đó các liên doanh ô tô ởViệt Nam (trừ Toyota mới đầu t vào công đoạn dập) mới chỉ thực hiện đợc 3 quy trìnhcuối là hàn, sơn và lắp ráp Cả 3 công đoạn này đều không đòi hỏi cao về kỹ thuật và côngnghệ, không phát huy tính sáng tạo và khó có thể nâng cao đợc tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm

Ô tô nớc ta đợc cung cấp từ hai nguồn chính là nhập khẩu và do các doanh nghiệplắp ráp, chế tạo ô tô trong nớc cung cấp bao gồm 11 liên doanh và sỏu doanh nghiệp Nhànớc tuy nhiên số lợng xe lắp ráp của các doanh nghiệp Nhà nớc là không đáng kể

Mặc dù cùng với sự lớn mạnh của các liên doanh với số lợng xe bán ra khôngngừng gia tăng nhanh chóng nhng số lợng xe nhập khẩu cũng tiếp tục tăng

Thời kỳ trước khi nước ta gia nhập WTO, số lượng xe tiờu thụ của nước ta chủ yếuvẫn là xe nhập khẩu với tỷ trọng lớn dự rằng nhà nước đó cú những chớnh sỏch nhập khẩu.Tuy nhiờn theo tổng cục thống kờ cho biết thỡ so với mức tăng trưởng của xe nhập khẩuthỡ sản lượng xe bỏn ra của cỏc doanh nghiệp trong nước vẫn cũn thấp

Đây là báo cáo sản phẩm của hiệp hội cỏc nhà sản xuất lắp rỏp ụ tụ Việt Nam(VAMA) năm 2005 và 2006:

Bảng 2 - Tổng số xe bán ra của các thành viên VAMA

tỷ trọng (%)

số lợng (chiếc)

tỷ trọng (%)

số lợng (chiếc)

tỷ trọng (%)

số lợng (chiếc)

tỷ trọng (%)

Ngày đăng: 03/09/2012, 13:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 - Tổng số xe bán ra của các thành viên VAMA - Thực trạng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.doc
Bảng 2 Tổng số xe bán ra của các thành viên VAMA (Trang 16)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w