Vấn đề lý luận chung về ký kết thực hiện hợp đồng kinh tế và thực tế áp dụng tại chi nhánh công ty thái bình dương.doc
Trang 1Lời nói đầu
Bất kỳ một hình thái kinh tế nào, việc phát triển nền kinh tế là mộttrong những vấn đề cốt lõi thúc đẩy xã hội đi lên, cũng nh dảm bảo cho chế độ
đó tồn tại và phát triển, do vậy mục tiêu phát triển của nền kinh tế là rất quantrọng
Trong văn kiện Đại hội Đảng VI (6/1986) đã đề ra “Giai đoạn này làgiai đoạn phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thịtrờng, có sự điều tiết của nhà nớc theo định hớng XHCN” và hàng loạt các vănbản pháp luật đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế đã đợc nhà nớc ta ban hành,trong đó pháp luật hợp đồng kinh tế đợc Hội đồng nhà nớc ban hành (nay làUBTVQH) thông qua ngày 25/9/1989, có hiệu lực từ ngày 19/9/1989 Có thểnói với t cách kiến trúc thợng tầng, Pháp lệnh HĐKT năm 1989 đã có những
đóng góp tích cực trong công cuộc xoá bỏ cơ chế kinh tế cũ thiết lập cơ chếkinh tế mới, là sự phát triển chung của nền kinh tế nớc ta
Em là sinh viên của khoa Kế toán Tài chính, em rất quan tâm về việc kýkết và thực hiện hợp đồng kinh tế đã áp dụng trong nhiều năm qua, nó đã làmcho Việt Nam ta ngày càng phát triển trên thị trờng khu vực và thế giới Đặcbiệt là vấn đề ký kết thực hiện hợp đồng kinh tế Sau khi kết thúc học chơngtrình Luật kinh tế của Khoa luật em đã lĩnh hội đợc nhiều kiến thức về phápluật nên em xin mạnh dạn đợc đề cập đến đề tài: Vấn đề lý luận chung
về ký kết thực hiện hợp đồng kinh tế và thực tế áp dụng tại chi nhánh công ty Thái Bình Dơng.
Nội dung
Chơng I: Pháp lý về hợp đồng kinh tế
I Những vấn đề lý luận về hợp đồng kinh tế.
1 Khái niệm chung về hợp đồng.
a Khái niệm:
Hợp dồng là sự thoả thuận giữa hai hoặc nhiều bên bình đẳng với nhaulàm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trongquá trình thực hiện một công việc hay một giao dịch nhất định
b Vai trò của hợp đồng trong đời sống xã hội.
Trong đời sống kinh tế xã hội hiện nay, hợp đồng là công cụ pháp lý quantrọng của Nhà nớc trong xây dựng và phát triển đời sống xã hội , nó làm cholợi ích của mỗi cá nhân, tập thể phù hợp với lợi ích chung của toàn xã hội Nó
Trang 2xác lập và gắn chật mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân, đơn vị, tạo nên sựbình đẳng về mặt pháp lý trong đời sống xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các bên ký kết, giúp đỡ các bên xây dựng kế hoạch một cách vữngchắc, kế hoạch ấy chỉ trở thành phơng án thực hiện khi nó đợc bảo đảm bằngnhững cam kết hợp đồng Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cụ thể đó chính làviệc thực hiện từng phần kế hoạch.
Trong pháp luật nớc ta qui định gồm nhiều loại hợp đồng tồn tại thuộc lĩnhvực quan hệ xã hội khác nhau nh: Hợp đồng dân sự, Hợp đồng kinh tế, Hợp
đồng mua bán ngoại thơng, Hợp đồng liên doanh, Hợp đồng hợp tác liêndoanh, Hợp đồng lao động
2 Khái niệm về hợp đồng kinh tế:
a Lịch sử phát triển của hợp đồng kinh tế.:
Thời kỳ này kéo dài từ năm 1954 đến năm 1989 là thời kỳ đánh dắu cácbớc phát triển của pháp luật về hợp đồng kinh tế, đặc biệt là 3 văn bản sau:
- Điều lệ tạm thời về Hợp đồng kinh doanh ban hành kèm theo NĐ 735/TTg (10/4/1957) ;
- Điều lệ tạm thời về chế độ HĐKT ban hành kèm theo NĐ04/TTg(4/1/1960) ;
- Điều lệ về chế độ HĐKT ban hành kèm theo nghị định 54/CP(10/3/1975)
ở nớc ta có thể nói : Bản pháp luật đầu tiên đề cập đến HĐKT đó là sắclệnh 97 - Sắc lệnh ngày 22/05/1950 của Nhà nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoàban hành sửa đổi về dân sự, xoá bỏ tuyệt đối hoá quyền dân sự t nhân Điều 12sắc lệnh này qui định “ khi lập khế ớc mà có sự tổn thất do bóc lột của mộtbên vì điều kiện kinh tế “ của hai bên chênh lệch thì khế ớc có thể coi là vôluận”
Vào cuối năm 1950 nền kinh tế nớc ta là một nền kinh tế nhiều thànhphần Kinh tế quốc doanh tuy giữ vai trò chủ đạo nhng cha lớn mạnh, kinh tếtập thể còn yếu Kinh tế t bản còn ở trình độ thấp, kinh tế công - nông nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp còn rất rộng lớn Kinh tế t bản và t doanh vẫn còn tồntại để điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế khác nhau Chính phủ đã ban hanh điều lệ tạm thời vềHĐKT kinhh doanh số 735TTg 10/4/1957 Theo điều lệ này, HĐKT đợc kýkết nhằm mục đích phát triển kinh doanh công thơng nghiệp góp phần thựchiện kế hoạch Nhà nớc trên nguyên tắc tự nguyện hai bên cùng có lợi và có lợicho phát triển kinh tế quốc dân Đến hiến pháp năm 1959 đã xác định mục
Trang 3tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội của nớc ta Đại hội lần thứ III của Đảng cũngthông qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1960 - 1965 để xây dựng công nghiệphoá Bắt đầu công cuộc cải tạo các thành phần kinh tế TBTN đã cơ bản hoànthành kinh tế cá thể trong Nhà nớc, đã chuyển hoá dần thành kinh tế tập thểthông qua phong trào hệ thống hoá Nhà nớc, nền kinh tế chỉ còn lại hai thànhphần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
Điều lệ tạm thời về HĐKT với nguyên tắc ký kết hợp đồng trên cơ sởhoàn toàn tự nguyện đó không còn phù hợp nữa Trong bối cảnh đố, Thủ tớngchính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời về chế độ HĐKT kèm theo nghị định04TTg ngày 4/1/1960 HĐKT đợc xây dung trên cơ sở kế hoạch Nhà nớc,nhằm thực hiện chỉ tiêu kế hoạch Nhà nớc Chủ thể HĐKT bị hạn chế chỉtrong phạm vi các tổ chức kinh tế quốc doanh và các cơ quan Nhà nớc, trong
đó đại diện các cơ quan Nhà nớc đợc ký hợp đồng dài hạn mang tính nguyêntắc, đại diện tổ chức kinh tế quốc doanh ký HĐKT ngắn hạn cụ thể Điều nàythể hiện một cơ chế quản lý chủ yếu theo chiến lệnh: chỉ huy trên xuống, báocáo dới lên, lãi nộp ngân sách, lỗ xin trên
Lần đầu tiên khái niệm hợp đồng kinh tế đợc sử dụng trong bản điều lệnày có thể coi là thời điểm ra đời của HĐKT ở nớc ta Mặc dù có tên gọi điều
lệ tạm thời, nhng bản điều lệ này cũng đã đợc sử dụng trong 15 năm từ 1960
đến 1975, trong suốt thời gian đó chúng ta ở trong điều kiện chiến tranh,không tập trung vào việc xây dựng và hệ thống hoà pháp luật
Điều lệ về chế độ HĐKT ban hành kèm theo Nghị định 54/CP 10/3/1975 ở giai đoạn này HĐKT đã trở thành công cụ pháp lý chủ yếu củaNhà nớc để quản lý nền kinh tế Việc ký kêt hợp đồng kinh tế đã trở thành bắtbuộc, là kỷ luật của Nhà nớc, tính bắt buộc này là do tính pháp luật của Nhànớc qui định việc thay đổi chỉ tiêu kế hoạch Nhà nớc Vì vậy, các phạm viHĐKT đều bị sử lý hết sức nghiêm khắc Từ các đặc điểm trên ta thấy HĐKTtrong giai đoạn này mang tính kế hoạch, hành chính, tập trung bao cấp rõ nét
-Pháp lệnh về HĐKT do Hội đồng Nhà nớc (nay là UBTVQH) thôngqua ngày 25/9/1989 của Hiệu lực 29/9/1989 Nhà nớc đã ban hành pháp lệnhHĐKT ở nớc ta, nó đã thể chế hoá đợc những t tởng lớn về đổi mới quản lýkinh tế của Đảng, trả lại giá trị đích thực của HĐKT với t cách là sự thốngnhất ý chí của các bên Pháp lệnh HĐKT và các văn bản pháp lý cụ thể hoácác pháp lệnh đã tạo thành hệ thống các qui phạm pháp luật làm cơ sở pháp lýquan trọng điều chỉnh các quan hệ HĐKT trong cơ chế kinh tế mới hiện nay
Trang 4b Khái niệm hợp đồng kinh tế :
Theo điều 1 pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 thì hợp đồngkinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, hay tài liệu giao dịch giữa các bên kýkết về việc thực hiện công việc sản suất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiêncứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinhdoanh và thực hiện kế hoạch của mình
3 Đặc điểm hợp đồng kinh tế:
- Về nội dung: Hợp đồng kinh tế đợc ký kết nhằm phục vụ hoạt độngkinh doanh Đó là nội dung thực hiện các công việc sản suất, trao đổi hànghoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác
do chủ thể tiến hành trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình táisản suất, từ khi đầu t vốn đến khi tiêu thụ sản phẩm hoặc hoàn thành dịch vụnhằm sinh lợi hợp pháp
- Về chủ thể hợp đồng: Theo diều 2 pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì hợp
đồng kinh tế đợc ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân, hay pháp nhân với cánhân có đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật và phải ký kết trongphạm vi nghề nghiệp kinh doanh đã đăng ký Ngoài ra, pháp lệnh còn qui địnhnhững ngời làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình,
hộ nông dân, ng dân cá thể, các tổ chức và cá nhân nớc ngoài ở Việt Namcũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng kinh tế khi họ ký kết hợp đồng vớimột pháp nhân
- Về hình thức: Hợp đồng kinh tế phải đợc ký kết bằng văn bản Đó làbản hợp đồng hay các tài liệu giao dịch mang tính văn bản có chữ ký của cácbên xác nhận nội dung trao đổi, thoả thuận nh công văn, đơn chào hàng, đơn
đặt hàng, giấy chấp nhận…
Hợp đồng kinh tế còn mang tính kế hoạch và phản ánh mối quan hệgiữa kế hoạch với thị trờng Hợp đồng kinh tế đợc ký kết dựa trên định hớng
kế hoạch của Nhà nớc, nhằm các việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của các
đơn vị kinh tế Trong đó có những hợp đồng kinh tế mà việc ký kết và thựchiện nó phải hoàn toàn tuân theo các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh của Nhà nớc.Trong cơ chế quản lý theo phơng pháp kế hoạch hoá tâp trung thì tính kếhoạch là đặc tính số một của hợp đồng kinh tế
Những đặc điểm của hợp đồng kinh tế giúp ta phân biệt hợp đồng kinh
tế và các loại hợp đồng khác nh Hợp đồng dân sự, Hợp đồng ngoại thơng, Hợp
đồng lao động…
Trang 5II Ký kết hợp đồng kinh tế:
1 Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế:
Các nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế là những t tởng chỉ đạo, cótính chất bắt buộc đối với các chủ thể khi khi ký kết và thực hiện hợp đồngkinh tế Các nguyên tắc cơ bản đợc ghi nhận trong Điều 3 pháp lệnh hợp đồngkinh tế
a Nguyên tắc tự nguyện:
Khi xác lập quan hệ hợp đồng, các bên hoàn toàn tự do ý chí, tự nguyệntrong việc thoả thuận, bày tỏ ý chí và thống nhất ý chí nhằm đạt tới mục đíchnhất định Các bên có quyền tự do lựa chọn bạn hàng, thời điểm ký kết và cácnội dung ký kết Mọi sự tác động làm tính tự nguyện của các bên trong quátrình ký kết nh bị cỡng bức, lừa đảo, nhầm lẫn… đều làm ảnh hởng đến hiệulực của hợp đồng kinh tế Nguyên tắc này thể hiện quyền tự chủ trong tự do kýkết HĐKT của các chủ thể kinh doanh đợc Nhà nớc đảm bảo Ký kết hợp
đồng kinh tế là quyền của các đơn vị kinh tế, quyền này phải gắn lion vớinhững điều kiện nhất định, đó là:
- Không đợc phép lợi dụng ký kết HĐKT để hoạt động trái pháp luật
- Đối với các đơn vị kinh tế có chức năng sản xuất kinh doanh trong cácthành phần kinh tế thuộc độc quyền của Nhà nớc thì không đợc lợi dụngquyền ký kết hợp đồng kinh tế để đòi hỏi những điều kiện bất bình đẳng, épbuộc, cửa quyền, hoặc vì không đạt đợc những đòi hỏi bất bình đẳng đó
- Quyền ký kết HĐKT của các đơn vị kinh tế còn đợc thể hiện qua việccác dơn vị kinh tế có quyền từ chối mọi sự áp đặt của bất cứ cơ quan, tổ chức,cá nhân nào trong việc ký kết HĐKT
Nguyên tắc tự nguyện trong ký kết HĐKT đánh dấu bớc đổi mới cănbản trong chế độ HĐKT của Nhà nớc ta, đợc ghi nhận trong Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế ngày 25/9/1989
b Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi
Nguyên tắc này là khi ký kết HĐKT, các chủ thể phải đảm bảo trongnội dung của hợp đồng có sự tơng xứng về quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứnglợi ích kinh tế của mỗi bên Bất kể các đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh tếnào, do cấp nào quản lý, khi ký kết hợp đồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa
vụ, cũng có lợi trên cơ sở thoả thuận và phải chịu trách nhiệm vật chất nếu viphạm hợp đồng đã ký kết Không thể có một HĐKT nào chỉ mang lại lợi íchcho một bên hoặc một bên chỉ có quyền còn bên kia chỉ có nghĩa vụ Một hợp
Trang 6đồng kinh tế đã đợc ký kết vi phạm nguyên tắc bình đẳng thì sẽ ảnh ởng đếnhiệu lực của hợp đồng kinh tế đó.
c Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật:
Trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản là các bên tham gia quan hệ HĐKTphải dùng chính tài sản của đơn vị mình để đảm bảo việc ký kết và thực hiệnHĐKT Tuy nhiên, một chủ thể có thể ký kết hợp đồng kinh tế trong trờng hợp
đợc một chủ thể khác đứng ra bảo lãnh về tài sản
Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện HĐKT vàviệc bảo vệ trật quản lý kinh tế của Nhà nớc Một hợp đồng kinh tế chỉ có thểthực hiện một cách nghiêm chỉnh khi nó không tráI pháp luật và các bên cókhả năng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình
do đó việc ký kết các HĐKT cũng phải căn cứ vào định hớng kế hoạch củaNhà nớc Ngoài ra, để đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và hiệu quả trong việcxây dựng nội dung của HDDKT, khi ký kết hợp đồng các chủ thể cũng phảicăn cứ vào các chính sách và chế độ quản lý kinh tế của Nhà nớc
b Nhu cầu thị trờng, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của bạn hàng:
Hợp đồng kinh tế phản ánh mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ, on lôn gắnliền với sự vận động của thị trờng, của quan hệ cung cầu Vì vậy, trong việc
ký kết hợp đồng kinh tế, các chủ thể luôn luôn căn cứ vào nhu cầu của thị ờng bao gồm các khả năng cung cấp hàng háo, dịch vụ và nhu cầu cần đápứng về hàng hoá, dịch vụ của mình và của bạn hàng
tr-c Khả năng phát triển sản xuất kinh doanh, chức năng hoạt động của các chủ thể ký kết:
Khả năng phát triển của sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế lànhững khả năng thực tế về tiền vốn, vật t, năng suất lao động, hiệu quả sảnxuất kinh doanh Chức năng hoạt động là phạm vi ngành nghề, lĩnh vực kinh
tế mà đơn vị đó đợc tiến hành hoạt động
Việc ký kết hợp đồng kinh tế không thể bỏ qua đợc căn cứ này bởi vì nó
đảm bảo khả năng thực tế của việc thực hiện hợp đồng, đồng thởi đảm bảo
Trang 7tính cân đối giữa khả năng và nhu cầu, giữa sản xuất và tiêu thụ, giữa giá trị vàhiện vật.
d Tính hợp pháp của hoạt động sản xuát kinh doanh và khả năng đảm bảo tài sản của các bên ký kết hợp đồng:
Khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế, các đơn vị kinh tế phảI căn cứvào những qui định của pháp luật, những yêu cầu khách quan và khả năng chủquan để xác lập mối quan hệ kinh tế một cách hợp pháp, có đầy đủ điều kiện
để thực hiện nhằm mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho đơn vị mình và choxã hội
- Có tài sản riêng và chịu trách nhiệm độc lập bằng các tài sản đó
- Tự nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật, có thể trở thànhnguyên đơn, bị đơn trớc toà án
- Tồn tại độc lập và đợc pháp luật công nhận là một tổ chức độc lập
- Cá nhân có đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật, là ngời đã
đăng ký kinh doanh tại cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền theo đúng thủ tụcpháp luật qui định và đã đợc cấp giấy phép kinh doanh
Ngoài ra, theo qui định tại Điều 42, Điều 43 Pháp lệnh HĐKT, nhữngngời làm khoa học, kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngdân cá thể, tổ chức và cá nhân nớc ngoài tại Việt Nam cũng đợc áp dụng cácqui định của pháp lệnh HĐKT
Khi tiến hành ký kết HĐKT, mỗi bên tham gia quan hệ hợp đồng chỉcần cử một đại diện để ký vào HĐKT Nếu là pháp nhân thì ngơừi ký kết hợp
đồng phải là ngời đợc bổ nhiệm hoặc đang giữ chức vụ đó Nếu là cá nhân có
đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật thì ngời ký hợp đồng phải làngời đứng tên trong giấy phép kinh doanh Trong tất cả trờng hợp, hợp đồngkinh tế không bắt buộc kế toán trởng phải cùng ký vào bản HĐKT, đây là
điểm khác biệt so với qui định trong điều lệ về chế độ HĐKT ban hành theoNghị định 54/CP ngày 10/3/1975
Trong trờng hợp một bên là ngời làm công tác khoa học, kỹ thuật, nghệnhân thì ngời ký kết hợp đồng kinh tế phải là ngời trực tiếp thực hiện công
Trang 8việc trong hợp đồng Khi một bên là hộ kinh tế gia đình nông dân, ng dân cáthể thì đại diện ký HĐKT phải là chủ hộ.
Quy định trên đây có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc vì nó vừa giúp cho các
đơn vị kinh tế có thể linh hoạt trong việc ký kết và thực hiện HĐKT lại vừaràng buộc trách nhiệm theo nguyên tắc “chịu trách nhiệm cá nhân”
III Phân tích những điều khoản của hợp đồng kinh tế.
Theo qui định tại điều 12 Pháp lệnh HĐKT thì nội dung của HĐKT baogồm những điều khoản cụ thể sau:
1 Ngày tháng năm ký kết hợp đồng kinh tế.
- Tên, địa chỉ, số tài khoản, ngân hàng giao dịch của các bên
- Họ tên ngời đại diện, ngời đứng tên đăng ký kinh doanh
2 Điều khoản đối tợng của hợp đồng.
Tức là các bên trao đổi mua bán, giao dịch về cái gì…? công việc gi…?
Đối tợng của hợp đồng tính bằng khối lợng, số lợng hoặc giá trị quy ớc
đã thoả thuận
3 Điều khoản chất lợng.
Tức là sự qui định thể hiện những đặc điểm, tính cách, … của đối tợnghợp đồng, các bên phải thoả thuận cụ thể về chủng loại, quy cách, cách tính,tính đồng bộ, mẫu mã, tiêu chuẩn… của sản phẩm, hàng hoá hoặc những yêucầu ký thuật của công việc giao dịch giữa các bên
4 Điều khoản giá cả.
Các bên có thể thoả thuận xác định đơn giá, hoặc giá trị của toàn bộcông việc, thoả thuận những nguyên tắc xác định rõ giá cả…
5 Điều khoản bảo hành.
6 Điều khoản nghiệm thu, giao nhận.
Các bên thoả thuận đặt ra các điều kiện để giao nhận sản phẩm, hànghoá, điều kiện nghiệm thu đối tợng của hợp đồng
7 Điều khoản phơng thức thanh toán.
Các bên đợc quyền lựa chọn phơng thức thanh toán cho phù hợp vớihoạt động kinh doanh, nhng không trái với qui định của pháp luật hiện hành
8 Điều khoản trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế.
Các bên đợc thoả thuận trong khung phạt do pháp luật qui định đối vớihành vi vi phạm HĐKT, đối với từng chủng loại HĐKT
9 Điều khoản thời hạn có hiệu lực của hợp đồng.
10 Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng.
Trang 9Các bên có thể thoả thuận các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồngnh: Thế chấp tài sản, cầm cố, bảo lãnh tài sản theo qui định của pháp luật.
11 Các bên có quyền xây dựng những điều khoản thể hiện sự thoả thuận
về các vấn đề khác, không trái qui định của pháp luật.
Về phơng diện pháp lý, căn cứ vào tính chất, vai trò của các điều khoản,nội dung của HĐKT đợc xác định thành ba loại với các điều khoản sau:
- Điều khoản chủ yếu: là những điều khoản cơ bản, quan trọng nhất củamột hợp đồng bắt buộc phải có trong bất cứ một hợp đồng kinh tế nào, nếukhông thì hợp đồng sẽ không có giá trị pháp lý
Ngoài ra, hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận của các bên về việc thiếtlập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động kinhdoanh Do đó, nội dung của HĐKT trớc hết là những điều khoản do các bênthoả thuận Trong trờng hợp cần thiết, Nhà nớc vẫn có quyền can thiệp vào nộidung của quan hệ hợp đồng Chẳng hạn buộc các bên ký kết hợp đồng phảituân theo những qui định bắt buộc về chất lợng sản phẩm để đảm bảo an toàncho ngời tiêu dùng
- Điều khoản thờng lệ: là những điều khoản đã đợc pháp luật ghi nhận,nếu các bên không ghi vào các văn bản hợp đồng thì coi nh các bên đã mặcnhiên công nhận và có nghĩa vụ thực hiện những qui định đó, nếu các bên thoảthuận ghi vào văn bản hợp đồng thì không đợc ghi trái với những điều đã qui
định đó, nếu thoả thuận trái pháp luật thì những thoả thuận đó không có giátrị
Trong mối quan hệ giữa các điều khoản chủ yếu và điều khoản thờng lệcủa hợp đồng kinh tế thì sự tồn tại của HĐKT không phụ thuộc vào các điềukhoản thờng lệ mà chỉ phụ thuộc vào các điều khoản chủ yếu Hai bên khôngthoả thuận về những điều khoản thờng lệ thì HĐKT vẫn cứ hình thành và làmphát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
- Điều khoản tuỳ nghi: là những điều khoản do các bên tự thoả thuậnvới nhau khi pháp luật cho phép Khi một quy phạm pháp luật qui định cácbên có thoả thuận về vấn đề này hay vấn đề khác thì các bên có thể thoả thuậnhoặc không thoả thuận, nếu các bên thoả thuận đó là nội dung của hợp đồngcác bên phải có trách nhiệm thực hiện
Theo pháp luật về HĐKT của nớc ta hiện nay thì những thoả thuận vềbiện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng ( cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảolãnh tàI sản…) là những điều khoản tuỳ nghi Những điều khoản này chỉ trởthành nội dung hợp đồng nếu các bên trực tiếp thoả thuận với nhau
Trang 10Tóm lai: các điều khoản của hợp đồng là do các bên thoả thuận, phápluật không hạn chế các điều khoản mà các bên thoả thuận, miễn là những thoảthuận đó không phảI là trái pháp luật Pháp luật chỉ qui định những điều khoảntối thiểu phải có để chứng tỏ giữa các bên có quan hệ hợp đồng, những điềukhoản tối thiểu đó là những điều khoản chủ yếu trong hợp đồng.
IV Thủ tục ký kết hợp đồng.
1 Ký kết hợp đồng bằng phơng pháp ký trực tiếp:
Là cách ký đơn giản, hợp đồng kinh tế đợc hình thành một cách nhanhchóng Khi ký kết bằng cách này, đại diện hợp pháp của các bên trực tiếp gặpnhau bàn bạc, thoả thuận, thống nhất ý chí để xác định các điều khoản củahợp đồng và cùng ký vào bản hợp đồng
2 Ký kết hợp đồng bằng phơng pháp ký gián tiếp:
Là cách ký kết mà trong đó các bên tiến hành gửi cho nhau các tài liệugiao dịch (công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng…) chứa đựng nộidung cần giao dịch Việc ký kết HĐKT bằng phơng pháp ký gián tiếp đò hỏiphải tuân theo trình tự nhất định:
- Một bên lập dự thảo (đề nghị) hợp đồng trong đó đa ra những yêu cầu
về nội dung giao dịch (tên hàng hoặc nội dung công việc, số lợng, chất lợng,thời gian, địa điểm, phơng thức giao nhận, thời hạn thanh toán… và gửi chobên kia)
- Bên nhận đợc đề nghị tiến hành trả lời cho bên đề nghị hợp đồng bằngvăn bản, trong đó ghi rõ nội dung chấp nhận, nội dung không chấp nhận,những đề nghị bổ sung…
Dù ký kết bằng phơng pháp trực tiếp hay gián tiếp, những hợp đồngkinh tế đợc hình thành đều có hiệu lực pháp lý nh nhau và các bên đều phảinghiêm chỉnh thực hiện các điều khoản đã cam kết Để cho hợp đồng kinh tế
có hiệu lực, việc thoả thuận của các bên phải đảm bảo những điều kiện sau:
+ Nội dung thoả thuận không vi phạm pháp luật
+ Phải đảm bảo điều kiện chủ thể của hợp đồng
+ Đại diện ký kết hợp đồng phải đúng thẩm quyền
Nếu không đảm bảo một trong các điều kiện này, hợp đồng sẽ trở thànhvô hiệu Mỗi cách ký kết đều có những u điểm và nhợc điểm riêng của nó, lựachọn cách nào là quyền của các chủ thể ký kết Song, việc lựa chọn luôn luôn
Trang 11phải tính đến hiệu quả kinh tế, thời cơ kinh doanh Các chủ thể cũng có thể kếthợp cả hai phơng pháp ký kết để xác lập một quan hệ hợp đồng kinh tế
V Thực hiện hợp đồng kinh tế.
1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng kinh tế.
Để cho hợp đồng kinh tế đợc thực hiện một cách đầy đủ và đúng đòihỏi, các bên phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
- Nguyên tắc chấp hành hiện thực: là chấp hành đúng đối tợng hợp
đồng, không đợc tự ý thay đổi đối tợng này bằng một đối tợng khác hoặckhông đợc thay thế việc thực hiện nó Nguyên tắc này đòi hỏi thoả thuận cáigì thì thực hiện cái đó
- Nguyên tắc chấp hành đúng: là đòi hỏi các bên thực hiện nghĩa vụ củamình một cách đầy đủ, đúng đắn, chính xác, cam kết không phân biệt điềukhoản chủ yếu, điều khoản thờng lệ hay điều khoản tuỳ nghi Nếu vi phạm bất
cứ cam kết nào trong hợp đồng phải chịu trách nhiệm cho hành vi đó
- Nguyên tắc hợp tác: tơng trợ giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở hai bên cùng
có lợi, các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế phải hợp tác chặtchẽ, thờng xuyên theo dõi giúp đỡ lẫn nhau để khắc phục khó khăn nhằm thựcnghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết và ngay cả khi có tranh chấp, các bêncũng phải áp dụng phơng pháp này thông qua việc thơng thuyết giải quyết hậuquả của việc vi phạm hợp đồng kinh tế
2 Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng:
Pháp lệnh HĐKT ngày 25/9/1989 Nghị định số 17/ HĐBT ngày16/01/1990 của Hội đồng bộ trởng qui định chi tiết thi hành pháp lệnh vềHĐKT có nêu ra các biện bảo đảm thực hiện hợp đồng: thế chấp tài sản, cầm
cố tài sản, bảo lãnh tài sản Đây là những biện pháp bảo đảm mang tính chấtkinh tế thờng đợc chủ thể áp dụng
Thế chấp tài sản: là dùng số động sản, bất động sản hoặc giá trị tài sảnkhác thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo tài sản cho việc thực hiện hợp
đồng kinh tế đã ký kết
Việc thế chấp tài sản phải đợc thành lập văn bản và phải có sự xác nhậncủa cơ quan công chứng Nhà nớc hoặc cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinhdoanh (Trờng hợp không có cơ quan công chứng)
Ngời thế chấp tài sản có nghĩa vụ bảo đảm nguyên giá trị của tài sản thếchấp, không đợc chuyển dịnh sở hữu hoặc chuyển giao tài sản đó cho ngờikhác trong văn bản thế chấp còn hiệu lực
Trang 12Cầm cố tài sản: là trao đổi tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho
ng-ời cùng quan hệ HĐKT để làm tin và bảo đản tài sản trong trờng hợp vi phạmHĐKT đã kí kết Việc cầm cố phải thành lập văn bản riêng có chữ ký của cácbên, có sự xác nhận của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền nh trờng hợp thếchấp tài sản
Bảo lãnh tài sản: là sự bảo đảm bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của
ng-ời nhận bảo lãnh để chịu trách nhiệm tài sản thay cho ngng-ời đợc bảo lãnh khingời này vi phạm HĐKT đã ký kết Ngời nhận bảo lãnh phải có tài sản không
ít hơn số tài sản mà ngời đó nhận bảo lãnh Việc bảo lãnh tài sản phải đợc làmthành văn bản, có sự xác nhận của cơ quan công chứng Nhà nớc hoặc cơquan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh Việc sử lý các tài sản thế chấp, cầm
cố, bảo lãnh khi có vi phạm HĐKT đợc thực hiện cùng với việc giải quyếttranh chấp HĐKT tại cơ quan có thẩm quyển Đó là tòa án kinh tế hoặc cáctrung tâm trọng tài kinh tế phi Chính phủ
3 Thay đổi đỉnh chỉ thanh lý hợp đồng kinh tế:
- Thay đổi hợp đồng kinh tế : là việc sửa đổi, bổ sung một số điểm củanội dung của HĐKT cho phù hợp với nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanhcủa các bên hoặc là sự thay đổi chủ thể hợp đồng Khi có sự chuyển giao mộtphần hoặc toàn bộ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh từ một chủ thể hợp đồngkinh tế sang một pháp nhân hay cá nhân có đăng ký kinh doanh
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng kinh tế: là sự chấm dứt nửa chừng việcthực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong HĐKT Khi một bên
vi phạm HĐKT và đã thừa nhận sự vi phạm đó hoặc đã đợc cơ quan, tổ chức,tòa án có thẩm quyền kết luận là có vi phạm, bên bị vị phạm có quyền đơnphơng đình chỉ hợp đồng kinh tế đó, nếu việc tiếp tục thực hiện HĐKT không
có lợi cho mình Hợp đồng kinh tế có thể bị hủy bỏ khi các bên thỏa thuận vớinhau bằng văn bản
- Thanh lý hợp đồng kinh tế : là hành vi của chủ thể HĐKT nhằm kếtthúc quan hệ HĐKT Để đạt đợc mục đích đó, trong quá trình thanh lý HĐKTcác bên phải gặp nhau giải quyết những tồn đọng, đánh giá những kết quả đạt
đợc hoặc cha đạt đợc để xác định quyền và nghĩa vụ các bên, thanh lý hợp
đồng vừa là nghĩa vụ vừa là quyền của các bên
4 Hợp đồng kin tế vô hiệu và xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu :
a Hợp đồng kinh tế vô hiệu toàn bộ:
- Nội dung của HĐKT vi phạm điều cấm của pháp luật