1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TUYỂN CHỌN CHỦNG NẤM Trichoderma spp. PHÂN GIẢI cellulose MẠNH ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI GIỐNG ĐẬU XANH 208 VỤ XUÂN 2011 TẠI HTX HƯƠNG LONG, THÀNH PHỐ HUẾ pptx

12 1,2K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 298,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ủ phân hữu cơ từ rơm rạ với hỗn hợp trên, và so sánh chất lượng phân bón, khả năng phân giải cellulose với công thức không bổ sung và công thức bổ sung chế phẩm VIXURA và chế phẩm chức n

Trang 1

203

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012

TUYỂN CHỌN CHỦNG NẤM Trichoderma spp PHÂN GIẢI cellulose MẠNH

ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI GIỐNG ĐẬU XANH 208 VỤ XUÂN 2011 TẠI HTX

HƯƠNG LONG, THÀNH PHỐ HUẾ

Trần Thị Lệ, Trần Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Xuân Kỳ

Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

Tóm tắt Đề tài đã tuyển chọn được chủng PC6 có khả năng phân giải cellulose từ

43 chủng nấm Trichoderma spp đã được phân lập của Viện Tài nguyên môi trường

và Công nghệ sinh học, Đại học Huế Sau đó chủng nấm Trichoderma PC6 được phối trộn với chất mang là cám: trấu theo tỷ lệ 1:5 với 10 ml nước cất thanh trùng cho 0,5 kg Ủ phân hữu cơ từ rơm rạ với hỗn hợp trên, và so sánh chất lượng phân bón, khả năng phân giải cellulose với công thức không bổ sung và công thức bổ sung chế phẩm VIXURA và chế phẩm chức năng của Viện vi sinh vật và Công nghệ sinh học, Đại học quốc gia Hà Nội Kết quả thí nghiệm cho thấy công thức bổ sung chế phẩm của Viện vi sinh vật Đại học Quốc gia Hà Nội (công thức II) cho chất lượng phân tốt nhất Sau đó chúng tôi thử nghiệm ảnh hưởng của 3 loại phân này với lượng thay thế phân chuồng khác nhau (0, 50, 60 và 100%) trên giống Đậu xanh cao sản 208 tại HTX Hương Long, thành phố Huế Kết quả cho thấy phân hữu cơ vi sinh được ủ với chế phẩm của Viện vi sinh vật và Công nghệ sinh học với lượng thay thế phân chuồng 60% cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn so các loại phân hữu cơ vi sinh và các mức thay thế còn lại, năng suất lý thuyết

và năng suất thực thu đạt tương ứng là 17,27 tạ/ha và 12,44 tạ/ha

1 Đặt vấn đề

Trong sản xuất nông nghiệp, phân bón có một vai trò quan trọng quyết định cả

về chất lượng và sản lượng thu hoạch Nền nông nghiệp với việc tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh trong canh tác cây trồng đang là xu hướng rất được quan tâm ở Việt Nam và trên thế giới Ở miền Trung đất đai kém màu mỡ và chủ yếu là đất đồi núi

Ở khu vực này cây trồng hầu như không có phân hữu cơ để bón, nên đất đai càng ngày càng bị thoái hóa nghiêm trọng Vì vậy, việc sản xuất phân hữu cơ vi sinh có bổ sung

các chế phẩm vi sinh và thử nghiệm bổ sung Trichoderma nhằm sử dụng các nguồn phế

phụ phẩm nông nghiệp tại chỗ có ý nghĩa rất quan trọng, hướng tới một nền nông nghiệp hữu cơ, sinh thái bền vững, tăng thu nhập, giảm chi phí đầu tư và thân thiện với môi trường

Trang 2

2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1.Vật liệu nghiên cứu

Các chủng nấm Trichoderma spp đã phân lập tại viện Tài nguyên môi trường và

Công nghệ sinh học thuộc Đại học Huế năm 2009 Hai loại chế phẩm của Viện vi sinh vật - Công nghệ sinh học (Viện VSV-CNSH), Đại học Quốc gia Hà Nội: chế phẩm VIXURA và chế phẩm chức năng

Rơm rạ sau khi thu hoạch, phân chuồng, NPK và giống đậu xanh cao sản 208

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Xác định chủng nấm Trichoderma spp phân giải cellulose mạnh

Thí nghiệm được thực hiện ở Viện Tài nguyên môi trường và Công nghệ sinh

học, Đại học Huế Các chủng nấm Trichoderma spp được nuôi cấy trong đĩa petri trên

môi trường cảm ứng cellulase [2], ở nhiệt độ 180C trong khoảng thời gian từ 48 giờ đến

56 giờ rồi dùng lugol làm thuốc nhuộm để đo vòng phân giải Khi chọn được chủng

nấm Trichoderma PC6 chúng tôi tiến hành tạo hỗn hợp nấm với chất mang là cám:

trấu với tỷ lệ 1:5 với 10 ml nước cất thanh trùng cho 0,5 kg Tiến hành nuôi ở nhiệt

độ phòng thí nghiệm và sau 6 ngày đếm số lượng bào tử, kết quả thu được là: 4,067x108 CFU/g, phù hợp với tiêu chuẩn về chế phẩm vi sinh (>108 CFU/g) của Công ty TNHH vi sinh môi trường [3]

2.2.2 Thí nghiệm ủ phân hữu cơ từ rơm rạ có sử dụng và không sử dụng chế phẩm sinh học

Thí nghiệm gồm 3 công thức (I: Không bổ sung chế phẩm, II: Ủ với chế phẩm của

Viện VSV-CNSH, III: Ủ với hỗn hợp Trichoderma PC6).được thực hiện ở phòng thí

nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

2.2.3 Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ tạo ra đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu xanh 208 trên đất phù sa hợp tác xã Hương Long, thành phố Huế

Thí nghiệm gồm 8 công thức 3 lần nhắc lại được bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCB) Lượng phân bón/ha ở các công thức cụ thể như sau:

Công thức I (Đ/C): Nền + 5 tấn phân chuồng

Công thức II: Nền + 2 tấn phân chuồng + 3 tấn phân ủ II

Công thức III: Nền + 2,5 tấn phân chuồng + 2,5 tấn phân ủ II

Công thức IV: Nền + 5 tấn phân ủ II

Công thức V: Nền + 2 tấn phân chuồng + 3 tấn phân ủ III

Công thức VI: Nền + 2,5 tấn phân chuồng + 2,5 tấn phân ủ III

Trang 3

205

Công thức VII: Nền + 2 tấn phân chuồng + 3 tấn phân ủ I

Công thức VIII: Nền + 2,5 tấn phân chuồng + 2,5 tấn phân ủ I

Nền gồm: 30 kg N + 60 kg P2O5 + 50 kg K2O + 500 kg vôi cho 1 ha

3 Kết quả và thảo luận

3.1 Tuyển chọn chủng nấm Trichoderma spp phân giải cellulose mạnh

0

5,000

10,000

15,000

20,000

25,000

30,000

Chủng nấm trichoderma spp.

48 giờ

56 giờ

Hình 1 Kích thước vòng phân giải của 5 chủng nấm Trichoderma spp

Qua kết quả ở hình 1 cho thấy ở cả năm chủng nấm Trichoderma spp đều tăng

kích thước vòng phân giải khi tăng thời gian nuôi từ 48 giờ lên 56 giờ, nhưng kích thước tăng lên không đều nhau Ở thời gian theo dõi là 48 giờ kích thước vòng phân giải của chủng PC6 lớn nhất đạt 18,33 mm, thấp nhất chủng PC15 chỉ đạt 8,67 mm Ở thời gian theo dõi là 56 giờ chủng PC6 đạt cao nhất với kích thước vòng phân giải là 25,33

mm và thấp nhất vẫn là chủng CH1 đạt 13,67 mm

3.2 Thí nghiệm ủ phân hữu cơ từ rơm rạ có sử dụng và không sử dụng chế phẩm sinh học

Chúng tôi đánh giá hiệu quả của quá trình phân giải chất hữu cơ thông qua đánh giá hàm lượng cellulose của phân ủ và chất lượng phân ủ

Qua bảng 1 chúng ta thấy trước khi bổ sung chế phẩm thì các công thức thí nghiệm có hàm lượng cellulose tương đương nhau Khi kết thúc ủ, ở cả 3 công thức, hàm lượng cellulose giảm xuống và dao động từ 22,77% đến 28,12% Như vậy, trong quá trình ủ phân, vi sinh vật có sẵn trong rơm rạ và được bổ sung thêm đã phân hủy cellulose làm cho hàm lượng cellulose giảm đáng kể Trong đó, công thức II ủ với chế phẩm của Viện VSV-CNSH có hàm lượng cellulose nhỏ hơn so với công thức I và III và

Trang 4

sai khác có ý nghĩa thống kê với 2 công thức ủ còn lại

Bảng 1 Ảnh hưởng của các chế phẩm sinh học đến khả năng phân giải cellulose và chất lượng

phân bón

Hàm lượng cellulose (%) Chất lượng phân bón (%)

số

P 2 O 5 tổng số

K 2 O tổng số

I Ủ với VSV tự nhiên 30,43a 28,12a 0,90 0,45 0,62

II Ủ với chế phẩm Viện

VSV-CNSH

(ĐHQG, Hà Nội)

30,31a 22,77b 1,30 0,35 0,35

III Ủ với Trichoderma

a

26,28a 1,27 0,39 0,96

(Chú ý: Các công thức giống nhau biểu thị cùng một chữ cái Các chữ cái khác nhau biểu thị sự sai khác nhau ở mức 0,05)

Theo kết quả phân tích chất lượng phân hữu cơ vi sinh từ rơm rạ của nhóm tác giả Trần Thị Anh Thư, Trần Thị Ngọc Sơn, Nguyễn Ngọc Nam, Lưu Hồng Mẫn hàm lượng đạm, lân, kali tổng số đạt tương ứng là: 1,15%; 0,29%; 3,59% [4] Hàm lượng nitơ tổng số ở công thức II và III đều cao hơn kết quả của nhóm tác giả trên, tương ứng là 1,30 và 1,27% Tương tự, hàm lượng lân tổng số của cả 3 công thức ủ đều cao hơn so với kết quả của nhóm tác giả trên; trong đó, cao nhất là ở công thức I (0,45%), tiếp đến công thức III (0,39%) và công thức II (0,35%) Tuy nhiên, so với kết quả của nhóm tác giả trên thì hàm lượng kali tổng số ở cả 3 công thức đều ở mức thấp, trong đó ở công thức III có hàm lượng cao nhất (0,96%)

3.3 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ tạo ra đến sinh trưởng, phát triển

và năng suất giống đậu xanh 208 trên đất phù sa hợp tác xã Hương Long, thành phố Huế

3.3.1 Ảnh hưởng của các loại phân và lượng bón đến chiều cao thân chính của giống đậu xanh 208 qua các thời kỳ

Chiều cao cây của các giống đậu xanh tăng dần theo sự sinh trưởng và phát triển của cây và đạt lớn nhất vào thời kỳ thu hoạch Ở cùng một thời kỳ sinh trưởng cùng một lượng phân chuồng và lượng phân hữu cơ vi sinh như nhau, nhưng phân được ủ với các nguồn vi sinh vật khác nhau thì chiều cao cây đậu xanh có sự sai khác nhau có ý nghĩa

về mặt thống kê

Trang 5

207

Bảng 2 Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây đậu xanh ở các thời kỳ của các công thức

thí nghiệm (cm)

I 100% phân chuồng 19,67b 36,54a 41,47b 53,33b

IV Thay 100% phân ủ II 20,45a 36,96a 44,88a 55,79a

II Thay 60% phân ủ II 21,37a 36,72a 43,04a 56,75b

V Thay 60% phân ủ III 20,12b 36,57ab 42,89a 55,80c VII Thay 60% phân ủ I 19,91b 36,87b 42,98a 57,61a

III Thay 50% phân ủ II 21,81a 38,07a 45,92a 58,33a

VI Thay 50% phân ủ III 20,93b 36,58c 42,76c 56,12c VIII Thay 50% phân ủ I 20,35c 36,89b 43,48b 57,12b

(Chú ý: Các công thức giống nhau biểu thị cùng một chữ cái Các chữ cái khác nhau biểu thị sự sai khác nhau ở mức 0,05)

Ở thời kỳ phân cành chiều cao cây đậu xanh dao động từ 19,67 cm đến 21,81 cm Trong đó, các công thức bón với lượng thay thế 50% và 60% phân chuồng bằng phân hữu cơ vi sinh có chiều cao biến động không đáng kể, tuy nhiên ảnh hưởng của các loại phân ủ khác nhau đến chiều cao cây có sự sai khác có ý nghĩa thống kê

Ở thời kỳ tạo quả chiều cao cây giữa các công thức biến động từ 53,33 cm đến 58,33 cm Chiều cao cây cao nhất là công thức III (58,33 cm) và thấp nhất là công thức

I (53,33 cm) Ở cùng một tỷ lệ thay thế là 50% phân ủ thì có sự sai khác có ý nghĩa thống kê các loại phân hữu cơ vi sinh, trong đó thì phân được bổ sung chế phẩm của Viện vi sinh vật Đại học Quốc gia Hà Nội đạt chỉ số cao nhất

Trang 6

3.3.2 Ảnh hưởng của các loại phân và lượng bón đến sự ra hoa của giống đậu xanh 208

Bảng 3 Ảnh hưởng của phân bón đến sự ra hoa của đậu xanh ở các công thức thí nghiệm

hoa (ngày)

Tổng số hoa (hoa/cây)

Tỷ lệ hoa hữu hiệu (%)

I 100% phân chuồng 18,43a 20,03b 40,12a

III Thay 50% phân ủ II 17,26b 27,03b 34,66a

VI Thay 50% phân ủ III 16,30c 25,20c 32,87b VIII Thay 50% phân ủ I 17,83a 28,23a 31,23c

(Chú ý: Các công thức giống nhau biểu thị cùng một chữ cái Các chữ cái khác nhau biểu thị sự sai khác nhau ở mức 0,05)

Thời gian ra hoa của đậu xanh biến động từ 16,33 ngày đến 18,43 ngày, trong đó công thức I là công thức có thời gian ra hoa dài nhất (18,43 ngày) và sai khác có ý nghĩa thống kê với các công thức còn lại Ở lượng thay thế 60% phân chuồng bằng phân hữu

cơ vi sinh thì loại phân ủ có bổ sung chế phẩm của Viện vi sinh vật, Đại học Quốc gia

Hà Nội (công thức II) có thời gian ra hoa ngắn hơn có ý nghĩa thông kê so với các công thức còn lại (công thức V và VII)

Tổng số hoa/cây cũng có sự thay đổi theo lượng thay thế phân chuồng và các loại phân ủ khác nhau Trong đó, công thức II (thay 60% phân ủ II) là công thức có tổng

số hoa lớn nhất đạt 29,96 hoa/cây và công thức I (100% phân chuồng) có số hoa thấp nhất (20,03 hoa/cây)

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ hoa hữu hiệu biến động từ 31,23% đến 40,12% Tuy nhiên, tỷ lệ này tương đối thấp là do có mưa to vào thời gian nở hoa

Trang 7

209

3.3.3 Ảnh hưởng của các loại phân và lượng bón đến một số sâu bệnh hại giống đậu xanh 208

Bảng 4 Ảnh hưởng của phân bón đến một số sâu bệnh hại của cây đậu xanh

ở các công thức thí nghiệm

Công thức Bệnh héo rũ cây con (điểm) Sâu đục quả (%)

Qua theo dõi chúng tôi nhận thấy ở các công thức đều xuất hiện bệnh héo rũ, nhưng ở mức nhẹ (điểm 1 đến điểm 2) Ở các công thức bón phân ủ bằng chế phẩm của

Viện VSV-CNSH, ĐH Quốc gia Hà Nội và ủ bằng Trichoderma spp có tỷ lệ bệnh ít hơn

Sâu đục quả (Eitiella zinkenela) cũng xuất hiện ở các công thức với tỷ lệ hại từ

12,0% đến 23,0% Tỷ lệ hại cao nhất (23%) là ở công thức bón 100% phân chuồng Các công thức có sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh đều có tỷ lệ hại thấp hơn so Sở dĩ có sự sai khác như vậy là vì ở các loại phân hữu cơ vi sinh thì thành phần các loài vi sinh vật rất phong phú về chủng loại, trong đó có cả những loài tác động giúp cây sinh trưởng và chống chịu tốt hơn với sâu bệnh hại Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở lượng thay thế bằng 60% phân hữu cơ vi sinh (công thức II) và bổ sung chế phẩm của Viện VSV-CNSH, ĐHQG Hà Nội có tỷ lệ sâu đục quả thấp nhất (12%)

3.3.4 Ảnh hưởng của các loại phân và lượng bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống đậu xanh 208

Bảng 5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đậu xanh ở các công thức thí nghiệm

Công

thức

Tổng số

quả

(quả/cây)

Số quả chắc (quả/cây)

Số hạt chắc (hạt/quả)

P100 quả (g)

P1000 hạt (g)

NSLT (tạ/ha)

NSTT (tạ/ha)

I 13,23f 8,00e 7,05h 119,50f 56,22b 9,05f 7,83e

IV 14,13e 8,26e 7,68g 125,50e 52,44e 9,25f 7,77e

Trang 8

II 16,66a 10,50a 11,07a 138,83a 53,44d 17,27a 12,44a

V 15,70bc 9,96b 8,61e 126,17de 55,88b 13,32c 10,77b VII 15,90b 8,93d 8,04f 120,50f 57,77a 11,52e 10,05c III 15,53c 9,36c 10,69b 131,17c 52,66e 14,63b 11,00b

VI 14,63d 8,26e 9,55c 134,00b 51,44f 11,27e 9,44d VIII 14,63d 8,80d 9,17d 127,83d 54,33c 12,18d 9,16d LSD0,05 0,29 0,38 0,10 2,15 0,46 0,62 0,55

(Chú ý: Các công thức giống nhau biểu thị cùng một chữ cái Các chữ cái khác nhau biểu thị sự sai khác nhau ở mức 0,05)

Qua bảng 5 chúng tôi có nhận xét: Việc bón phân hữu cơ vi sinh thay thế phân chuồng đã có ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất như: tổng số quả trên cây,

số quả chắc trên cây, số hạt chắc trên quả, khối lượng 100 quả, khối lượng 1000 hạt và tăng NSLT và NSTT so với công thức I (bón 100% phân chuồng)

Tổng số quả trên cây: Biến động từ 13,23 đến 16,66 quả Công thức II có tổng

số quả trên cây nhiều nhất (16,66 quả), sở dĩ như vậy vì công thức II có tổng số hoa nhiều nhất (29,96 hoa/cây), ra hoa tập trung (16,33 ngày) và tỷ lệ sâu đục quả thấp nhất (12%)

Số quả chắc/cây: Ở các công thức dao động từ 8,00 - 10,50 quả, cao nhất là công

thức II (10,50 quả chắc/cây), vì ở công thức này có tổng số hoa trên cây và tỷ lệ hoa hữu hiệu đạt cao nhất (37,42 %)

Số hạt chắc trên quả: là một chỉ số tương đối quan trọng như số quả chắc trên

cây, ở thí nghiệm này thì số hạt chắc/quả lớn nhất là công thức II (11,07 hạt) và thấp nhất là công thức I (7,05 hạt)

Khối lượng P100 quả và khối lượng 1000 hạt: Khối lượng 100 quả dao động từ

119,50 đến 138,83 gam và khối lượng 1000 hạt biến động từ 51,44 – 57,77 g Công thức

II có P100 quả lớn nhất (138,83 gam), tuy nhiên, khối lượng 1000 hạt chỉ đạt 53,44g

Năng suất lý thuyết: Qua bảng 5 thấy công thức II có số quả chắc, số hạt chắc và

khối lượng 100 quả lớn nhất so với các công thức khác cho nên năng suất lý thuyết lớn nhất đạt 17,27 tạ/ha sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê với các công thức còn lại Công thức có cùng một mức phân chuồng và thay đổi loại phân hữu cơ vi sinh thì phân bón với việc bổ sung chế phẩm của Viện vi sinh vật Đại học Quốc Gia Hà Nội đều có kết quả cao hơn so với 2 loại phân còn lại Công thức đối chứng có năng suất thực thu thấp nhất chỉ đạt 9,05 tạ/ha

Trang 9

211

0 5,000 10,000 15,000 20,000

Công thức

NSLT NSTT

Hình 4 Năng suất đậu xanh ở các công thức thí nghiệm

Năng suất thực thu: Đây là kết quả cuối cùng để đánh giá hiệu quả của việc

phun các loại phân bón lá khác nhau, là năng suất thực có được sau mùa thu hoạch Năng suất thực thu dao động từ 7,77 đến 12,44 tạ/ha Trong đó công thức II đạt năng suất cao nhất và sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê so với các công thức còn lại

Cùng một loại phân hữu cơ vi sinh khi mà tăng hàm lượng thay thế phân chuồng lên 60% thì cho năng suất thực thu cao hơn so với hàm lượng thay thế 50% Biểu hiện là công thức II bón với hàm lượng thay thế phân chuồng bằng phân hữu cơ vi sinh là 60% cho năng suất cao 12,44 tạ/ha cao hơn so với công thức III bón với hàm lượng thay thế phân chuồng bằng phân hữu cơ vi sinh là 50% đạt 11,00 tạ/ha

Tùy vào loại vi sinh vật bổ sung vào để ủ phân hữu cơ vi sinh cũng làm thay đổi năng suất thực thu của đậu xanh Với cùng mức phân chuồng là 2 tấn/ha khi thay đổi loại phân hữu cơ vi sinh, phân có bổ sung chế phẩm của Viện vi sinh vật Đại học Quốc gia Hà Nội cho năng suất lớn hơn so với công thức có bón phân hữu cơ bổ sung vi sinh

vật tự nhiên và nấm Trichoderma spp của Viện Tài nguyên và Công nghệ sinh học -

Đại học Huế cung cấp Kết quả thu được như vậy vì chế phẩm của Viện Vi sinh vật Đại học Quốc gia Hà Nội có bổ sung nhiều loại vi sinh vật như thế sẽ hạn chế được các yếu

tố có hại cho cây và làm cho cây hấp thu dinh dưỡng tốt hơn

Tóm lại, thành phần các chất dinh dưỡng chứa trong các loại phân bón hữu cơ vi sinh đã bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho đậu xanh tạo điều kiện cho đậu xanh sinh trưởng, phát triển tốt và nâng cao được năng suất Để thấy rõ sự ảnh hưởng của phân bón lá đến năng suất chúng tôi minh họa bằng hình 4

Với mức phân chuồng là 2 tấn/ha khi thay đổi loại phân hữu cơ vi sinh với lượng

3 tấn /ha thì công thức bón với phân tạo ra từ chế phẩm Viện vi sinh vật Đại học Quốc Gia Hà Nội cho kết quả lớn nhất cả về tổng số quả và số quả chắc trên cây so với 2 công thức còn lại Vì chế phẩm đó bổ sung đầy đủ các loại vi sinh vật hữu ích còn 2 công

Trang 10

thức còn lại công thức VIII chỉ bổ sung vi sinh vật tự nhiên và công thức V bổ sung thêm nấm Trichoderma Với mức phân chuồng là 2,5 tấn/ha và khi thay đổi loại phân hữu cơ vi sinh cũng thu được kết quả thay đổi như trên nhưng mà lại thấp hơn so với các công thức được bón với hàm lượng thay thế là 60% phân chuồng bằng phân hữu cơ

vi sinh được thể hiện ở bảng 5

3.3.5 Hiệu quả kinh tế của các loại phân và lượng bón đối với giống đậu xanh

208

Để đánh giá khả năng ứng dụng các loại phân hữu cơ vi sinh đối với cây trồng nói chung và giống đậu xanh 208 nói riêng, thì việc đánh giá hiệu quả kinh tế là rất cần thiết

Bảng 6 Hiệu quả kinh tế của các loại phân bón lá cho giống đậu xanh 208

Chi phí (1000 đồng/ha) Công

thức Giống

Phân hóa học

Phân chuồng

Phân hữu

cơ vi sinh

Công chăm sóc

Tổng chi (1000 đồng/ha)

NSTT (tạ/ha)

Tổng thu (1000 đồng/ha)

Lãi (1000 đồng/ha)

I 640 1020 500 0 400 2.560 7,833 23.499 20.939

IV 640 1020 0 4550 400 6.610 7,778 23.334 16.724

II 640 1020 200 2730 400 4.990 12,444 37.332 32.342

V 640 1020 200 2370 400 4.630 10,778 32.334 24.047 VII 640 1020 200 2100 400 4.360 10,056 30.168 25.808 III 640 1020 250 2275 400 4.585 11,000 33.000 28.415

VI 640 1020 250 1975 400 4.285 9,444 28.332 25.647 VIII 640 1020 250 1750 400 4.060 9,167 27.501 23.441 Qua bảng 6 ta thấy:

Khi thay thế phân chuồng bằng một phần phân hữu cơ vi sinh áp dụng trên đậu xanh tại HTX Kim Long, Thừa Thiên Huế cho năng suất thực thu hầu hết cao hơn so với bón toàn bộ phân chuồng từ 1,334 tạ/ha đến 6,611 tạ/ha Trong đó, công thức thay thế toàn bộ phân chuồng bằng phân hữu cơ vi sinh cho năng suất thực thu thấp hơn so với đối chứng, dẫn đến lãi thấp nhất chỉ đạt 16.724.000 đồng, do là khi thay thế toàn bộ phân chuồng bằng phân hữu cơ vi sinh thì làm cho chi phí bỏ ra lớn cho nên hiệu quả thu lại thấp Công thức II với phân hữu cơ vi sinh được bổ sung chế phẩm của Viện VSV-CNSH, Đại học Quốc gia Hà Nội cho lãi cao nhất 32.342.000 đồng/ha

4 Kết luận

Ngày đăng: 03/04/2014, 06:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Kích thước vòng  phân giải của 5 chủng nấm Trichoderma spp. - TUYỂN CHỌN CHỦNG NẤM Trichoderma spp. PHÂN GIẢI cellulose MẠNH ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI GIỐNG ĐẬU XANH 208 VỤ XUÂN 2011 TẠI HTX HƯƠNG LONG, THÀNH PHỐ HUẾ pptx
Hình 1. Kích thước vòng phân giải của 5 chủng nấm Trichoderma spp (Trang 3)
Bảng 1. Ảnh hưởng của các chế phẩm sinh học đến khả năng phân giải cellulose và  chất lượng - TUYỂN CHỌN CHỦNG NẤM Trichoderma spp. PHÂN GIẢI cellulose MẠNH ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI GIỐNG ĐẬU XANH 208 VỤ XUÂN 2011 TẠI HTX HƯƠNG LONG, THÀNH PHỐ HUẾ pptx
Bảng 1. Ảnh hưởng của các chế phẩm sinh học đến khả năng phân giải cellulose và chất lượng (Trang 4)
Bảng 2. Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây đậu xanh ở các thời kỳ  của các công thức - TUYỂN CHỌN CHỦNG NẤM Trichoderma spp. PHÂN GIẢI cellulose MẠNH ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI GIỐNG ĐẬU XANH 208 VỤ XUÂN 2011 TẠI HTX HƯƠNG LONG, THÀNH PHỐ HUẾ pptx
Bảng 2. Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây đậu xanh ở các thời kỳ của các công thức (Trang 5)
Bảng 3. Ảnh hưởng của phân bón đến sự ra hoa của đậu xanh ở các công thức thí nghiệm - TUYỂN CHỌN CHỦNG NẤM Trichoderma spp. PHÂN GIẢI cellulose MẠNH ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI GIỐNG ĐẬU XANH 208 VỤ XUÂN 2011 TẠI HTX HƯƠNG LONG, THÀNH PHỐ HUẾ pptx
Bảng 3. Ảnh hưởng của phân bón đến sự ra hoa của đậu xanh ở các công thức thí nghiệm (Trang 6)
Bảng 5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đậu xanh ở các công thức thí nghiệm - TUYỂN CHỌN CHỦNG NẤM Trichoderma spp. PHÂN GIẢI cellulose MẠNH ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI GIỐNG ĐẬU XANH 208 VỤ XUÂN 2011 TẠI HTX HƯƠNG LONG, THÀNH PHỐ HUẾ pptx
Bảng 5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đậu xanh ở các công thức thí nghiệm (Trang 7)
Hình 4. Năng suất đậu xanh ở các công thức thí nghiệm - TUYỂN CHỌN CHỦNG NẤM Trichoderma spp. PHÂN GIẢI cellulose MẠNH ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI GIỐNG ĐẬU XANH 208 VỤ XUÂN 2011 TẠI HTX HƯƠNG LONG, THÀNH PHỐ HUẾ pptx
Hình 4. Năng suất đậu xanh ở các công thức thí nghiệm (Trang 9)
Bảng 6. Hiệu quả kinh tế của các loại phân bón lá cho giống đậu xanh 208 - TUYỂN CHỌN CHỦNG NẤM Trichoderma spp. PHÂN GIẢI cellulose MẠNH ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI GIỐNG ĐẬU XANH 208 VỤ XUÂN 2011 TẠI HTX HƯƠNG LONG, THÀNH PHỐ HUẾ pptx
Bảng 6. Hiệu quả kinh tế của các loại phân bón lá cho giống đậu xanh 208 (Trang 10)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w