®¹i häc quèc gia hµ néi khoa luËt nguyÔn thÞ v©n b¶o hé nh n hiÖu næi tiÕng theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt viÖt nam luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc Hµ néi 2010 ®¹i häc quèc gia hµ néi khoa luËt nguyÔn thÞ v©n[.]
Trang 1đại học quốc gia hà nội
khoa luật
nguyễn thị vân
bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
theo quy định của pháp luật việt nam
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2010
Trang 2đại học quốc gia hà nội
khoa luật
nguyễn thị vân
bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
theo quy định của pháp luật việt nam
Trang 3MỤC LỤC
Trang
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG
1.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng 6
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp 61.1.1
1.1.1
1.1.1
1.1.2 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng 131.1.2
4 Phân biệt nhãn hiệu nổi tiếng với nhãn hiệu thường 20
1.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp 21
luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu
Trang 4nổi tiếng trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp 21
luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu
nổi tiếng trên thế giới
Trang 51.2.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp 29
luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu
nổi tiếng tại Việt Nam
1.3 Vai trò của việc bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với nhãn 31
hiệu nổi tiếng
1.3.1 Vai trò của nhãn hiệu nổi tiếng đối với doanh nghiệp 321.3.2 Vai trò của nhãn hiểu nổi tiếng đối với người tiêu dùng 331.3.3 Vai trò của nhãn hiệu nổi tiếng đối với nền kinh tế trong xu 34
thế hội nhập
Chương 2: NHỮNG QUI ĐỊNH VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU 36
CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1 Điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu 362.1.1 Những dạng dấu hiệu được bảo hộ 372.1.2 Điều kiện về khả năng phân biệt của nhãn hiệu 392.1.2
1 Khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu 432.1.2
2 Khả năng phân biệt thông qua sử dụng 452.1.2
3 Khả năng phân biệt với một số đối tượng khác của quyền sở 46
hữu trí tuệ
2.2 Tiêu chuẩn bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng 47
2.2.1 Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu 50
thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch
vụ mang
nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo
2.2.2 Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn 51
Trang 6hiệu đã
được lưu hành
2.2.3 Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịchvụ mang 52
nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng
Trang 72.2.4 Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu 532.2.5 Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu 542.2.6 Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu 552.2.7 Số lượng quốc gia công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng 552.2.8 Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị 56
góp vốn đầu tư của nhãn hiệu
2.3 Căn cứ phát sinh, phạm vi bảo hộ, thời hạn bảo hộ quyền sở 60
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng
2.3.1 Căn cứ phát sinh quyền sở hữu công nghiệp đối vớinhãn 60
hiệu nổi tiếng
2.3.2 Phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 62
nổi tiếng
2.3.3 Thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn 64
hiệu nổi tiếng
2.4 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với hữu nhãn hiệu 65
nổi tiếng
2.4.1 Quyền sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng 652.4.2 Quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu nổitiếng 662.4.3 Quyền yêu cầu xử lý các hành vi xâm phạm 692.5 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệunổi tiếng 712.5.1 Xác định hành vi xâm phạm đối với nhãn hiệu nổi tiếng 71
2.5.2 Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công 78
nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng
Trang 82.5.2
2 Biện pháp hành chính, hình sự và kiểm soát hàng hóa xuất, 87
nhập khẩu qua biên giới
Trang 9Chương 3: THỰC TRẠNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG Ở VIỆT NAM
3.1 Thực trạng bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam 95
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện qui định của pháp luật 101
Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu nổi tiếng
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện nay, việc bảo hộ các sản phẩm sở hữutrí tuệ là một đòi hỏi bức thiết, khách quan và công bằng Nókhông chỉ bảo vệ các quyền của chủ sở hữu - người sáng tạo racác sản phẩm sở hữu trí tuệ mà còn góp phần thúc đẩy sức laođộng sáng tạo để xã hội phát triển
Trong vài năm trở lại đây, có rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếngthế giới đã được đưa vào thị trường Việt Nam và trở thành nhãnhiệu quen thuộc của người tiêu dùng trong nước như nước giảikhát Pepsi, Coca Cola, xe hơi Ford, Toyota, sản phẩm thờitrang Gucci, CK… Những nhãn hiệu này đã và đang đóng vaitrò to lớn trong sự phát triển chung của nền kinh tế quốc gia,đòi hỏi chúng ta cần phải có một cách nhìn nhận đúng đắn và
có sự quan tâm cần thiết đến việc bảo hộ đối tượng này mộtcách hiệu quả và kịp thời trên thực tế
Cũng trong thời gian qua, các vụ tranh chấp, vi phạm về
sở hữu công nghiệp, trong đó có cả các tranh chấp, vi phạm vềnhãn hiệu nổi tiếng xảy ra ngày càng nhiều, thường kéo dài vàkhó giải quyết đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc kinhdoanh, lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, gây thiệt hại chongười tiêu dùng, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
Việt Nam là một quốc gia đang từng bước đi vào nền kinh
tế thị trường, từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới Dovậy, việc bảo hộ nhãn hiệu nhất là nhãn hiệu nổi tiếng đóng mộtvai trò quan trọng trong tiến trình hội nhập Hơn nữa, Việt Nam
là thành viên của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp
Trang 12và đang thực hiện các quy định của Hiệp định TRIPS/WTO chonên sẽ trở thành một thị trường hấp dẫn đối với các doanhnghiệp nước ngoài Và một thực tế trước mắt mà bất cứ ai cũng
có thể nhìn thấy là sẽ có rất nhiều các nhãn hiệu hàng hoá vàdịch vụ nổi tiếng thế giới
Trang 13xuất hiện trên thị trường Việt Nam Nhu cầu về hoàn thiện hệthống pháp luật về nhãn hiệu nổi tiếng sẽ càng cần hơn bao giờhết Chúng ta cần phải có những động thái cụ thể và hiệu quảhơn trong công tác lập pháp cũng như trong quá trình áp dụngpháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng để tạo lập môi trườngpháp lý an toàn nhằm tạo sự tin cậy và an tâm đối với các nhàđầu tư nước ngoài.
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của vấn đềnày đối với sự phát triển của đất nước và hội nhập kinh tế củaViệt Nam trong giai đoạn hiện nay, tác giả đã mạnh dạn lựa
chọn đề tài "Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của
pháp luật Việt Nam" với mong muốn có cơ hội tìm hiểu,
nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn
áp dụng, từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoànthiện pháp luật trong nước về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng để phùhợp với tình hình mới
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung cũng nhưbảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng đang thu hút được sự quan tâmnghiên cứu của nhiều cơ quan, ban ngành, các nhà khoa họccũng như các cơ sở đào tạo luật Đã có rất nhiều các cuộc hộithảo được tổ chức liên quan đến vấn đề này như: Hội thảo vềhiệp định TRIPS, Hội thảo về các đối tượng sở hữu công nghiệpmới ở Việt Nam… Nhiều bài viết, giáo trình, công trình khoa học
như: "Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ" của tập thể tác giả do TS.
Phùng Trung Tập chủ biên, NXB Công an nhân dân năm 2008;
"Quyền sở hữu trí tuệ" của Lê Nết, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 2006; "Các qui định của pháp luật về sở hữu
công nghiệp" NXB chính trị quốc gia 2001…
Trang 14Nhãn hiệu nổi tiếng được đề cập ở các mức độ khác nhau
trong các tạp chí của một số tác giả như: "Bảo hộ nhãn hiệu nổi
tiếng theo pháp luật Châu Âu và Hoa Kỳ" của ThS Phan Ngọc
Tâm, (Tạp chí khoa học pháp lý, số 4/2006); "Một số vấn đề về
nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng" của Nguyễn
Trang 15Như Quỳnh, (Tạp chí Luật học số 2/2001); "Về vấn đề bảo hộ
nhãn hiệu nổi tiếng" của Trần Việt Hùng, (Tạp chí hoạt động
khoa học số 11/2007) Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Minh Hằng (2008): "Một số vấn đề về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
trong pháp luật Việt Nam".
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, các bài viết trênchỉ đề cập đến việc bảo hộ nhãn hiệu thông thường ở trongnước, hoặc đã có sự so sánh việc bảo hộ nhãn hiệu với một sốnước phát triển trên thế giới mà chưa có một công trình nghiêncứu ở cấp độ thạc sĩ phân tích một cách có hệ thống việc bảo hộnhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của pháp luật hiện hành.Trong giai đoạn hội nhập hiện nay, bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếngđóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế Do đó,tính cấp thiết và ý nghĩa khoa học thực tiễn của luận văn nàyhoàn toàn có tính thời sự Luận văn chỉ ra quy định của phápluật cũng như thực tiễn áp dụng đồng thời có sự liên hệ bảo hộnhãn hiệu nổi tiếng ở một số nước trên thế giới Từ đó nhằmhoàn thiện khung pháp luật và cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổitiếng, góp phần bảo vệ doanh nghiệp, nhà đầu tư, bảo vệ ngườitiêu dùng và góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội
Đề tài "Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của pháp luật
Việt Nam" là một đề tài độc lập, mang tính thời sự Tuy nhiên, điều
này không có nghĩa là đề tài không có sự kế thừa mà ngược lại, để hoàn thành luận văn này, tác giả phải sưu tầm, học hỏi kiến thức cũng như kinh nghiệm trong các công trình khoa học có liên quan
đã công bố và các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành.
3 Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là những vấn đề
lý luận và thực tiễn việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo quy
Trang 16định của pháp luật Việt Nam, đồng thời có sự tham khảo bảo hộnhãn hiệu nổi tiếng của một số nước trên thế giới.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở kế thừa
và phát triển các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trướclàm rõ nội dung các quy
Trang 17định pháp luật trong nước về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, kết hợpvới thực tiến và có liên hệ với một số nước, từ đó đánh giá, đưa ranhững kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việcbảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam.
4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng vàNhà nước ta về quyền sở hữu công nghiệp, cũng như các thànhtựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch sử phápluật, lý luận về nhà nước và pháp luật, luật Dân sự, luật Sở hữutrí tuệ, triết học, những luận điểm khoa học trong các côngtrình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trêntạp chí của các nhà khoa học
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là sử dụng kết
hợp các phương pháp như: phương pháp lịch sử cụ thể, phươngpháp luật học so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê Đồngthời, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào các văn bản pháp luậtcủa Nhà nước, các Hiệp định cũng như các thông tin trên mạngInternet
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách tổng thể những quy địnhcủa pháp luật hiện hành về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng và Điều ướcquốc tế có liên quan, đồng thời có tham khảo pháp luật của một
số nước trên thế giới về lĩnh vực này
6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Từ mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn tập trung vàogiải quyết những vấn đề sau:
Trang 181) Phân tích và đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng
2) Phân tích và đánh giá những qui định của pháp luật vềbảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng
Trang 193) Tìm hiểu thực trạng bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở ViệtNam, từ đó xem xét tính phù hợp, hiệu quả của những quyđịnh đó, đồng thời đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện phápluật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu nổi tiếng
Chương 2: Những quy định về bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của pháp luật Việt Nam
Chương 3: Thực trạng bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng và kiến
nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam
Trang 205
Trang 21Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG
1.1 KHÁI NIỆM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh hoạtđộng sáng tạo của con người là một trong những nhân tố chủyếu thúc đẩy sự phát triển của xã hội Đặc biệt, vai trò và tầmquan trọng của hoạt động sáng tạo ra các sản phẩm trí tuệ conngười đối với sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế,văn hoá, xã hội đã được nhận thức tương đối thống nhất trongphạm vi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn thế giới Hoạtđộng sáng tạo của con người tuy mang tính chất vô hình nhưnglại chứa đựng giá trị vật chất, tinh thần vô cùng to lớn; sảnphẩm của hoạt động đó được thừa nhận là tài sản trí tuệ Chếđịnh sở hữu các tài sản trí tuệ được gọi là sở hữu trí tuệ (SHTT)
và quyền SHTT là một trong những quyền không thể thiếu củacon người, đòi hỏi phải có sự bảo hộ từ phía Nhà nước và cộngđồng quốc tế
Theo Điều 2 Công ước Stockholm 1967 về việc thành lập
Tổ chức
SHTT thế giới (WIPO), SHTT bao gồm các quyền liên quan tới:
1.Các sản phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học;
2 Sự trình diễn của các nghệ sĩ, các chương trình phát vàtruyền thanh, phát và truyền hình;
Trang 223.Các sáng chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người;
4.Các phát minh khoa học;
Trang 235.Kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệudịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn thương mại;
SHTT được qui định tại Điều 3 khoản 2 chương 2, theo đó:
Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả vàquyền liên quan, nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, thiết
kế bố trí (topography) mạch tích hợp, tín hiệu vệ tinhmang chương trình đã được mã hoá, thông tin bí mật(bí mật thương mại), kiểu dáng công nghiệp và quyềnđối với giống thực vật [17]
Như vậy, có thể hiểu quyền SHTT bao gồm quyền tác giả,quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng Quyền tác giả đềcập đến quyền của người sáng tạo trí tuệ trong lĩnh vực văn học,nghệ thuật, khoa học Quyền tác giả bảo hộ chủ sở hữu quyềnđối với những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học… nhằmchống lại việc sao chép, sử dụng hình thức của tác phẩmnguyên gốc đã được bảo hộ Các đối tượng có thể được bảo hộquyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, âm nhạc,tạo hình, phát thanh, truyền hình… Quyền tác giả chỉ bảo hộhình thức thể hiện của ý tưởng sáng tạo chứ không bảo hộ nộidung các ý tưởng đó
Quyền SHCN đề cập đến người sáng tạo trí tuệ liên quanđến các đối tượng thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ vàthương mại, bao gồm: Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dángcông nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý…
Trang 24Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thuật ngữ "sở hữu trítuệ" và "quyền sở hữu trí tuệ" chính thức được sử dụng lần đầutiên trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 Mặc dù khôngđược định nghĩa trực tiếp song cấu trúc
Trang 25và nội dung phần thứ sáu BLDS có thể cho chúng ta hiểu vềquyền SHTT như sau: Quyền SHTT là một chế định pháp lý gồmquyền tác giả và quyền SHCN được pháp luật qui định và bảo
hộ Đó là một loại hình quyền sở hữu đặc biệt mà đối tượng làcác sản phẩm sáng tạo do lao động trí óc con người tạo ra, làsản phẩm trí tuệ con người BLDS 2005 đã bổ sung thêm đốitượng của quyền SHTT là quyền đối với giống cây trồng
Luật SHTT năm 2005 đã đưa ra khái niệm: "Quyền sở hữutrí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, baogồm quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả, quyền sởhữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng" (Khoản 1,Điều 4)
Như vậy, quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đốivới những tài sản trí tuệ do con người sáng tạo Đó là độc quyềnđược trao cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức đểkhai thác, sử dụng, định đoạt những sản phẩm của hoạt độngsáng tạo trí tuệ
1.1.1.2 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp
Trên thế giới, pháp luật về SHTT đã manh nha hìnhthành vào thời kỳ Trung cổ ở các nước Châu Âu Trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp (SHCN), cùng với sự phát triển của lựclượng sản xuất, đã xuất hiện một hình thức "đặc ân" do vuachúa ban cho nhà sáng chế nhằm khuyến khích tạo ra sáng chếmới Người tạo ra sáng chế được độc quyền khai thác chínhsáng chế do mình tạo ra trong một thời hạn nhất định Đâychính là tiền thân của hệ thống bảo hộ sáng chế ở Châu Âutrước đây Đến cuối thế kỷ 16 hình thức này trở nên không cònphù hợp Năm 1623, Nghị viện Anh thông qua đạo luật về độcquyền theo đó mọi hình thức độc quyền bị xoá bỏ trừ độcquyền sáng chế Hình thức bảo hộ của Nhà nước đối với sáng
Trang 26chế được thực hiện thông qua việc cấp văn bằng độc quyềnsáng chế Đây là văn bản pháp luật đầu tiên khởi đầu cho hệthống văn bằng sáng chế của Anh và các nước Âu - Mỹ khác.
Trang 27Luật nhãn hiệu hàng hoá đầu tiên trên thế giới được banhành tại Pháp năm 1857 Theo luật này, quyền đối với nhãnhiệu hàng hóa thuộc về người thực hiện sớm nhất một tronghai việc: (1) sử dụng nhãn hiệu; (2) đăng ký nhãn hiệu theoqui định của pháp luật Nếu một người đăng ký một nhãn hiệunhưng thời điểm sử dụng nhãn hiệu hàng hóa của người đó lạisau người thứ hai thì quyền đối với nhãn hiệu thuộc về ngườithứ hai.Về sau, các nước khác cũng ban hành Luật nhãn hiệuhàng hoá: Italia (1868), Bỉ (1879), Mỹ (1881), Anh (1883), Đức(1894), Nga (1896) trong đó qui định việc xác lập quyền sởhữu đối với nhãn hiệu hàng hoá thông qua thủ tục đăng kýbảo hộ tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cấp Giấychứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá [20].
Hiện nay, các đối tượng sở hữu công nghiệp bao gồm:sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãnhiệu hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trímạch tích hợp, bí mật kinh doanh
Theo Điều 1 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu côngnghiệp được ký kết ngày 20/3/1883 và được sửa đổi vào năm
1967 thì Công ước không trực tiếp đưa ra định nghĩa cụ thể vềquyền SHCN mà chỉ qui định về các đối tượng sở hữu côngnghiệp được bảo hộ bao gồm: "Sáng chế, mẫu hữu ích, kiểudáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ,tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hàng hóa, tên gọi xuất xứhàng hóa, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh"
Sau hơn một thế kỷ, cho đến nay danh sách các đốitượng sở hữu công nghiệp đó được bổ sung thêm một số đốitượng mới, đó là:
- Bí mật kinh doanh;
- Thiết kế bố trí mạch tích hợp
Trang 28Công ước Paris đã xác định rõ cách hiểu về SHCN, theo
đó SHCN được hiểu theo cách rộng nhất, cho tất cả các ngànhsản xuất công nghiệp, thương mại, sản xuất nông nghiệp,công nghiệp khai thác và tất cả các sản
Trang 29phẩm chế biến và sản phẩm tự nhiên như rượu vang, ngũ cốc,thuốc lá, hoa quả, nước khoáng, bia và bọt.
Theo Điều 780 của BLDS Việt Nam năm 1995 thì quyềnSHCN là "quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sángchế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hànghoá, quyền sử dụng đối với tên gọi xuất xứ hàng hoá và quyền
sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định
Ngoài việc liệt kê các đối tượng SHCN cụ thể tại Điều
780, BLDS Việt Nam năm 1995 còn qui định quyền SHCN đốivới các "đối tượng khác" Định nghĩa này có yếu tố mở để dầndần cập nhật những đối tượng khác sẽ được bảo hộ với tưcách là đối tượng của quyền SHCN trong tương lai Cho đếnnay, pháp luật Việt Nam bảo vệ thêm các đối tượng SHCNsau: bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, quyềnchống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN, thiết
kế bố trí mạch tích hợp và được ghi nhận tại một luật riêng Luật SHTT năm 2005 Điều 4 khoản 4 của Luật SHTT đưa rakhái niệm "Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức,
-cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bốtrí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫnđịa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu vàquyền chống cạnh tranh không lành mạnh"
1.1.1.3 Đặc điểm quyền sở hữu công nghiệp
Quyền SHCN là một loại quyền tài sản, do đó nó có đầy
đủ đặc tính của quyền tài sản nói chung đó là: chủ sở hữu cótoàn quyền đối với tài sản của mình và không ai được sử dụngtài sản đó nếu không được sự cho phép của chủ sở hữu Bêncạnh đó, xuất phát từ tính chất đặc thù của các đối tượngSHCN - tài sản trí tuệ, quyền SHCN có những đặc điểm riêng
để phân biệt với quyền sở hữu khác, thậm chí với cả quyềntác giả
Trang 30Thứ nhất, tính vô hình của đối tượng SHCN
Cũng giống như quyền tác giả, đối tượng quyền SHCNmang đặc trưng của đối tượng quyền SHTT đó là đặc tính vôhình Đặc tính này hoàn
Trang 31toàn khác với đặc tính hữu hình của sở hữu tài sản vật chất Làsản phẩm của sáng tạo trí tuệ, mang tính vô hình nên đối tượngcủa quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng phải đượcvật chất hóa hoặc được thể hiện trên các vật mang tin cụ thể.Nói cách khác, tài sản SHTT vô hình phải được phản ánh, thểhiện thông qua những vật thể hữu hình Một vật thể hữu hình cóthể vừa là đối tượng của quyền sở hữu tài sản vật chất lại vừachứa đựng trong nó đối tượng của quyền SHTT Đặc tính vô hìnhcủa SHTT là đặc trưng quan trọng nhất Quyền SHCN là mộtquyền tài sản và đối tượng của quyền SHCN mang tính phi vậtchất Bởi vì, bản thân quyền SHCN không thể tự nó đem lại cáctiện ích hiện hữu cho người nắm giữ quyền mà nó chỉ đem lạicác lợi ích vật chất và tinh thần cũng như các lợi thế cho chủ sởhữu, người sử dụng khi các đối tượng quyền SHCN được áp dụngvào trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, phạm vi bảo hộ
Quyền SHCN chỉ được thừa nhận và bảo hộ theo thủ tụcpháp lý Chủ thể phải gửi đơn yêu cầu bảo hộ và được cấp vănbằng bảo hộ bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Việc bảo hộnày là bảo hộ độc quyền khai thác, sử dụng của chủ sở hữu đốivới đối tượng được bảo hộ trong một thời gian nhất định theoqui định của pháp luật Chỉ chủ sở hữu mới có quyền sử dụnghoặc chuyển giao cho người khác sử dụng các đối tượng SHCNthuộc sở hữu của mình
Khác với quyền sở hữu thông thường, quyền SHCN bị
giới hạn bởi không gian và thời gian Về không gian, việc bảo
hộ quyền SHCN mang tính lãnh thổ triệt để Điều này có nghĩa
là quyền SHCN chỉ phát sinh trên cơ sở công nhận và cấp Vănbằng bảo hộ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và chỉđược bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ đã công nhận hoặc cấpvăn bằng đó Việc bảo hộ quyền SHCN trên thế giới đều tuânthủ nguyên tắc pháp luật quốc gia Quyền SHCN xuất phát từ
Trang 32đặc trưng của đối tượng SHCN - một tài sản vô hình đượctruyền bá bằng con đường nhận thức nên rất dễ bị xâm phạm,khó kiểm soát Hơn nữa, việc áp dụng các đối tượng SHCN chủyếu gắn với quá trình sản xuất công nghiệp, với mục đíchthương mại và thỏa mãn
Trang 33nhu cầu vật chất của con người nên thường mang lại lợi íchlớn, có ảnh hưởng tới sự phát triển của khoa học kỹ thuật vàkinh tế xã hội quốc gia Vì vậy, quyền SHCN mang tính lãnhthổ tuyệt đối.
Về mặt thời gian, quyền SHCN được bảo hộ trong một
khoảng thời gian nhất định, vì đối tượng SHCN là các sảnphẩm trí tuệ thay đổi nhanh chóng theo tiến bộ khoa họccông nghệ, dễ "lạc hậu" so với yêu cầu phát triển kinh tế, xãhội của đất nước Các đối tượng SHCN, đặc biệt là những đốitượng mang lại nhiều lợi ích kinh tế, giảm chi phí trong sảnxuất hàng hoá và dịch vụ (sáng chế, giải pháp hữu ích)thường được bảo hộ trong một khoảng thời gian tương đốingắn (tối đa là 20 năm) Hầu hết pháp luật về SHCN các nướcđều qui định thời hạn bảo hộ sáng chế là 20 năm, thời hạnbảo hộ nhãn hiệu hàng hoá là 10 năm, có thể gia hạn nhiềulần, mỗi lần 10 năm Hết thời hạn bảo hộ, chủ sở hữu sẽ mấtđộc quyền cũng như các quyền khác đối với đối tượng đượcbảo hộ Các đối tượng này sẽ thuộc về công chúng, họ cóquyền tự do khai thác, sử dụng các lợi ích kinh tế do chúngđưa lại Tuy nhiên, một số đối tượng SHCN như tên thươngmại, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu nổi tiếng… được bảo hộ vô thờihạn nhưng các đối tượng đó cũng như chủ sở hữu các đốitượng đó phải đáp ứng một số điều kiện do pháp luật qui định
Thứ ba, quyền sử dụng
Đối với tài sản hữu hình, trong ba quyền năng của chủ
sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) thì quyền chiếm hữudường như là quyền cơ bản và quan trọng nhất Điều này xuấtphát từ các đặc tính của tài sản hữu hình: trong hầu hết cáctrường hợp, chủ sở hữu phải chiếm hữu tài sản thì mới có thểkhai thác công dụng của tài sản đó
Trang 34Trong khi đó, đối với quyền SHCN, quyền sử dụng lạiđược coi là quyền năng cơ bản nhất Với tài sản là nhãn hiệuquyền này được thể hiện thông qua quyền sử dụng, cho phépngười khác sử dụng, ngăn cấm người khác sử dụng và địnhđoạt nhãn hiệu được bảo hộ nếu không được chủ sở hữu
Trang 35cho phép Điều này cũng xuất phát từ tính vô hình của các đốitượng SHCN Chủ sở hữu không thể chiếm hữu (cầm, nắm,giữ) tài sản Việc khai thác giá trị quyền được thực hiện thôngqua hành vi sử dụng đối tượng SHCN Bản thân các đối tượngSHCN không tạo ra giá trị mà chúng phải được ứng dụng vàonhững loại vật chất hữu hình cụ thể và phát sinh giá trị quátrình sử dụng, vận hành, khai thác các loại vật chất hữu hìnhnày Về bản chất, bảo hộ quyền SHCN là bảo hộ độc quyềnkhai thác, sử dụng đối tượng SHCN Ví dụ, đối với nhãn hiệuthì chủ sở hữu nhãn hiệu có thể: tự mình sử dụng nhãn hiệunhư gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì, phươngtiện dịch vụ, lưu thông, chào bán, quảng cáo, xuất nhập khẩuhàng hóa mang nhãn hiệu; cho phép người khác sử dụngnhãn hiệu để đổi lấy lợi ích vật chất, chuyển nhượng quyền sởhữu nhãn hiệu cho người khác để đổi lấy lợi ích vật chất.
Như vậy, quyền của chủ sở hữu đối tượng SHCN đượcthể hiện chủ yếu và cơ bản nhất ở quyền sử dụng đối tượngSHCN
1.1.2 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng
1.1.2.1 Khái niệm nhãn hiệu
Nhãn hiệu (Trademark) là một yếu tố đặc trưng gắn liềngiữa thị trường thương mại và lĩnh vực SHCN Nó đã được sửdụng trong một thời gian dài bởi các nhà sản xuất cũng nhưcác thương nhân để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóahay dịch vụ của họ và phân biệt những hàng hóa, dịch vụ đóvới các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hay bán bởi các chủthể khác Chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa haydịch vụ của nhãn hiệu được xem là yếu tố quan trọng nhấtcủa nhãn hiệu Vì vậy, nó luôn đóng vai trò trung tâm và được
Trang 36đề cập đến rất nhiều trong pháp luật về nhãn hiệu của hầuhết các quốc gia trên thế giới.
Nhãn hiệu đã trải qua một lịch sử phát triển khá dàitrong suốt quá trình phát triển của nền thương mại thế giới
Từ thời La Mã cổ đại, việc các nhà sản xuất chạm nổi hayđóng dấu lên các sản phẩm của mình là khá phổ
Trang 37biến Đó là một hình thức thể hiện của nhãn hiệu, qua nhữnghình thể chạm nổi hay các con dấu mà họ có thể phân biệtxuất xứ hàng hóa của các nhà sản xuất với nhau [12].
Trên thị trường có rất nhiều người làm ra hoặc bán cùngmột loại sản phẩm Chúng được mang các nhãn hiệu khác nhau.Công chúng căn cứ vào những nhãn hiệu đó để lựa chọn nhữngsản phẩm mà họ sẽ mua Nếu sản phẩm đó làm vừa lòng họ, sau
đó có thể họ sẽ tiếp tục mua chúng bằng cách ghi nhớ nhãn hiệucủa sản phẩm Đồng thời, họ cũng căn cứ vào nhãn hiệu hànghóa để biết được ai là chủ thực sự của nhãn hiệu đó hay nói cáchkhác hàng hóa đó do cơ sở sản xuất kinh doanh nào chịu tráchnhiệm trên thị trường Như vậy, không chỉ giúp cho việc cá biệthóa hàng hóa, dịch vụ, nhãn hiệu hàng hóa còn nhằm phân biệtcác cơ sở sản xuất kinh doanh đang cạnh tranh với nhau trên thị
trường Để làm được điều này trong thực tế, "nhãn hiệu hàng
hóa cần phải không chỉ khác biệt, mà chúng còn dễ dàng phân biệt được với những nhãn hiệu hàng hóa khác Nói cách khác, chúng phải có ý nghĩa tự phân biệt" [14].
Nhãn hiệu phải dễ dàng phân biệt được với những nhãnhiệu khác Để làm được điều này nhãn hiệu hàng hóa phải cótính khác biệt, có nghĩa là nó phải có tính sáng tạo, độc đáo.Vấn đề này được xem là đẳng cấp của nhãn hiệu hàng hóa.Trong thực tế, có những nhãn hiệu hàng hóa có trình độ cao
về tính sáng tạo và vì vậy cũng có tính phân biệt cao Nhưng
đa số các nhãn hiệu thường xuất phát từ những thuật ngữthông thường được sử dụng rộng rãi trong thương mại (ví dụ:Đồng hồ Bảo Tín; Maggi ngon ngon; ) Việc đăng ký, bảo hộnhững nhãn hiệu này thường được cân nhắc kỹ về tính phânbiệt của nó nhằm tránh gây cản trở cho hoạt động kinh doanhhợp pháp của các chủ thể khác, do đó dẫn tới cản trở cạnhtranh lành mạnh trên thị trường
Trang 38Điều 15 Hiệp định TRIPS qui định nhãn hiệu: "Bất kỳmột dấu hiệu, hoặc một tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năngphân biệt hoàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp với hànghóa, dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều
Trang 39có thể làm nhãn hiệu" Theo đó, bất kỳ một dấu hiệu nào (kể
cả màu sắc, mùi vị, âm thanh ) miễn là dấu hiệu để phânbiệt được hàng hóa đều có thể coi là nhãn hiệu Đây cũng là
cơ sở để các nước tham khảo trên cơ sở đó theo đặc thù củatừng quốc gia có thể đưa ra những khái niệm riêng của quốcgia mình
Theo định nghĩa của Hiệp hội nhãn hàng thế giới (INTA)thì nhãn hiệu có thể là từ ngữ, tên gọi, biểu tượng, hình ảnh,khẩu hiệu hoặc các hình dạng của bao gói hoặc kết hợp củacác yếu tố đó phục vụ cho việc xác định và phân biệt một sảnphẩm cụ thể của những chủ thể khác nhau trên thị trườnghoặc trong kinh doanh
Tại Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 thì "nhãn hiệu
là những dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổchức, cá nhân khác nhau" Dấu hiệu này được bảo hộ nếu đượcthể hiện dưới dạng từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp giữa cácyếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Hìnhảnh trong nhãn hiệu có thể là ảnh, hình vẽ, có thể là hìnhkhông gian 3 chiều Còn từ ngữ có thể là tên riêng, các chữcái, chữ số, các yếu tố hình họa (nhưng phải có khả năngphân biệt với các nhãn hiệu hàng hóa khác), chúng có thể làđen trắng hoặc có màu sắc Pháp luật Việt Nam không côngnhận và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa chỉ gồm tổ hợp các màusắc mà không kèm trong đó từ ngữ hay hình ảnh nào
Nhìn chung, định nghĩa về nhãn hiệu trong pháp luậtSHTT Việt Nam và pháp luật SHTT thế giới có sự khác nhaunhất định nhưng đều phản ánh những đặc điểm mang tínhbản chất của nhãn hiệu, đó là tạo khả năng phân biệt hànghóa, dịch vụ của các chủ thể khác nhau
1.1.2.2 Khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng
Trang 40Ngày nay, nhãn hiệu được sử dụng một cách phổ biếnhơn với nhiều thể loại hơn Và nó là một hình thức rất có giátrị của quyền sở hữu trí tuệ bởi vì nó gắn liền với chất lượngcũng như sự mong đợi của người tiêu dùng đối với hàng hóa
và dịch vụ