Nhượng quyền thương mại - bản chất và mối quan hệ với hoạt động chuyển giao công nghệ .pdf
Trang 1NHUONG QUYEN THUONG MAI - BAN CHAT
VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI HOẠT ĐỘNG
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ, HOẠT ĐỘNG LI-XĂNG
Nguyễn Bá Bình"
Nhượng quyền thương mại (Franchising) đang dược xem như là một trong những “chia khoá vàng” mở ra những “vùng đất mới” của thương trường ]rong bài viết này, tác giả đánh giá bản chất của nhượng quyển thương mại và mối quan hệ với hoạt động chuyển giao công nghệ, hoạt động li-xăng; qua những vấn để cơ ban sau day: Ban chất của nhượng quyền thương l; Những điểm tương đồng và khác biệt giữa nhượng quyền thương mại và hoại động chuyển giao công nghệ, hoại động li-xăng: Pháp luật Việt Nam về nhượng quyền thương mại - những bat cap khi xem xét trong tinh so sánh với hoại động chuyển giao công nghệ
1 Bản chất của nhượng mại là hoạt động thương mại, 2 Bên nhượng quyển có
quyền thương mại theo đõ bên nhượng quyển _ quyền kiểm soát và trợ giúp Trên thế giới nhượng °ho phép vả yêu cẩu bên cho bên nhận quyển trong quyển thương mại xuấthiện "hân quyển tự minh tiến việc điều hành công việc
đã lâu, nhưng chỉ phát tiển ảnh viếc mua bán hang - tụng goang " mạnh từ những năm 198012 y4, yến sau day ein „ hoá, cung ứng dịch vụ theo Mặc dù mỗi nước có một if Tuy nhiên, cho đến nay vẫn & uy định nghĩa, mỗi người có một
chưa có được một định nghia 1 Việc mua bán hàng hoá, ¬n điểm về nhượng quyển thống nhất về Nhi ng nhất về nhượng quyển ến _ Cung ứng dịch vụ được tiến CU! : ee An
thương mại, nhưng ching tai
b ¡ đó hành theo cách thức tổ chức | YO" nể hai
thương mại Trong khi đó, vụn to Hơn níu muốn dựa trên nến tang dinh dưới góc độ pháp luật thực quyán quy định và HN nghĩa của pháp luật thực định của Việt Nam, lại ĐiểU với nhãn hiệu hàng hoá đến đính Việt Nam, đồng thời có
284 Mục 8 Chương VI Luật thượng mại, bí quyết kinh tham khảo đến các định
Thương mại Việt Nam năm doanh, khẩu hiệu kính doanh, nghĩa của các nước, quan 2008? quy định biểu tượng kinh doanh, quảng _ điểm của các nhà khoa học
es cáo của bên nhượng quyền, —trén thé giới, từ đó chỉ ra
Thực tế, hoạt động nhượng _ ? Tham chiếu các định nghĩa cũa phugng quyền thương mại
quyền thương mại đã bắt đầu _ Hiệp hội nhượng quyển HưØ"g Theo chung tdi, nhượng
khối nguồn ở Mỹ vào những _ mai quốc tế (The Intemational quyên thương mại bao hàm
năm 1850, tuy nhiên, trong Franchise Association), Uy ban những đặc điểm cơ bản sau: vòng 100 năm tiếp theo thì hoạt _ Thương mại Liên bang Hoa Ky
dong nay héu như chỉ diễn ra (The US Federal Trade - Đối tượng của nhượng trong khuôn khổ nước Mỹ Chỉ Commisson - FTC), Liên minh _ quyền thương mại là quyền đến năm 1980 nó mới lan rộng _ Châu âu, Anh, Nga, Ausala: _ thương mại
và diễn ra một cách mạnh mẽ ở _ xem Luận văn Thạc sỹ luật học Zz
các nước khác (Theo Tài liệu của Nguyễn Thị Minh Huệ, Quyển thương mại được
Hội thảo về nhượng quyển “Những vấn để lý luận và thực ? Được Quốc hội Việt Nam thương mại do Chính phủ Việt tiễn về nhượng quyển thương thông qua vào kỳ họp đầu nam Nam và Australia tài trợ - tháng mai tại Việt Nam”, 2005, ĐH Luật 2005 và bắt đầu có hiệu lực từ 12/2004) Hà Nội, tr6-9 01/01/2006
T2
2006
Tap chí Nghiên cứu Lập pháp số 02 (69) 21
Trang 2NHA NUGC VA PHAP LUAT
hiểu là quyển tiến hành kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ
theo cách thức của bên
nhượng quyền quy định, cùng
với đó là việc được sử dụng
nhãn mác, tên thương mại, bí
quyết kinh doanh, khẩu hiệu
kinh doanh, biểu tượng kinh
doanh, quảng cáo của bên
nhượng quyền Trong quan
hệ nhượng quyển thương
mại, nội dung cốt lõi chính là
việc bên nhượng quyển cho
phép bên nhận quyền được
sử dụng quyền thương mại
của mình trong kinh doanh
- Giữa bên nhượng quyền
và Bên nhận quyển luôn tổn
tại một mối quan hệ hỗ trợ
mật thiết
Đây là một đặc điểm giúp
chúng ta tìm thấy sự khác
biệt của nhượng quyển
thương mại với các hoạt động
thương mại khác Trong
nhượng quyển thương mại
luôn tổn tại mối quan hệ hỗ
trợ mật thiết giữa bên nhượng
quyền và bên nhận quyền,
nếu không có điều đó, thì đã
thiếu đi một điều kiện tiên
quyết để xác định hoạt động
đấy có phải là nhượng quyền
thương mại hay không
Mục đích và cũng là yêu
cầu của nhượng quyển
thương mại là việc nhân rộng
một mô hình kinh doanh đã
được trải nghiệm thành công
trên thương trường Chính vì
vậy, đối với nhượng quyển
thương mại thì cần phải bảo
đảm được tính đồng nhất về
các yếu tố liên quan trực tiếp
đến quy trình kinh doanh đó
như: chất lượng hàng hoá,
22 —12— Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 02 (69)
2006
dịch vụ; phương thức phục
vụ; cách thức bài trí cơ sở
kinh doanh (từ hình ảnh bên
ngoài cho đến khu vực bên
trong của cơ sở); việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, biểu tượng kinh doanh, tên thương mại của bên nhượng quyển; hoạt động quảng bá, khuyến mại; đồng phục của nhân viên; các ấn phẩm của
cơ sở kinh doanh Tính đồng nhất trong các mắt xích của một hệ thống nhượng quyền thương mại chỉ có thể
được bảo đảm khi giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền luôn duy trì mối quan
hệ mật thiết với nhau trong
suốt thời gian tồn tại quan hệ nhượng quyền thương mại
Tính mật thiết của mối quan hệ giữa bên nhượng quyển và bên nhận quyển
thể hiện từ ngay sau khi các
bên hình thành nên quan hệ nhượng quyển thương mại
Kể từ thời điểm đó, Bên
nhượng quyền phải tiến hành
việc cung cấp tài liệu, đào tạo
nhân viên của Bên nhận
quyền Không chỉ vậy, mà cùng với sự lớn mạnh và phát triển theo thời gian của hệ thống, bên nhượng quyển phải thường xuyên trợ giúp kỹ
thuật, đào tạo nhân viên của
bên nhận quyển đối với những ứng dụng mới áp dụng chung cho cả hệ thống
- Luôn có sự kiểm soát của bên nhượng quyền đối
với việc điều hành công việc
của bên nhận quyền Quyền kiểm soát của Bên nhượng quyển đối với việc điều hành hoạt động kinh
doanh của bên nhận quyểi được pháp luật đa số các quốc gia trên thế giới thừa
nhận" Theo đó, bên nhượng quyển có thể định kỳ hoặc
đột xuất kiểm tra việc thực
hiện các quyển thương mại
của bên nhận quyền Sự hỗ trợ của bên nhượng quyển đối với bên nhận quyển như
đã nói ở trên sẽ trở nên vô nghĩa và thiếu đi tính thực tế nếu như bên nhượng quyền không có quyển năng kiểm
soát hoạt động điều hành
kinh doanh của bên nhận quyển Quyển năng này của bên nhượng quyển đã thực
sự tạo nên chất kết dính quan
trọng trong việc xây dựng tính thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại và
sự ổn định về chất lượng hàng hoá và địch vụ
2 Mối quan hệ giữa nhượng quyển thương
mại và hoạt động chuyển
giao công nghệ, hoạt động li-xăng
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động chuyển giao công nghệ và hoạt động li-xăng được hiểu
như sau:
= “Chuyển giao công nghệ
là hình thức mua và bán công nghệ trên cơ sở Hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được thoả thuận phù hợp với các quy định của pháp luật Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao các kiến thức tổng hợp của công nghệ hoặc cung cấp các máy móc, thiết bị,
#® xem Nguyễn Thị Minh Huệ, tiđd, tr12
Trang 3NHUONG QUYEN THUONG MAI - BAN CHAT VA MỐI QUAN HỆ
dịch vụ, đào tạo kèm theo
các kiến thức công nghệ cho
bên mua và bên mua có
nghĩa vụ thanh toán cho bên
bán để tiếp thu, sử dụng các
kiến thức công nghệ đô theo
các điều kiện đã thoả thuận
và ghi nhận trong hợp đồng
chuyển giao công nghệ”
- Hoạt động li-xăng là hoạt
động chuyển giao quyển sử
dụng các đối tượng của
quyển sở hữu công nghiệp
(SHCN)*
Thông qua việc phân tích
bản chất của nhượng quyền
thương mại và nhìn nhận về
hoạt động chuyển giao công
nghệ, hoạt động li-xăng, cho
phép chúng ta đánh giá
được vài nét cơ bản về tính
tương đồng và sự khác biệt
giữa những hoạt động này
như sau:
2.1 Tính tương đồng
Thường có sự nhầm lẫn
giữa chuyển giao công nghệ,
hoạt động lixăng và nhượng
quyền thương mại Điều này
cũng dễ hiểu, bởi lẽ, khi nhìn
vào một hoạt động,một quan
hệ nào đó, người ta thường
để ý nhiều nhất đến đối
tượng của nó, trong khi đó
thì về đối tượng, cả ba hoạt
động này có rất nhiều điểm
tương đồng
Như đã nói ở trên, đối
tượng của nhượng quyển
thương mại là quyển thương
mại - quyền kinh doanh,
cụ thể thì đó chính là quyền
sử dụng cách thức kinh
doanh và quyển được sử
dụng nhãn mác, tên thương
mại, bí quyết, của bên nhượng quyền Đối tượng của hoạt động chuyển giao công
nghệ là “các kiến thức tổng hợp của công nghệ hoặc cung cấp các máy móc, thiết
bị, dịch vụ, đào tạo kèm theo các kiến thức công nghệ quyển sử dụng đối với bí quyết kỹ thuật, giải pháp kỹ thuật”, trong đó bao hàm các
đối tượng SHCN; còn đối tượng của hoạt động l-xăng
là quyền sử dụng đối với các
đối tượng của quyền sở hữu
công nghiệp Như vậy, cả nhượng quyển thương mại, hoạt động chuyển giao công nghệ và hoạt động li-xăng
đều có chung một phạm vi
đối tượng chủ yếu đó là quyền sử dụng các đối tượng SHCN
Cũng trên cơ sở đối tượng tương đồng, thêm một lý do
phái sinh nữa khiến cho
người ta càng dễ nhầm lẫn,
đó là: lợi ích mà bên nhận có được từ việc nhận quyển thương mại, nhận công nghệ, nhận lixăng từ bên chuyển nhượng thường tập trung
nhiều nhất ở giá trị các đối
tượng SHCN của bên chuyển
nhượng Vì thế trong cả 3
hoạt động nhượng quyển
thương mại, chuyển giao công nghệ, chuyển giao li-
xăng, các bên đều chú ý
nhiều nhất đến giá trị của các
đối tượng SHCN và lẽ dĩ nhiên trong bối cảnh đó người ta thấy các hoạt động này đều "na ná" nhau
2.2 Sự khác biệt
Mặc dù có những điểm
tương đồng lớn như đã nói ở trên, nhượng quyền thương
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 02 (69)
mại và hoạt động chuyến giao công nghệ, hoạt động li-
xăng vẫn có rất nhiều điểm khác biệt với nhau:
Giữa nhượng quyển thương mại với chuyển giao công
nghệ
Trước hết, về mặt tính chất của hoạt động, nếu như nhượng quyền thương mại là phương thức mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thông qua việc cho phép một doanh nghiệp khác được sản xuất kinh doanh trên cơ sở uy tín, tên thương mại, công nghệ.vv của bên nhượng quyền, thì chuyển giao công nghệ lại chỉ đơn thuần là việc chuyển giao các công nghệ
để ứng dụng nó vào quá trình
sản xuất
Thứ hai, về quyển năng
của bên nhận quyền đối với
đối tượng chuyển giao Khi một doanh nghiệp nhận công nghệ, họ có quyền ứng dụng
công nghệ đó để sản xuất ra
* Khoản 1 Điều 2 Nghị định 11/2008/NĐ-CP ngày 02/02/2005 của Chính phủ quy định chí tiết hoạt động chuyển giao công nghệ
° Xem Điều 796 BLDSVN
1995, Điều 35 Nghị định 63/CP ngày 24/10/7996 của Chính phủ quy định chỉ tiết về SHCN, Mục 17.3 Thong tu 3055/TT-SHCN ngày 31/12/1996 của Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường (nay là Bộ Khoa học và công nghệ) hướng dẫn thi hành Nghị định 63/CP
” Khoản 1 Điễu 2 Nghị định 11/2008/NĐ-CP ngày 02/02/2005 của Chính phủ quy định chỉ tiết hoạt động chuyển giao công nghệ
T2
2006
23
Trang 4NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
sản phẩm dưới bất kỳ thương
hiệu, kiểu dáng, tên thương
mại nào mà họ mong muốn
Trong-khi đó, đối với hoạt
thương
mại, bên nhận quyển chỉ
được sử dụng các công nghệ
mà mình nhận được để sản
xuất, cung ứng các loại dịch
vu có cùng chất lượng, hình
thức và đưới nhãn hiệu hàng
hoá, tên thương mại của bên
nhượng quyền Bên cạnh đó,
bên nhận quyển còn phải
tuân theo sự bày trí cửa hàng,
cung cách phục vụ khách
hàng, phương pháp xúc tiến
thương mại của bên nhượng
quyển Đặc biệt, các doanh
nghiệp cùng nhận quyển
thương mại từ một doanh
nghiệp nhất định sẽ có mối
quan hệ với tư cách là các
thành viên trong cùng một
mạng lưới kinh doanh, mổi
quan hệ này không bao giờ
hình thành giữa các doanh
nghiệp cùng nhận quyển
chuyển giao công nghệ"
Thứ ba, sự khác nhau về
phạm vi đối tượng của hoạt
động Nếu như trong hoạt
động chuyển giao công nghệ,
đối tượng của nó1à “các kiến
thức tổng hợp của công nghệ
hoặc máy móc, thiết bị, dịch
vụ, đào tạo kèm theo các
kiến thức công nghệ”, tức là
chủ yếu tập trung vào công
nghệ sản xuất ra sản phẩm,
quy trình sản xuất ra sản
phẩm Trong khi đó, nhượng
quyển thương mại như đã để
cập ở trên có phạm vi đối
tượng không chỉ bao gồm quy
trình sản xuất mà còn cả các
quy trình sau sản xuất nhằm
24 =- 'Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 02 (69)
đưa sản phẩm đến tay người
iêu dùng, quy trình quản lý -
không chỉ giới hạn ở cơ cấu tổ
chức, chính sách kinh doanh, kiểm toán, nhân sự, thậm chí
cả tiêu chuẩn cho việc thiết
kế, trang trí cửa hàng, nhà xưởng
Thêm nữa, sự khác biệt
giữa nhượng quyển thương mại và hoạt động chuyển giao công nghệ còn nằm ở
sự hỗ trợ, kiểm soát của bên
nhượng quyển đối với bên nhận quyển Trong nhượng quyền thương mại thì đây là một nội dung cốt lõi và
không thể thiếu được nhằm
đảm bảo tính thống nhất của
toàn bộ hệ thống nhượng quyền, tuy nhiên, trong hoạt động chuyển giao công nghệ
thì về nguyên tắc, sau khi
chuyển giao công nghệ xong
bên chuyển quyền sẽ không
hỗ trợ gì thêm đối với bên
nhận quyển và bên chuyển
quyền cũng không có quyền kiểm soát hoạt động sản
xuất - kinh doanh của bên
nhận quyển
Giữa nhượng quyền
thương mại với hoạt động li-xăng
Điểm khác nhau đầu tiên
là, nếu như hoạt động li-xăng chỉ dừng lại ở việc chuyển giao quyển sử dụng các đối tượng SHCN thì ở nhượng quyển thương mại, quyền sử dụng các đối tượng SHCN chỉ
là một phần của việc chuyển
giao, bên cạnh đó còn là sự chuyển giao về cách thức, bí
quyết tiến hành kinh doanh,
khẩu hiệu kinh doanh Như
vậy, phạm vì đối tượng của
nhượng quyển thương mại là rộng hơn nhiều so với hoạt động li-xăng
Thứ hai, nếu như trong hoạt động li-xăng, cái mà các bên nhận li-xăng hướng tới là nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dâng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích nhằm xác định hình thức, nội dung sản phẩm, thì trong hoạt động nhượng quyển thương mại, mục tiêu mà các bên hướng tới là nắm giữ và vận hành một ,hệ thống kinh doanh trong đó nhãn hiệu hàng hoá, cũng như các đổi tượng khác của quyển SHCN chỉ là một
bộ phận
Thứ ba, nếu như sự hỗ trợ
giữa Bên nhượng quyển và Bên nhận quyển trong nhượng quyển thương mại là đương nhiên và liên tục, thì điểu đó lại không có trong hoạt động li-xăng Sự hỗ trợ trong hoạt động I-xăng nếu
có thì cũng chỉ là sự hỗ trợ
ban đầu khi chuyển giao các đổi tượng SHCN
Thêm nữa, Bên chuyển
giao trong hoạt động li-xăng
không có được quyền kiểm soát đương nhiên và sâu sát như Bên nhượng quyền trong nhượng quyền thương mại Bên chuyển giao trong hoạt động li-xăng chỉ có được
*Xem Nguyễn Thị Minh Huệ, tidd, tr 14
* Khoản 1, Điều 2 Nghị định
số 11/2005/ND-CP ngày 02/02/2005 của Chính phủ quy
định chí tiết về chuyển giao
công nghệ
Trang 5
NHUONG QUYỀN THƯỜNG MAI - BẢN CHẤT VÀ MỐI QUAN HỆ quyến kiếm soát trong trường
hợp cẩn thiết và trong phạm
vi hẹp (vì đối tượng của hợp
đồng li-xăng hẹp hơn đối
tượng của nhượng quyển
thương mại)
Thông qua các điểm khác
biệt cơ bản được chỉ ra ở trên
cho thấy rằng, chúng ta
không thể và không được
phép đánh đồng giữa hoạt
động chuyển giao công nghệ,
hoạt động li-xăng với nhượng
quyển thương mại
3 Pháp luật Việt Nam về
nhượng quyển thương mại
- những bất cập khi xem xét
trong tính so sánh với hoạt
động chuyển giao công
nghệ
Nhượng quyền thương mại
thực sự được ghi nhận trog
pháp luật Việt Nam từ khi
được quy định trong Luật
Thương mại 2005 Trước đây,
nhượng quyển thương mại
cũng đã phần nào được để
cập, nhưng lại fnáu mình"
trong hoạt động chuyển giao
công nghệ
đồng cấp phép đặc quyền
kinh doanh” (Xem hộp)
'Văn bản đầu tiên ghi nhãn về
nhượng quyền thương mại dưới
cái tên "hợp đồng cấp phép đặc
quyén kinh doanh™ (Franchise)
là Thông tư 1254/1999/TT-
BKHCNMT do Bộ Khoa học,
công nghệ và mỏi trưởng (nay là
Bộ Khoa học và công nghệ) ban
hành ngày 12/07/1999 hướng
dẫn Nghị định 45/1998/NĐ-CP
của Chính phủ về chuyển giao
công nghệ
Tiếp theo Thông tư 1254,
nhượng quyền thương mại lại
được ghi nhận dưới cái tên
“cấp phép đặc quyến kinh doanh” ở một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn, đó là Nghị định 11/2005/NĐ-CP
của Chính phủ ban hành
ngày 02/02/2005 quy định chỉ tiết về chuyển giao công nghệ (Nghị định này được ban hành để thay thế cho Nghị định 45 nói trên)
Trước khi luật Thương mại
2005 được ban hành và có hiệu lực (01/01/2006) thì nhượng quyển thương mại được coi phư một dạng hoạt động chuyển giao công nghệ
và chịu sự chỉ phối của pháp
luật về l-xăng và chuyển giao công nghệ"
Bằng các quy định tại điểm a mục 4.1.1 của Thông
tư 1254 và Khoản 6, Điểu 4 Nghị định 11 nói trên, nhượng quyển thương mại đương nhiên được coi là một dạng của hoạt động chuyển giao
công nghệ Tuy nhiên, nhượng quyền thương mại với những đặc điểm riêng biệt được phân tích ở trên thì không thể xếp nó thuộc về
hoạt động chuyển giao công
nghệ Sự khiên cưỡng trong quy định của pháp luật thực
định đã đưa đến những điểm bất hợp lý so với thực tế và
bản chất của hoạt
nhượng quyền thương mại
Thứ nhất, theo Khoản 1 Điều 7 Nghị định 11 thì “Bên nhận có quyền cải tiến, phát triển công nghệ được chuyển giao mà không phải thông báo cho bên giao biết, trừ
trường hợp trong hợp đồng chuyển giao công nghệ các
Bên có thỏa thuận khác”
'Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 02 (69)
Đối với hoạt động chuyến giao công nghệ thì quy định này là rất hợp lý và tiến bộ,
nó phù hợp với xu hướng chung của thế giới trong việc khuyến khích phát triển công
nghệ Song nếu áp dụng điều
này cho nhượng quyển thương mại thì lại hoàn toàn
mâu thuẫn với bản chất của
nhượng quyển thương mại Cẩn thấy rằng, cái mà nhượng quyển thương mại mang lại cho các bên là tiêu thụ tốt nhất các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ dưới cùng một tên thương mại của bên nhượng quyển và theo
một tiêu chuẩn chung về chất
lượng sản phẩm, dịch vụ Đấy là lợi ích và cũng là yêu cẩu của nhượng quyển thương mại Do đó, trong nhượng quyển thương mại,
cả hai bên nhượng quyền và nhận quyền phải sản xuất - kinh doanh với cùng một trình
độ, tiêu chuẩn về công nghệ Việc cho phép bên nhận quyển tự mình phát triển
'°Đấy có lé cũng là lý do để khi xuất hiện một mục trong Luật Thương mại 2005 về nhượng quyền thương mại sẽ khiến nhiều người phải đặt câu hồi: nhượng quyền thương mại khác gì với chuyển giao công nghệ?
' Xem điểm a mục 4.1.1
” Xem khoắn 6 Điều 4
° Cho dù nhượng quyền thương mại đã được quy định
riêng biệt trong Luật Thương
mại 2005, nhưng Luật này mới
có hiệu lực tir 01/01/2006
** Quy định này cũng đã được ghỉ nhận tại khoản 1 Điều 818
Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995
Trang 6NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
công nghệ sẽ phá vỡ sự
thống nhất đó, lúc đó dĩ nhiên
hoạt động nhượng quyển
thương mại không còn là
chính nó nữa
Thứ hai, về thời hạn của
hợp đồng chuyển giao công
nghệ, Điều 15 Nghị định 11
quy định:“Thời hạn của hợp
đồng do các Bên thoả thuận
theo yêu cầu và nội dung
công nghệ được chuyển giao,
nhưng không quá 07 năm, kể
từ ngày hợp đồng có hiệu lực”
(Khoản 1) Còn Khoản 2 cho
phép một thời hạn dài hơn đối
với một số trường hợp đặc
biệt, nhưng cũng không được
quá 10 năm Nếu xem xét đối
với các hoạt chuyển giao
công nghệ thì việc ấn định
một thời hạn như vậy cũng là
hợp lý Tuy nhiên, nếu áp
dụng thời hạn này cho
nhượng quyền thương mại thì
lại không phù hợp Trong
nhượng quyển thương mại,
bên nhận quyền sẽ phải đầu
tư một khoản chỉ phí ban đầu
khá lớn, đó không chỉ là phần
phí nhượng quyền, mà còn là
các chỉ phí khác về cơ sở hạ
tầng, về đội ngũ: quản lý,
nhân viên Bởi vì tuy vừa
mới nhận quyển (được “sinh
sau"), nhưng nó lại phải có
đẩy đủ ngay lập tức các điều
kiện tương xứng với Bên
nhượng quyền để có thể dam
bảo được tính đồng bộ của hệ
thống nhượng quyền Với thời
hạn là 7 năm, thậm chí trong
trường hợp đặc biệt được cho
phép nâng lên 10 năm thì về
cả lý luận và thực tiễn rất khó
có thể đủ cho bên nhận
26 —Ï—_ Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 02 (69)
quyền thu hồi vốn, chứ chưa nói gì đến việc có lãi Trong quan hệ nhượng quyển thương mại, nếu thời gian càng dài thì lợi ích mang lại cho các bên càng lớn (lợi ích này không chỉ là với các bên nhận quyển mà cả bên nhượng quyển) Vì lẽ đó nên pháp luật của các nước hầu như đều không có quy định
về thời hạn hoặc nếu có thì cũng là một khoảng thời gian rất dài”
Thứ ba, về đăng ký hợp
đồng, theo Điều 32 Nghị định
11, hợp đồng chuyển giao
công nghệ phải đăng ký tại
Bộ Khoa học và công nghệ
hoặc Sở khoa học và công
nghệ (tuỳ theo mức độ phức
tạp của hợp đồng) Quy định
này đối với hợp đồng chuyển
giao công nghệ thì không có
gì phải bàn thêm Nhưng nếu như áp dụng cho nhượng quyển thương mại thì lại rất bất cập Bởi lẽ đối tượng của Hợp đồng nhượng quyển thương mại là quyền thương mại, còn công nghệ chỉ là bộ phận hợp thành quyển thương mại Do đó việc đăng
ký không thể thuộc cơ quan quản lý nhà nước về khoa
học công nghệ, mà phải là cơ
quan quản lý nhà nước về thương mại
Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Thương mại
* Xem Nguyễn Thị Minh Huệ,
tid, tr 65
* C6 thể trong qué trinh dang ky thì cần có sự phối kết hợp với cơ
quan quản lý nhà nước về khoa
học công nghệ
2005, trong đó có một mục riêng về Nhượng quyển
thương mại Bằng việc quy
định như vậy đã cho thấy nhượng quyến thương mại thực sự là một hoạt động thương mại độc lập và có những đặc thù riêng, không thể gán ghép dưới bất kỳ một dạng hoạt động nào khác Để tạo điểu kiện khuyến khích hoạt động nhượng quyền trên thực tế, theo chúng tôi, cùng với Luật Thương mai 2005, Việt Nam cần hoàn chỉnh hơn nữa khung pháp lý về lĩnh vực này, trong đó cũng nên lưu ý đến một vài vấn để sau;
- Loại bỏ các -quy định hiện hành không còn phù hợp, đặc biệt là các quy định gán ghép nhương quyển thương mại vào hoạt động chuyển giao công nghệ như
đã phân tích ở trên;
~ Ban hành Nghị định để chỉ tiết hoá Luật Thương mại
về nhượng quyển thương mại Ví dụ như vấn đề đăng
ký hợp đồng nhượng quyền thì cũng cần làm rõ là nếu hợp đồng nhượng quyền giữa một bên nước ngoài và một bên Việt Nam thì cần đăng ký
ở đâu, vấn để trình tự, thủ tục
đăng ký nhượng quyển thương mại
* Th.S Giảng viên Khoa
Pháp luật Quốc tế, Thư ký Trung tâm nghiên cửu pháp luật Châu á - Thái Bình Dương, Đại học Luật Hà Nội