ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÀI TẬP LỚN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LỚP L15 NHÓM L151 1 HK212 Giảng viên hướng dẫn Th[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LỚP: L15 - NHÓM: L151.1 - HK212
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Vũ Quốc Phong
SINH VIÊN THỰC HIỆN
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
Tìm hiểu về khái niệm
1 2014118 LÊ HOÀNG THANH PHONG và hai thuộc tính của Phong
hàng hóaTìm hiểu về tính hai
xuất hàng hóaNghiên cứu về lượng
ảnh hưởng đến lượnggiá trị hàng hóaNêu khái quát lịch sử
4 2014311 NGUYỄN TUẤN QUYẾN hình thành & phát triển Quyến
của cà phêĐánh giá thực trạng &
phê ở Việt Nam
ANH
của cà phê
Trang 31
Trang 4MỤC LỤC
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM 1
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI: 3
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Sự phát triển của cà phê 3
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 3
4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 3
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 3
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI: 3
Chương 1: HÀNG HÓA 4
1.1 Khái niệm và hai thuộc tính của hàng hoá 4
1.2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa 5
1.3 Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa 7
1.3.1 Lượng giá trị của hàng hóa: 7
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa: 8
Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 11
2.1 Khái quát lịch sử hình thành & phát triển của cà phê 11
2.2 Thực trạng & nguyên nhân của cà phê ở Việt Nam 14
2.2.1 Thực trạng cà phê Việt Nam hiện nay 14
2.2.2 Nguyên nhân của cà phê Việt Nam hiện nay 17
2.3 Các kiến nghị thúc đẩy sự phát triển của Cà phê ở Việt Nam hiện nay 18
KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
2
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Hiện nay, Việt Nam là một nước nông nghiệp đang phát triển với nhiều sản phẩmnông nghiệp đã và đang được xuất khẩu mạnh ra thị trường quốc tế như là: gạo, cà phê,cao su, Trong đó, cà phê là một trong những mặt hàng chủ lực Có rất nhiều thịtrường đã nhập khẩu cà phê Việt Nam, nhưng thị trường EU là nơi giàu tiềm năng nhấtvới số dân đông cũng như nhu cầu của họ đang tăng lên theo từng năm Cùng với việcViệt Nam đã gia nhập WTO, xuất khẩu hàng hóa của nước ta nói chung và xuất khẩumặt hàng cà phê Việt Nam nói riêng sẽ phát triển hơn thời điểm hiện tại Qua đó, nhómchúng em đã chọn đề tài “Sự phát triển của cà phê ở Việt Nam hiện nay”
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Sự phát triển của cà phê.
Không gian: Việt Nam
Thời gian: 2000 - 2021
4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Thứ nhất, tìm hiểu và phân tích khái niệm và hai thuộc tính của hàng hóa; tính hai
mặt của lao động sản xuất hàng hóa; lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượnggiá trị hàng hóa
Thứ hai, giới thiệu khái quát lịch sử hình thành & phát triển của cà phê.
Thứ ba, đánh giá thực trạng & nguyên nhân của cà phê ở Việt Nam.
Thứ tư, đưa ra các kiến nghị thúc đẩy sự phát triển của cà phê.
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu như trừu tượng hóa khoa học, phân tích tổng hợp, thống kê mô tả
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI:
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 02 chương:
- Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 6Chương 1: HÀNG HÓA
1.1 Khái niệm và hai thuộc tính của hàng hoá
*Khái niệm: Theo định nghĩa của Karl Marx, hàng hóa là sản phẩm của lao động,
thông qua trao đổi, mua bán có thể thỏa mãn một số nhu cầu nhất định của con người.Hàng hóa có thể đáp ứng nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất
Hàng hóa có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể Từ khái niệm này, ta có thể rút ra kết luận rằng một đồ vật muốn trở thành hàng hoá cần phải thỏa mãn 3 yếu tố: - Hàng hóa là sản phẩm của lao động
- Hàng hóa có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người - Thông qua trao đổi, mua
tiêu dùng cho sản xuất…) Đối với giá trị sử dụng, hàng hóa có các đặc điểm như sau:
- Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quyết định
Trang 7- Hàng hóa không nhất thiết chỉ có một giá trị sử dụng duy nhất Khi khoa học kỹ thuật càng phát triển người ta càng phát hiện ra nhiều thuộc tính mới của hàng hóa và sử dụng chúng cho nhiều mục đích khác nhau.
- Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọi phương thức hoặc mọi kiểu tổ chức sản xuất.
- Giá trị sử dụng không dành cho bản thân người sản xuất hàng hóa mà cho người
tiêu dùng hàng hóa (xã hội) Người mua có quyền sở hữu và sử dụng hàng hóa theo mục
đích của họ Hay nói cách khác, sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội
Giá trị hàng hóa
Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh bên trong hàng hóa Giá trị là nội dung bên trong của hàng hóa, nó được biểu hiện ra bên ngoài bằng việc hai hàng hóa có thể trao đổi được với nhau Giá trị hàng hóa có những đặc trưng - cơ bản như sau:
Biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa - Là phạm trù lịch sử chỉ tồn tại ở kinh tế hàng hóa
1.2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Như đã đề cập ở phần trên, hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị.Hai thuộc tính này tồn tại trong bất kỳ một loại hàng hóa nào, thiếu một trong haithuộc tính này sản phẩm sẽ không được coi là hàng hóa Cũng theo lý thuyết của Mác,
sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính đó không phải do hai lao động tạo ra mà bởi vì laođộng của người sản xuất hàng hóa có tính hai mặt Cụ thể tính chất hai mặt của laođộng sản xuất hàng hóa là lao động cụ thể và lao động trừu tượng
Lao động cụ thể:
Trong cuộc sống của chúng ta có rất nhiều các loại hình lao động khác nhau cùngtồn tại song song Ví dụ như làm nông nghiệp, lái xe, bán hàng, thợ thủ công đó lànhững lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn
5
Trang 8nhất định Các loại lao động này tạo ra một loại sản phẩm cụ thể và những loại sản phẩm này là khác nhau Các Mác gọi đó là lao động cụ thể.
Đặc trưng của lao động cụ thể:
Thứ nhất, mỗi lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất định bởi mỗi lao động
cụ thể sẽ có một mục đích riêng, công cụ lao động riêng, đối tượng lao động riêng.Chính những cái riêng đó đã làm cho lao động cụ thể này khác với lao động cụ thể kia
- Lao động cụ thể của người thợ may cần các nguyên vật liệu là vải vóc, kim chỉ, máy may mục đích là để tạo ra những sản phẩm may mặc như quần áo,
- Lao động cụ thể của người thợ xây cần các nguyên vật liệu là gạch, đá, xi măng, sắt, thép để tạo ra các công trình xây dựng.
- Lao động cụ thể của người thợ cơ khí để tạo ra các sản phẩm bằng kim loại.
- Lao động cụ thể của người thợ mộc để tạo ra các sản phẩm bằng gỗ Vídụ:
Thứ hai, lao động cụ thể phản ánh trình độ phân công lao động xã hội Trong xã hội,không một ai có thể đảm nhận toàn bộ các công việc, người ta chỉ có thể đảm nhiệmmột công việc, một lao động cụ thể nhất định Bởi vậy cần có sự phân công lao động
xã hội Hay nói cách khác, càng xuất hiện nhiều lao động cụ thể thì phân công lao
động xã hội càng chi tiết, sản xuất hàng hóa càng phát triển.
Thứ ba, lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn Lao động cụ thể tồn tại độc lập vàkhông phụ thuộc vào bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào
Ví dụ: Lao động cụ thể của người thợ làm bánh là tạo ra các loại bánh và chắc chắn
nó không thể tạo ra quần áo, sản phẩm kim loại khi ở các hình thái kinh tế xã hội khác.Thứ tư, lao động cụ thể ngày càng trở nên đa dạng, phong phú và có tính chuyênmôn hóa cao
Lao động trừu tượng:
Lao động trừu tượng chỉ xét về mặt hao phí lao động nói chung Bao gồm có haophí về cơ bắp, về thần kinh và về sức lực của người sản xuất hàng hóa Có nghĩa làchúng ta gạt bỏ đi mọi hình thức cụ thể của sản xuất lao động hàng hóa và chỉ xét ở
6
Trang 9góc độ hao phí lao động Chẳng hạn như, lao động của người thợ may, thợ xây, thợmộc hay thợ làm bánh ta không xét đến việc họ sản xuất sản phẩm gì, sản xuất cho ai,với mục đích gì mà chỉ cần quan tâm đến hao phí lao động trong công việc của họ nhưthế nào mà thôi.
Đặc trưng của lao động trừu tượng:
Thứ nhất, lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa Khi xét về mặt laođộng trừu tượng, người ta có thể so sánh giá trị của hàng hóa này với các hàng hóakhác Ví dụ lao động trừu tượng của người sản xuất tivi sẽ cao hơn lao động trừutượng của người nuôi gà do hao phí lao động xã hội để làm ra một chiếc tivi sẽ caohơn đối với việc nuôi một con gà Và vì thế, giá cả của chiếc tivi cũng sẽ cao hơn sovới giá của một con gà
Thứ hai, lao đông trừu tượng là một phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong nền kinh tếhàng hóa Do lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa cho nên khi hai hàng hóakhác nhau trao đổi với nhau thì cần căn cứ theo nguyên tắc trao đổi ngang giá Ví dụnhư 1 con gà có thể đổi lấy 5kg gạo do có cùng hao phí lao động như nhau Lao độngtrừu tượng tạo ra giá trị, là cơ sở cho sự ngang bằng trong việc trao đổi Nếu không cósản xuất hàng hóa, không có trao đổi thì không cần phải quy các lao động cụ thể về laođộng trừu tượng
1.3 Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
1.3.1 Lượng giá trị của hàng hóa:
Lượng giá trị của hàng hóa là hao phí lao động dùng để tạo ra hàng hóa Lượng haophí này được tính bằng thời gian lao động mà xã hội chấp nhận (thời gian lao động xãhội cần thiết) trong điều kiện bình thường của xã hội với trình độ thành thạo trung bình,cường độ lao động trung bình mà không phải thời gian lao động sản xuất cá biệt củađơn vị sản xuất
Lượng giá trị hàng hóa được đo lường bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sảnxuất ra hàng hóa đó Do đó, những yếu tố ảnh hưởng đến lượng thời gian lao động xãhội cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa cũng ảnh hưởng đến lượng giá trị củahàng hóa
Trang 10Ví dụ:
Có 3 nhóm người sản xuất cùng làm ra một đôi giày thể thao Nhóm I hao phí sảnxuất cho 1 đơn vị giày (1 đôi giày) là 3 giờ và làm được 100 đơn vị sản phẩm; tương tự,nhóm II là 5 giờ và 600 đơn vị sản phẩm; nhóm III là 6 giờ và 200 đơn vị sản phẩm;Thời gian lao động xã hội cần thiết = Tổng thời gian lao động cá biệt / tổng sảnphẩm
TGLĐXHCT của nhóm I là 0.03h/đvsp, nhóm II là 0.0083h/đvsp, nhóm II là0.03h/đvsp Nhóm II tốn hao phí lao động cá biệt ít hơn nhóm I và II Do đó Nhóm II
có ưu thế cạnh tranh hơn 2 nhóm còn lại
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:
Có - 2 yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:
- Năng suất lao động
Mức độ phức tạp của lao động
Năng suất lao động: là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số lượng sảnphẩm sản xuất ra trong một đợn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sảnxuất ra một đơn vị sản phẩm
Năng suất lao động tăng lên sẽ làm giảm lượng thời gian hao phí lao động xã hộicần thiết trong một đơn vị hàng hóa Do vậy năng suất lao động tăng lên sẽ làm cholượng giá trị hàng hóa trong một đơn vị hàng hóa giảm xuống
Giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Năng suất lao động lại phụ thuộc - vào nhiều yếu tố như:
Trình độ khéo léo (thành thạo) trung bình của người công nhân
Mức độ ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất
Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất.
-8
Trang 11Ví dụ:
Mặc dù trong bối cảnh dịch COVID -19 diễn biến phức tạp, năm 2021,Tổng công
ty Điện lực TP Hà Nội (EVNHANOI) đã nỗ lực vượt khó với nhiều chỉ tiêu hiệu quảđược hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 2021
Cụ thể, EVNHANOI đã đẩy nhanh quá trình tự động hóa, góp phần nâng cao độtin cậy cung cấp điện hiệu quả thông qua các giải pháp giám sát, điều khiển xa(SCADA), tự động phân vùng sự cố (FL), cách ly sự cố tự động (FI), khôi phục cấpđiện tự động (SR) cho các phân đoạn không bị sự cố
Với những nỗ lực này, nhiều chỉ tiêu hiệu quả của EVNHANOI đã được hoànthành và hoàn thành vượt mức so với kế hoạch năm 2021.Theo đó, tỷ lệ tổn thất điệnnăng của Tổng công ty đạt 3,55%, giảm 0,12% so với năm 2020
Với việc không ngừng cải thiện độ tin cậy cung cấp điện, kết thúc năm 2021, chỉ
số SAIDI (tổng thời gian mất điện khách hàng bình quân) của EVNHANOI giảmxuống còn 163 phút, tần suất mất điện thoáng qua bình quân (MAIFI) là 1,8 lần tầnsuất mất điện kéo dài bình quân (SAIFI) giảm còn 0,9 lần
Bên cạnh đó, khi xem xét về mối quan hệ giữa tăng năng suất với lượng giá trị củamột đơn vị hàng hóa, cần chú ý thêm về mối quan hệ giữa tăng cường độ lao động vớilượng giá trị của một đơn vị hàng hóa
Tăng cường độ lao động là tăng mức độ khẩn trương, tích cực trong lao động Xétriêng, việc tăng cường độ lao động làm tổng số sản phẩm tăng lên Tổng lượng giá trịhàng hóa gộp lại tăng lên Tuy nhiên, lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sảnxuất một loại hàng hóa không đổi Song, trong điều kiện trình độ lao động sản xuấthàng hóa còn thấp, việc tăng cường độ lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trongviệc tạo ra số lượng các giá trị sử dụng nhiều hơn, góp phần thỏa mãn tốt hơn nhu cầucủa xã hội
Mức độ phức tạp của lao động:
Căn cứ vào độ phức tạp của lao động người ta chia lao động thành:
- Lao động đơn giản: là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệ thống, chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng cũng như có thể thao tác được.
Trang 12- Lao động phức tạp: là những hoạt động lao động yêu cầu phải trải qua một quá trìnhđào tạo về kĩ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định.
Ví dụ: Trong một giờ lao động, người kĩ sư xây dựng tạo ra nhiều giá trị hơnngười công nhân lao động vì lao động của người công nhân là lao động đơn giản, cụthể trong hầu hết thời gian lao động, chỉ cần được đào tạo dạy nghề trong 1-3 tháng là
có thể làm được Trong khi đó, lao động của người kĩ sư là lao động phức tạp, vậndụng trí óc để thiết kế công trình, lên bản vẽ, quản lý và phân chia các nguồn lực, dựtoán các chi phí phát sinh… đòi hỏi phải được đào tạo, học hỏi bài bản từ 2-4 năm vàphải có thời gian huấn luyện thực tế để hiểu rõ công việc
Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao độngđơn giản Theo C Mác, lao động phức tạp là bội số của lao động đơn giản
10
Trang 13Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY 2.1 Khái quát lịch sử hình thành & phát triển của cà phê
Năm 1857, cây cà phê theo những linh mục truyền giáo vào Việt Nam, lần đầu tiênđược trồng tại tỉnh Hà Nam, Bố Trạch, tỉnh Quảng Trị Những cây cà phê chè (tênkhoa học là Arabica) đầu tiên được trồng tại đây Tên gọi là cà phê được bắt nguồn từchữ “Café” trong tiếng Pháp
Năm 1865 thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, chúng thành lập nhiều đồn điền càphê ở vùng trung du phía bắc Như Xuân, Sơn Tây làm theo phương thức du canh du
cư (Du canh du cư là hiện tượng người dân thường xuyên thay đổi nơi ở và nơi canhtác, cuộc sống nay đây mai đó, chủ yếu là người đồng dân tộc thiểu số ở trên lãnh thổViệt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung), và lúc đó năng xuất cao nhất nhữngnăm đầu là 400-500kg/ha Sau đó thấp dần chỉ còn 100-150kg/ha (lý do là không phùhợp thổ nhưỡng nơi đây)
Hình 1: Thu hoạch cà phê Việt Nam thời Pháp thuộc
Trang 14Cà phê vối (Robusta), Cà phê mít (Excelsa Chari) bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam
Năm 1908 Pháp đưa vào Việt Nam hai loại cà phê mới đó là cà phê vối (có tên khoahọc là C.Robusta) và cà phê mít (tên khoa học là C.excelsa Chari) thay thế cho loại càphê chè (tên khoa học là Arabica) năng suất thấp, không thích hợp với thổ nhưỡng tạivùng này
Năm 1910 những đồn điền cà phê mới lại tiếp tục được gieo trồng tại các tỉnh khácnhư Hà Tỉnh, Yên Mỹ (Thanh Hóa), Nghĩa Đàn (Nghệ An)
Năm 1925 cà phê được phát triển ở Tây Nguyên (mốc son vàng cà phê Việt Nam),sau đó được trồng tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Bình Phước và rải xuống ĐồngNai
Cà phê được trồng với quy mô lớn hơn
Năm 1937-1938, tổng diện tích cà phê lúc này đạt 13,000 ha, và đạt sản lượng 1,500tấn cà phê nhân
Năm 1963, miền Bắc trồng được khoảng 10,000 ha cà phê tại các nông trường quốcdoanh, cà phê trồng tại đây chủ yếu là giống cà phê chè (Arabica), năng xuất khôngcao khoảng 400-600kg/ha và những vùng đất màu mỡ có thể đạt được 1 tấn/ha
Năm 1975, diện tích cà phê tại Miền Nam khoảng 10,000 ha trong đó nổi trội nhất
là ở Đắk Lắk (7,000 ha), Lâm Đồng (1,700 ha), Đồng Nai (1,300 ha) Giống cà phêđược trồng chủ yếu tại đây là loại cà phê vối (Robusta) Cà phê chè (Arabica) chủ yếuđược trồng tại Lâm Đồng
Năm 1994, tổng diện tích cà phê nước ta đạt 150,000 ha và tổng sản lượng đạt150,000 tấn, năng suất bình quân 1 tấn/ha Tại những khu vực đất màu mỡ, áp dụngphương pháp trồng mới và chăm sóc khoa học năng suất có thể đạt đến 2-3 tấn/ha.Đặcbiệt là tại nhiều khu vực sản lượng lên đến 8-10 tấn/ha
Việt Nam sản xuất từ 800,000 – 1 triệu tấn cà phê mỗi năm nhưng chỉ tiêu thụkhoảng 10%, số còn lại chủ yếu xuất khẩu thô Năm 1994 đến nay, mặc dù chính phủtiếp tục khuyến nghị duy trì diện tích cà phê của nước là 500,000 ha, do sức cạnh tranh
về giá của cây cà phê so với các loại cây trồng khác Nhưng diện tích gieo trồng cà phê
12