Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”, “Càng khó khăn, càng phải đẩy
Trang 1VÀ XÃ HỘI
Số: /BC-LĐTB&XH Bắc Giang, ngày tháng 8 năm 2020
BÁO CÁO
TỔNG KẾT PHONG TRÀO THI ĐUA VÀ CÔNG TÁC KHEN THƯỞNG GIAI ĐOẠN 2015 - 2020, PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ GIAI ĐOẠN 2020 - 2025
Thực hiện Kế hoạch số 16/KH-HĐTĐKT ngày 26/6/2019 của Hội đồng thi đua khen thưởng tỉnh về Kế hoạch tổ chức Hội nghị điển hình tiên tiến, Đại hội Thi đua yêu nước các cấp tiến tới đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Bắc Giang lần thứ V; Công văn số 3898/LĐTBXH-VP ngày 11/9/2019 của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội Hướng dẫn tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước cấp trên cơ sở tiến tới Đại hội Thi đua yêu nước ngành LĐTBXH lần thứ V năm 2020; Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tổng kết, đánh giá phong trào Thi đua và công tác khen thưởng giai đoạn 2015 - 2020 và đề ra phương hướng nhiệm vụ công tác Thi đua, khen thưởng giai đoạn 2020 - 2025 với những nội dung cụ thể như sau:
PHẦN THỨ NHẤT ĐÁNH GIÁ VIỆC TRIỂN KHAI, THỰC HIỆN PHONG TRÀO THI ĐUA
VÀ CÔNG TÁC KHEN THƯỞNG GIAI ĐOẠN 2015 - 2020
1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thi đua là yêu nước, yêu
nước thì phải thi đua”, “Càng khó khăn, càng phải đẩy mạnh thi đua”, trong 05
năm qua với tinh thần đoàn kết, sáng tạo, phong trào thi đua yêu nước của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã phát triển ngày càng sâu rộng; nội dung thi đua ngày càng được đổi mới, bám sát nhiệm vụ chính trị được giao góp phần cổ vũ, động viên cán bộ, công chức, viên chức, người lao động toàn ngành nỗ lực, đoàn kết phấn đấu, thống nhất vượt qua khó khăn thử thách, thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ chính trị toàn diện trên các lĩnh vực lao động, người có công và xã hội; góp phần tích cực bảo đảm công tác an sinh xã hội, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, ổn định
Nhằm tiếp tục tạo sự thống nhất trong nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành về vị trí, vai trò của công tác thi đua khen thưởng trong tình hình mới, Đảng ủy, Lãnh đạo Sở đã quán triệt đến từng cán bộ,
Trang 2công chức, viên chức, người lao động thực hiện nghiêm túc Luật Thi đua, khen thưởng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng ngày 16/11/2013; Nghị định 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua khen thưởng; Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”; Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 19/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm (2016-2020) theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và 05 nội dung do Thủ tướng Chính phủ phát động với chủ đề: “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 27/9/2017 của UBND tỉnh về phát động phong trào thi đua "Bắc Giang chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau"; Thông tư số 08/2019/TT-BLĐTBXH ngày 08/3/2019 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn công tác thi đua khen thưởng ngành Lao động – Thương binh và Xã hội; Quyết định 37/2018/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND tỉnh ban hành Quy định công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang…
Trên cơ sở Chương trình thi đua do UBND tỉnh Bắc Giang và Bộ Lao động- TB&XH phát động, Sở đã xây dựng Kế hoạch thi đua hằng năm Đồng thời chỉ đạo các tổ chức đoàn thể như Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh xây dựng kế hoạch và phát động các phong trào thi đua đến các đoàn viên, hội viên Nội dung phát động bám sát các chỉ tiêu của tỉnh, của ngành, là động lực để cán bộ công chức, viên chức và người lao động nêu cao tinh thần đoàn kết, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Hội đồng thi đua khen thưởng của ngành và các đơn vị trực thuộc đã làm tốt công tác bình xét, đánh giá, xếp loại các danh hiệu thi đua, khen thưởng cho các tập thể, cá nhân, đảm bảo công khai, dân chủ, khách quan, thành tích đến đâu, khen thưởng đến đó Các tập thể, cá nhân được khen thưởng thực sự có tác dụng nêu gương, phát huy tốt vai trò tiên phong gương mẫu trong công tác cũng như trong cuộc sống Nhờ vậy, trong 5 năm qua chất lượng công tác Thi đua khen thưởng trong toàn ngành ngày càng được cải thiện, hiệu quả được nâng lên
2 Gắn phong trào thi đua yêu nước với cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh”
Gắn liền với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 05/CT-TW của Bộ Chính trị, Đảng ủy, Lãnh đạo
Sở đã triển khai kế hoạch học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ
Trang 3Chí Minh bằng những việc làm cụ thể như: Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện nhiệm vụ cơ quan, đơn vị; tiếp tục đẩy mạnh phát huy dân chủ, gắn với tăng cường kỷ cương, nền nếp; duy trì và bảo đảm thực hiện nghiêm túc các nội quy, quy chế của chi bộ, đảng bộ và của cơ quan, đơn vị; Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; Học tập và làm việc theo phong cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh Tổ chức cho các chi bộ, đảng viên lựa chọn nội dung để tham gia ký cam kết tu dưỡng, rèn luyện theo tinh thần Chỉ thị 05-CT/TW gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII nhằm tạo sự chuyển biến tích cực về
tư tưởng của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, từ đó đã và đang chuyển từ “Học tập” sang “Làm theo” tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có đạo đức, có lối sống lành mạnh, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao
Hưởng ứng các phong trào thi đua do các cấp, các ngành phát động, các phòng, đơn vị trực thuộc đã cụ thể hóa thông qua việc phát động các phong trào thi đua phù hợp với đặc điểm, tình hình của đơn vị như: Phong trào “Thi đua học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, phong trào “Lao động giỏi - Lao động sáng tạo”, phong trào “Thi đua thực hiện tốt Chỉ thị 14-CT/TU của Tỉnh ủy về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính”, phong trào “Đẩy mạnh cải cách hành chính trong thực thi nhiệm vụ, công vụ”; qua đó tạo sức lan tỏa trong cán bộ, công chức, viên chức người lao động Việc triển khai các phong trào thi đua của Sở luôn bám sát các mục tiêu Nghị Quyết Đại hội Đảng các cấp và nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, nhiệm vụ chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế,
xã hội của tỉnh và nhiệm vụ chính trị của Ngành được giao hằng năm, nhất là nhiệm vụ trọng tâm được UBND tỉnh phê duyệt
3 Kết quả nổi bật đạt được qua các phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2015 - 2020
Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Thi đua, khen thưởng là động lực phát triển
và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới, thi đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên, liên tục hàng ngày” Trong 05 năm qua (2015 - 2020), Sở
Lao động - TB&XH tỉnh Bắc Giang đã tổ chức phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước gắn với các lĩnh vực lao động, người có công và xã hội Các phong trào này đã lôi cuốn được sự tham gia của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong Ngành, sự hưởng hứng của toàn xã hội, tạo động lực to lớn, góp
Trang 4phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Ngành và chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Phong trào thi đua đảm bảo chất lượng, hiệu quả tham mưu ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch, văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ đã được các phòng, đơn vị duy trì thường xuyên, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng hàng năm Với đặc điểm là cơ quan quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực,đối tượng quản lý rộng, các chính sách đang trong quá trình hoàn thiện, nhiều chính sách thường xuyên thay đổi Từ việc tổ chức tốt công tác thi đua mà trong 5 năm qua, toàn Ngành đã xây dựng trình Tỉnh ủy, HĐND, UBND và được thông qua nhiều văn bản quan trọng liên quan đến lĩnh vực Lao động, Người có công và Xã hội; Giám đốc Sở đã ban hành hàng nghìn văn bản hướng dẫn, chỉ đạo để thực hiện nhiệm vụ các lĩnh vực công tác của Ngành, góp phần cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trên địa bàn tỉnh Chất lượng các văn bản, đề án, cơ chế, chính sách của ngành tham mưu được Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, các ngành, các cấp đánh giá cao, đang được triển khai thực hiệu có hiệu quả
Với phong trào “Thi đua Dạy tốt - Học tốt”, phong trào “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học” và phong trào “Học tập vì ngày mai lập nghiệp”, công tác giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh không ngừng nâng cao về chất lượng, mở rộng về quy mô từ giáo dục cơ bản đến đào tạo nghề chuyên sâu; kỹ năng tay nghề và phẩm chất nghề nghiệp của học sinh, sinh viên ngày càng có tính cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước và ngoài nước Năng lực tuyển sinh, đào tạo nghề tăng
từ gần 30.000 người/năm (năm 2015) lên gần 36.000 người/năm (năm 2019), chú trọng trong tuyển sinh đào tạo nghề ở cấp trình độ cao: trung cấp và cao đẳng Ước kết quả tuyển sinh và đào tạo nghề của các cơ sở GDNN giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 161.190 người, đạt 113,1% kế hoạch, trong đó: Cao đẳng 4.930 người, đạt 123,3% kế hoạch; Trung cấp 13.500 người, đạt 112,4% kế hoạch; Sơ cấp và dạy nghề dưới 03 tháng134.881 người, đạt 107,9% kế hoạch Trên 90% sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, trên 80% học sinh tốt nghiệp trung cấp, sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng có việc làm sau đào tạo Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 50,5% năm 2015 lên 70% năm 2020, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng từ 33% năm 2015 lên 46,5% năm 2020 Hàng năm, các trường tích cực cử giáo viên tham gia Hội giảng giáo viên dạy nghề toàn tỉnh, Hội thi giáo viên dạy nghề toàn quốc Năm
2018, Sở đã lựa chọn, tổ chức Đoàn nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tham dự Hội giảng giáo viên dạy nghề toàn quốc tại Hà Nội Kết quả có 09/10 nhà giáo tham gia
Trang 5Hội giảng đạt giải, cụ thể: 02 giải nhì, 01 giải ba; 06 giải khuyến khích Toàn đoàn Bắc Giang đứng trong tốp 10 trên tổng số 56 đoàn tham dự
Công tác quản lý nhà nước về lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội được tăng cường Trong giai đoạn 2015-2020, Sở chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan, các cấp chính quyền triển khai kịp thời, nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh và Bộ Lao động - TB&XH về pháp luật lao động Về cơ bản các doanh nghiệp và người lao động đã chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật lao động Tính đến hết năm 2019, có 1.369 doanh nghiệp có
sử dụng từ 10 lao động trở lên đã thực hiện đăng ký thang lương, bảng lương, tỷ lệ đạt trên 80%; các doanh nghiệp đã thực hiện nghiêm túc các quy định về tiền lương, tiền lương bình quân năm 2019 đạt 6,957 triệu/người/tháng, tăng gấp gần 3 lần so với năm 2010 (2,32 triệu/người/tháng), bình quân hằng năm tăng từ 6-8 % so với năm trước Việc chấp hành các quy định về pháp luật BHXH ngày càng đi vào
nề nếp Sở đã phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, địa phương tiếp tục triển khai thực hiện Kế hoạch số 56/KH-UBND ngày 04/5/2018 của UBND tỉnh về việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018 - 2020 Tham mưu, triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra trong kế hoạch Đến hết năm 2019 số người tham gia BHXH là 277.743 người, tăng 16,57% người so với cùng kỳ năm 2018 và đạt 111,95% kế hoạch năm 2019; tỷ lệ các doanh nghiệp đang hoạt động có đối tượng bắt buộc tham gia BHXH cho người lao động đã đạt 87,55% trong tổng số doanh nghiệp có đối tượng bắt buộc tham gia BHXH, tăng 15,38% so với năm
2018, đạt 109,43% kế hoạch năm 2019; số doanh nghiệp được ra thông báo đạt 140% theo kế hoạch…
Trong lĩnh vực việc làm, công tác phát triển thị trường lao động đã được đẩy
mạnh, chất lượng, số lượng các phiên giao dịch việc làm được nâng cao (Số phiên
giao dịch việc làm tăng từ 35 phiên/năm 2015 lên 73 phiên/năm 2019), các chính
sách tín dụng ưu đãi để hỗ trợ tạo việc làm được triển khai rộng rãi Hoạt động thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp được các sở, ngành, địa phương thực hiện có hiệu quả; công tác tuyên truyền, tư vấn, định hướng nghề nghiệp trên các phương
tiện thông tin đại chúng được thực hiện thường xuyên (bình quân mỗi năm phát
hành 5.000 đến 7.000 tờ rơi phổ biến thông tin về nhu cầu tuyển lao động cho người người; phát hành 5.000 tờ rơi tuyên truyền về các thị trường XKLĐ); hàng
năm các ngành, địa phương đều tiến hành điều tra, thu thập thông tin về nhu cầu tuyển lao động của các doanh nghiệp, đồng thời nắm thông tin về thực trạng việc
Trang 6làm, tình trạng thất nghiệp của người lao động để kết nối cung - cầu; chỉ đạo các địa phương phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng chính sách xã hội triển khai có hiệu quả công tác vay vốn giải quyết việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm; triển khai thực hiện tốt các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp; mỗi năm thu hút từ 25 - 30 doanh nghiệp có giấy phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài về tuyển lao động và phối hợp với Bộ Lao động - TB&XH thực hiện các chương trình hỗ trợ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài,… Kết quả giai đoạn 2015-2019 toàn tỉnh đã tạo việc làm mới cho: 166.327 lao động trong đó, giải quyết việc làm thông qua xuất khẩu lao động cho 20.096 người1 Qua đó đã làm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm từ 3,8% trong năm 2015 xuống còn 3,2% vào năm 2019; tỷ lệ lao động của tỉnh làm việc trong lĩnh vực nông – lâm – thủy sản giảm từ 56% năm 2015 xuống còn 39,9% vào năm 2019 (giảm 16%)
Công tác an toàn, vệ sinh lao động được triển khai thực hiện có hiệu quả với sự tham gia hưởng ứng ngày càng nghiêm túc của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tuần lễ quốc gia về an toàn - vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ; thánh hành động
về an toàn, vệ sinh lao động hàng năm đã được quan tâm hưởng ứng của các cấp, các ngành, các địa phương và đông đảo người sử dụng lao động, người lao động trên địa bàn tỉnh tham gia Qua đó, đã hạn chế được các tai nạn, sự cố đặc biệt nghiêm trọng
Trong lĩnh vực người có công với cách mạng, các chế độ, chính sách đối với người có công và thân nhân tiếp tục được triển khai thực hiện đầy đủ, nề nếp, đúng quy định hằng năm chi trả đúng, đủ trợ cấp hàng tháng cho gần 30 ngàn đối tượng2 Công tác xã hội hoá nhằm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công được triển khai sâu rộng qua các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa’’,“Uống nước nhớ nguồn’’, xã- phường làm tốt công tác Thương binh, Liệt sỹ… Các chỉ tiêu xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch; đã xây mới, sửa chữa, nâng cấp gần 500 nhà ở, tặng 400 sổ tiết kiệm; 100 bà Mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng suốt đời; các công trình nghĩa trang, đài tưởng niệm, bia ghi tên liệt sỹ được quan tâm xây dựng, tu sửa Nhân dịp Tết nguyên đán và ngày Thương binh liệt sỹ (27/7) hàng năm đã làm tốt công tác chăm sóc, thăm hỏi, động viên đời sống vật chất, tinh thần cho thương binh và gia đình liệt sỹ; kịp thời thực hiện các chế độ
1 06 tháng đầu năm 2020 toàn tỉnh tạo việc làm mới cho 14.500 lao động, trong đó: Việc làm trong nước 13.650 người và xuất khẩu lao động là
850 người
2 Toàn tỉnh có 72 mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" (hiện 39 mẹ còn sống); giải quyết chế độ thờ cúng cho 2.300 thân nhân liệt sỹ và giải quyết chế độ cho trên 1.000 người người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độ hóa học và con đẻ của họ; đề nghị cấp, đổi lại Bằng Tổ quốc ghi công cho trên 1.000 trường hợp; trên 12.000 người có công được giải quyết mai táng phí và trợ cấp một lần; trên 6.000 trường hợp thân nhân người có công được hưởng trợ cấp tuất; hàng năm thực hiện đầy đủ cấp thẻ BHYT cho trên 100.000 người có công và thân nhân của họ
Trang 7ưu đãi về giáo dục cho học sinh sinh viên và dụng cụ chỉnh hình cho thương binh, bệnh binh theo quy định; đã điều dưỡng tập trung và tại gia đình cho trên 50 ngàn lượt người có công với cách mạng; duy trì, giữ vững 100% xã, phường, thị trấn làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng
Trong lĩnh vực Giảm nghèo, đã tổ chức, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu
quả các Chỉ thị, Nghị quyết của Chính phủ; Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 và các chính sách giảm nghèo riêng của tỉnh, trong đó ưu tiên thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số; thôn, bản, xã đặc biệt khó khăn, xã an toàn khu Thông qua việc thực hiện các
chính sách, chương trình, dự án về giảm nghèo, phong trào thi đua “Bắc Giang
chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” và Cuộc vận động
“Ngày vì người nghèo” đã tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ
xã hội cơ bản, thay đổi nhận thức vươn lên làm giàu; nhiều hộ có đơn xin tự thoát nghèo, tạo luồng gió mới trong công tác giảm nghèo của tỉnh Hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu về điện sinh hoạt, đường giao thông, trường học, cơ sở chăm sóc sức khỏe nhân dân, nước sinh hoạt…ở huyện nghèo, các xã nghèo được tăng cường; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện, nâng lên đáng kể, bộ mặt nông thôn, miền núi có nhiều đổi mới.3 Tính đến đến cuối năm 2019, toàn tỉnh còn 23.286 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 5,05%; giảm so với năm 2015 là 8,88% tương
ứng giảm 37.459 hộ nghèo, bình quân giảm 2,22%/năm (vượt chỉ tiêu Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ tỉnh 0,22%/năm); tỷ lệ hộ nghèo các xã đặc biệt khó khăn giảm
bình quân 7,13%/ năm Toàn tỉnh không còn hộ nghèo là người có công với cách mạng và không để phát sinh mới
Trong lĩnh vực bảo trợ xã hội, chính sách trợ giúp xã hội đã được chính quyền các cấp, các đơn vị chức năng của tỉnh quan tâm chỉ đạo, triển khai kịp thời
và tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả, đến nay về cơ bản đã bao phủ hết số đối tượng bảo trợ xã hội có đủ điều kiện hưởng chính sách trên địa bàn toàn tỉnh Trong giai đoạn 2016-2019, toàn tỉnh đã thực hiện trợ cấp thường xuyên cho 242.800 lượt đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng, kinh phí bình quân 250 tỷ đồng/năm; nuôi dưỡng tập trung trên 1.300 đối tượng BTXH trong các cơ sở bảo trợ xã hội trong
và ngoài công lập Thường xuyên nắm chắc tình hình đời sống nhân dân, chủ động tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt chính sách cứu trợ thường
3 Hết năm 2019, toàn tỉnhcó 3.609 hộ nghèo được hỗ trợ nhà ở ( trong đó 1.831 nhà đại đoàn kết) trên 113nghìn lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn ưu đãi với tổng dư nợ trên 4.200 tỷ đồng; trên 1,68 triệu người tham gia BHYT đạt tỷ lệ bao phủ 99,28% người
dân của tỉnh có thẻ BHYT (vượt 11,85% chỉ tiêunăm 2019 của Thủ tướng Chính phủ giao cho tỉnh Bắc Giang);có 114/203 đơn vị cấp xã và
03/10 đơn vị cấp huyện là Việt Yên, Lạng Giang đạt chuẩn huyện nông thôn mới và thành phố Bắc Giang có 100% số xã đạt chuẩn n ông thôn mới Kết quả đó đã góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh
Trang 8xuyên, đột xuất cho hàng nghìn đối tượng bảo trợ xã hội, thăm, tặng quà các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn nhân dịp ngày Lễ, Tết Nguyên đán
Trong lĩnh vực bảo vệ chăm sóc trẻ em, Luật trẻ em, các chương trình, kế
hoạch, đề án về bảo vệ, chăm sóc trẻ em giai đoạn 2016-2020 tiếp tục được các cấp, các ngành, các tổ chức, đoàn thể và toàn xã hội quan tâm thực hiện có hiệu quả Đến hết năm 2019, toàn tỉnh có 225/230 bằng 97,8% đơn vị cấp xã đạt tiêu
chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em (theo Quyết định số 34/QĐ-TTg
ngày 30/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ); Giảm tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
xuống dưới 2,5% so với tổng số trẻ em; có trên 95% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, tái hòa nhập và có cơ hội phát triển đạt 105%
kế hoạch Nhìn chung trẻ em của tỉnh ngày càng được hưởng đầy đủ hơn các quyền
cơ bản theo quy định Công tác phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em được quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh đã chủ động, tích cực vận động các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ: Trao học bổng, trợ cấp cho trẻ em nghèo, tặng quà, khám bệnh, phẫu thuật
miễn phí cho trẻ em, xây dựng các công trình vì trẻ em…
Trong lĩnh vực bình đẳng giới, các phong trào hoạt động, tuyên truyền nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực trên cơ sở giới cho cán bộ, nhân dân thông qua các ngày lễ: Quốc tế Phụ nữ (8/3), Quốc tế hạnh phúc 20/3, Gia đình Việt Nam (28/6), ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10) được duy trì, triển khai có hiệu quả Chỉ đạo thực hiện tốt Luật Bình đẳng giới, các chương trình, kế hoạch, các mục tiêu về bình đẳng giới giai đoạn 2016 – 2020 Tạo bước chuyển biến mạnh
mẽ trong nhận thức về bình đẳng giới; thúc đẩy giảm khoảng cách giới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
Trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội, thi đua thực hiện phong trào
“Toàn dân tích cực tham gia đấu tranh và tố giác các tệ nạn xã hội’’, phong trào
"Nâng cao chất lượng cai nghiện, giáo dục, chữa trị, cảm hoá người nghiện ma tuý", Sở Lao động - TB&XH đã chủ động phối hợp với các ngành thành viên có liên quan trong Ban chỉ đạo Phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội và xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc từ cấp tỉnh tới cấp xã để huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia công tác phòng chống ma túy, phòng chống tệ nạn mãi dâm qua việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, cơ quan, chính quyền và các tổ chức chính trị ở cơ sở Đã tổ chức tuyên truyền, vận động cộng đồng tham gia phòng chống ma túy, phòng chống tệ nạn mại dâm ở cơ sở, phát hiện, tố giác tội phạm, quản lý đối tượng, quản lý địa bàn và tổ
Trang 9chức cai nghiện, điều trị tự nguyện, hỗ trợ người nghiện đi cai tự nguyện, tái hòa nhập cộng đồng Duy trì tốt hoạt động quản lý, giáo dục, chữa bệnh và dạy nghề cho gần
400 học viên tại Cơ sở cai nghiện ma túy; điều trị bằng thuốc methadone cho gần 180 người; đã tổ chức kiểm tra 881 lượt cơ sở kinh doanh dịch vụ giải trí nhạy cảm dễ phát sinh tệ nạn xã hội, nhắc nhở 145 cơ sở, tạm dừng hoạt động kinh doanh 19 cơ
sở; đề nghị xử phạt vi phạm hành chính 22 cơ sở, với số tiền 75,45 triệu đồng Việc
kiểm tra kết hợp với tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các đơn vị, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của phát luật về phòng chống tệ nạn mại dâm đã thức đẩy
kinh doan lành mạnh, giảm thiểu tác hại của tệ nạn mãi dâm đối với đời sống xã hội
Trong công tác thanh tra, kiểm tra, hàng năm, cơ bản kế hoạch thanh tra được hoàn thành kịp thời, có chất lượng; trong 5 qua (2015-2020), đã tổ chức thanh tra hành chính về trách nhiệm người đứng đầu trong thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với 06 đơn vị trực thuộc Sở; thanh tra chuyên ngành đối với 146 đơn vị, ban hành 126 quyết định xử lý vi phạm hành chính4; tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh ban hành 03 quyết định xử phạt vi phạm hành chính5, kịp thời giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội Nghiêm túc triển khai, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ trong công tác thanh tra, tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng Trong nhiệm kỳ qua, đã tiến hành 06 cuộc kiểm tra; thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành đối với 06 đơn vị trực thuộc Hàng năm giải quyết được 95% số lượng đơn thư tiếp nhận.Thực hiện tốt việc tiếp công dân Tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; không
có đơn thư tồn đọng vượt cấp
Thi đua thực hiện cải cách hành chính, xây dựng các sáng kiến nhằm nâng
cao hiệu quả công tác được quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện Sở đã chỉ đạo
thực hiện tốt Chỉ thị số 14-CT/TU ngày 04/7/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chấn chỉnh lề lối làm việc và nâng cao trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức Các chi bộ, đơn vị trực thuộc Sở đã thực hiện tốt việc tự kiểm điểm, đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành đơn vị; rà soát, bổ sung chức năng, nhiệm vụ; xây dựng, thực hiện chương trình
4 Trong đó: 03 cuộc thanh tra chuyên ngành về việc quản lý, sử dụng, chi trả trợ cấp Người có công và việc thực hiện chính sách đối với Người có công tại phòng Lao động - TB&XH huyện Yên Thế, Lục Nam, Tân Yên; 02 cuộc thanh tra công tác quản lý nhà nước trong việc thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội tại phòng Lao động - TB&XH huyện Sơn Động, Hiệp Hòa; thanh tra việc thực hiện pháp luật Luật Lao động, Luật Bảo hiểm Xã hội đối với 141 doanh nghiệp); đã thực hiện ban hành 126 quyết định xử lý vi phạm hành chính, tổng số tiền 1.984.850.346 đồng (qua thanh tra thực hiện ban hành 49 quyết định xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực lao động, BHXH, số tiền 959.350.346 đồng; qua kiểm tra, điều tra ban hành 77 quyết định xử lý vi phạm hành chính, số tiền: 1.025.500.000 đồng);
5 số tiền trên 489,4 triệu đồng; kiến nghị, đình chỉ thu hồi chế độ của 19 đối tượng người có công do hồ sơ không đúng quy định của pháp luật;
Trang 10công tác tháng/quý/năm 100% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của
cơ quan, đơn vị thực hiện tốt các quy định của Đảng, Nhà nước, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị Duy trì kiểm tra thường xuyên, đột xuất việc thực thi công vụ tại đơn vị; công tác quốc phòng, an ninh; xây dựng đơn vị tự vệ vững mạnh, chế
độ bảo mật, phòng gian, đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình”; bảo vệ
tài sản của nhà nước, đáp ứng yêu nhiệm vụ trong tình hình mới
Chỉ đạo thực hiện đồng bộ cải cách hành chính, tinh giảm biên chế, rút gọn
bộ máy; chú trọng hiện đại hóa nền hành chính và cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin thực hiện hệ thống một cửa điện tử, một cửa điện tử liên thông 3 cấp tỉnh, huyện, xã6 Qua đó đã giúp rút ngắn quy trình và nâng cao chất lượng, hiệu suất công việc, giúp người dân tiết kiệm thời gian, chi phí Công tác tiếp nhận, trả kết quả được thực hiện nề nếp Mô hình quản lý theo tiêu chuẩn chất lượng ISO; văn bản đi – đến bằng phần mềm công nghệ, thực hiện chữ
ký số tổ chức, ký số đối với lãnh đạo Sở; tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức thực thi công vụ, người dân và doanh nghiệp đến làm việc
Phong trào thi đua “Xây dựng các đề tài nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm” để cải tiến, đổi mới phương pháp làm việc, tích cực sáng tạo, nâng cao hiệu quả công tác Xác định đây là hoạt động nghiên cứu khoa học đúc rút kinh nghiệm trong thực tiễn công tác, nhiều đồng chí đã say sưa, tâm huyết tích lũy, góp nhặt để có được những sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp công tác, xây dựng các văn bản, đề án để áp dụng vào thực tiễn, nhằm tăng hiệu quả công tác Toàn ngành đã có 112 sáng kiến, đề tài của tác giả, nhóm tác giả đăng ký và được công nhận sáng kiến cấp cơ sở trong đó có 02 đề tài cấp cơ sở được cấp kinh phí nghiên cứu Các sáng kiến đều là những giải pháp, cách làm hay được áp dụng có hiệu quả trong quá trình giải quyết công việc
4 Thành tích khen thưởng đã đạt được và công tác xây dựng, nhân rộng điển hình tiên tiến (2015-2020)
Trong 5 năm qua, nhiều tập thể đã phát huy những kết quả, thành tích đạt được của nhiều năm trước, xây dựng đơn vị vững mạnh, duy trì và phát triển phong trào thi đua yêu nước có nhiều khởi sắc, biết chọn lọc những cái hay, cái tốt, cái mới để áp dụng trong điều kiện cụ thể của đơn vị mình một cách linh hoạt, sáng
6 Trong giai đoạn 2015-2020, Sở Lao động - TB&XH đã Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông thực hiện có hiệu quả hệ thống “Một cửa điện tử liên thông” giải quyết 10 thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực người có công đến 10 huyện, thành phố Hoàn thành việctrang bị máy scan, máy vi tính cấu hình cao cho 100% cán bộ làm công tác Lao động Thương binh và Xã hội cấp tỉnh, huyện, xã; xây dựng và ứng dụng 15 phần mềm quản lý đối tượng của Ngành, đưa trên 90% đối tượng của ngành quản lý qua phần mềm được duy trì nề nếp Từ 01/01/2016 đến hết tháng 10/2019 tiếp nhận 77.267 hồ sơ, bình quân mỗi năm, Sở tiếp nhận và giải quyết 16.629 hồ sơ của tổ chức và công dân chuyển đến, trong đó có trên 30% số hồ sơ được trả trước hạn; số hồ sơ còn lại được trả đúng hạn, không có hồ sơ tồn đọng; cắt giảm thời gian giải quyết của 17 TTHC liên thông 03 cấp (tỉnh, huyện, xã) và 02 TTHC liên thông 02 cấp (tỉnh, huyện)