1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Hãy phân tích các biện pháp để phát triển nguồn lao động trong lao động việt nam

20 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hãy phân tích các biện pháp để phát triển nguồn lao động trong lao động Việt Nam
Tác giả Đồng Thị Tuyết Trinh
Trường học Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 184,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN Chủ đề Hãy phân tích các biện pháp để phát triển nguồn lao động trong lao động Việt nam Họ và tên Đồng Thị Tuyết Trinh MSV 11154690 Lớp QTNL 57B[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Chủ đề : Hãy phân tích các biện pháp để phát triển nguồn lao động trong

lao động Việt nam

Họ và tên : Đồng Thị Tuyết Trinh

MSV : 11154690

Lớp : QTNL 57B

Tên học phần : KTNN 11

Hà Nội, Tháng 04 năm 2017

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội, con người đã sử dụng một lượng nhất định của các yếu tố về sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động được kết hợp với nhau theo một công nghệ nhất định, với một không gian và thời gian cụ thể Các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất không ngừng được tái sản xuất

mở rộng nhằm tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất và dịch vụ Tất cả những tài nguyên hiện đang được sử dụng hoặc có thể được sử dụng vào sản xuất của cải vật chất hoặc dịch vụ được gọi là những yếu tố nguồn lực Như vậy, về mặt kinh tế các yếu tố nguồn lực của sản xuất là phạm trù kinh tế dùng để chỉ những nguồn tài nguyên tự nhiên, kinh tế và xã hội đã, đang và sẽ được sử dụng cho hoạt động kinh tế để tạo ra của cải vật chất hay dịch vụ đáp ứng yêu cầu xã hội nhất định

Trong nông nghiệp, các yếu tố nguồn lực có thể tồn tại dưới hình thái vật chất, bao gồm: đất đai, máy móc, thiết bị, kho tàng, nguyên nhiên vật liệu, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thức ăn gia súc, sức lao động với kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất nhất định.v.v Nguồn lực sản xuất của nông nghiệp cũng có thể tồn tại dưới hình thái giá trị Người ta sử dụng đồng tiền làm thước đo để định lượng và quy đổi mọi nguồn lực khác nhau về hình thái vật chất được sử dụng vào nông nghiệp thành một đơn vị tính toán thống nhất

Điều cần nhấn mạnh là các yếu tố nguồn lực trong nông nghiệp là những tài nguyên quý hiếm và có hạn Những đặc điểm của các yếu tố nguồn lực sử dụng vào nông nghiệp gắn liền với những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và biểu hiện trên các mặt sau:

Dưới tác động của yếu tố đất đai và thời tiết -khí hậu đa dạng phức tạp dẫn đến việc sử dụng các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp mang tính khu vực và tính thời vụ

rõ rệt

Nguồn lực đất đai rất có hạn, trong điều kiện nước ta, mức diện tích tự nhiên theo đầu người thấp hơn thế giới tới 6 lần (0,55ha/3,36h) xếp vào hàng thứ 135, thuộc nhóm các nước có mức bình quân đất đai thấp nhất thế giới Trong đó bình quân đất nông nghiệp nước ta đạt 0,1ha/người, bằng 1/3 mức bình quân thế giới

Tiềm năng về nguồn lực sinh học đa dạng, phong phú nhưng chưa được khai thác có hiệu quả, một số cây trồng vật nuôi chưa được coi trọng để chọn lọc, bồi dục Một số giống mới được chọn lọc, lai tạo có năng suất cao nhưng chưa đáp ứng yêu cầu mở rộng diện tích, sản xuất

Nguồn lực về vốn trong nông nghiệp nước ta đang là yếu tố hạn chế Vốn tự có trong nông dân ít ỏi Nguồn vốn ngân sách còn mỏng, nguồn thu cho ngân sách thấp và chưa ổn định, hàng năm ngân sách còn bội chi Vì thế phải tính toán lựa chọn để sử dụng có hiệu quả yếu tố nguồn lực hạn chế này, từng bước tăng lực nội sinh và tạo thêm nguồn tích luỹ

từ tiết kiệm ở trong nước

Trang 3

Nguồn nhân lực của nước ta rất phong phú, hiện lao động nông nghiệp còn chiếm gần 70% tổng lao động xã hội, nhưng chưa được sử dụng hợp lý, một bộ phận sức lao động đáng kể thiếu việc làm, thu nhập thấp, nhất là những vùng đất chật người đông

Trong quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cần thiết phải tính toán, tìm kiếm các giải pháp để sử dụng các yếu tố nguồn lực hạn chế của nước ta hợp lý và có hiệu quả Một mặt phải nhanh chóng khắc phục tình trạng lạc hậu về khoa học và công nghệ, mặt khác phải biết khai thác lợi thế so sánh của nền nông nghiệp nhiệt đới, á nhiệt đới để sản xuất các loại nông sản đưa ra thị trường quốc tế

Các nguồn lực trên đều được ưu tiên cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó có nguồn nhân lực giữ vị trí then chốt, quyết định cho sự thành bại của công cuộc đổi mới này

Cả 3 lĩnh vực kinh tế: Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ chúng ta đều không xem nhẹ cái nào Tất cả đều phải phát triển, tất cả đều có yêu cầu nguồn nhân lực tốt Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn hiện nay nguồn nhân lực vừa thừa lại vừa thiếu Thừa là thừa lao động chân tay, lao động giản đơn; Thiếu là thiếu lao động tay nghề cao, thiếu người quản lý, tổ chức giỏi Cả hai điều đó đều tác động xấu và cản trở sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn

Để nông nghiệp, nông thôn phát triển tốt, tương xứng với kỳ vọng phát triển đất nước, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, nghĩa là khi đó nông nghiệp, nông thôn đạt mức độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cơ bản, lực lượng lao động trong nông nghiệp và ở nông thôn lúc này phải đảm bảo là động lực duy trì và phát triển

Như vậy nông nghiệp, nông thôn nước ta phải có nguồn nhân lực tốt, điều đó không

tự nhiên có được mà phải thực hiện đào tạo Trong bài nghiên cứu này em sẽ chú trọng tập trung tìm hiểu, phân tích về nguồn nhân lực – 1 nhân tố quan trọng trong 5 nguồn lực trong tăng trưởng và phat triển nông nghiệp Qua đó để thấy được thực trạng và đề xuất giải pháp để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp ở nước ta

NỘI DUNG

Trang 4

I VAI TRÒ CỦA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

1 Quan niệm về nông nghiệp, nông thôn

- Nông thôn: Là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm

tỷ trọng lớn, nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ về kinh tế, chính trị, văn hoá… Nông thôn không đơn thuần là khu vực xã hội mà cũng là khu vực kinh tế - kinh tế nông thôn trong địa bàn nông thôn ngoài nông nghiệp cũng có công nghiệp dịch vụ thường gọi là các hoạt động phi nông nghiệp.Việc phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn đồng thời cũng là tăng

tỷ lệ hoạt động phi nông nghiệp

- Kinh tế nông thôn: là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn, kinh

tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế… vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp và nông thôn Xét về mặt kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiều ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, tiêu thụ công nghiệp,dịch vụ nhưng nếu xét về mặt kinh tế xã hội kinh tế nông thôn cung bao gồm nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế hộ gia đỡnh, kinh tế tập thể …xét về không gian lãnh thổ bao gồm các vùng chuyên canh và vùng độc canh…

-Nông nghiệp: Theo nghĩa hẹp nó là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng vật nuôi đã rạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp

Như vậy: Nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tư nhiên Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động thấp, là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ còn gặp nhiều khó khăn vì thế nông nghiệp cần được nhà nước quan tâm hơn nữa để không còn hiện tượng đựơc mùa mà thu nhập của nông dân không tăng Nêu trường hợp này vẫn bị xảy ra liên tục trong nhiều mùa sẽ làm mất đi động lực phat triển của nông nghiệp

2 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn

- Cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội

Đây là một nhu cầu thiết yếu của con người không thể thiếu lương thực, thực phẩm.sự phỏt triển của nông nghiệp có ý nghĩa quam trọng là cơ sở phát triển các mặt khác của đời sống

xã hội

- Cung cấp nguyên liệu đi phát triển công nghiệp nhẹ

Trang 5

Nhưng ngành công nghiệp nhẹ: chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp dệt.Tăng trưởng của các nganh công nghiệp nhẹ phụ thuộc vào tăng trưởng của số lượng nguyên liệu

- Cung cấp một phần vốn để công nghiệp hoá

Vốn có vai trò cực kì quan trọng trong việc đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước Là một nước nông nghiệp do vậy phat triển kinh tế nông thôn sẽ gúp phần tăng thêm đồng vốn cho đất nước

-Nông nghiệp, nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu nông nghiệp, nông thôn phần lớn tập trung lao động, dân cư do đó đây là thị trường quan trọng của công nghiệp và dịch vụ Nông nghiệp nông thôn càng phát triển thì nhu cầu về hàng hoá, tư liệu sản xuất như: thiết bị nông nghiệp, điện năng, phân bón… càng tăng Mặt khác sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn làm cho mức sống, mức thu nhập của dân cư nông thôn càng tăng lên Nhu cầu về sản phẩm công nghiệp ti vi, tủ lạnh, xe máy… và nhu cầu dịch vụ, văn hoá, y tế, giáo dục… cũng tăng hơn

- Phát triển nông nghiệp, nông thôn là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị, xã hội

Phát triển kinh tế nông thôn là cơ sở ổn định để phát triển nền kinh tế quốc dân Thực tiễn phát triển kinh tế từ tình trạng lạc hậu đến văn minh và tiến bộ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đã cho thấy: Kinh tế nông thôn với nội dung kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng và thuỷ sản ở giai đoạn đầu khi công nghiệp và đô thị còn chưa phát triển đã giữ vị trí bao trùm Song cùng với sự gia tăng mức độ công nghiệp hoá và đô thị hoá nền kinh tế, kinh tế nông thôn dần thu hẹp cả về nội dung sản xuất nông nghiệp và không gian lãnh thổ Hoạt động nông nghiệp dã có hàng nghìn năm kể từ khi con người từ bỏ săn bắn hái lượm tự nhiên để kiế sống

Lý luận và thực tế đã chứng minh rằng nông nghiệp đóng vai trò to lớn trong phát triển kinh tế Trừ một vài ngoại lệ có tính đặc thù rất cao, hầu hết các nước đã phải dựa vào sản xuất nông nghiệp để tạo ra một sản lượng lương thực cần thiết, đủ nuôi sống dân tộc mình vào tạo nền tảng cho các ngành các hoạt động kinh tế khác phát triển

Từ những chứng minh trên ta đã có thể thấy rõ sự quan trọng của việc phát triển kinh tế nông thôn mỗi quốc gia, đặc biệt là với một nước nông nghiệp như Việt Nam thì việc thúc đẩy kinh tế nông thôn càng quan trọng hơn nó quyết định sự phát triển kinh tế, sự giàu mạnh của đất nước

Trang 6

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.

1 Lý luận về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực cho nông nghiệp và nông thôn.

1.1 Nguồn nhân lực.

Dưới đây là một số khái niệm về nguồn nhân lực:

- Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức

và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế

- xã hội trong một cộng đồng

- Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công tác kế hoạch hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi)

Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ Trong đó lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp) Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động

1.2 Nguồn nhân lực cho nông nghiệp và nông thôn.

Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu là:

- Nguồn nhân lực cho nông nghiệp hay nguồn lực con người cho nông nghiệp bao gồm lực lượng lao động trong nông nghiệp và lao động dự trữ cho nông nghiệp

- Nguồn nhân lực cho nông thôn hay nguồn lực con người cho nông thôn bao gồm lực lượng lao động hiện có đang phục vụ cho nông thôn và lao động dự trữ sẽ phục vụ cho nông thôn cũng như sẽ có ở nông thôn Nguồn nhân lực này bao gồm cả số lượng lao động sẽ từ nông thôn chuyển cho khu vực đô thị và của khu vực đô thị cung cấp cho nông thôn

1.3 Đào tạo nguồn nhân lực, chủ trương chủ yếu cho đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn.

Theo giáo trình kinh tế lao động “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định và chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định Đào tạo gồm đào tạo kiến thức phổ thông và đào tạo kiến thức chuyên nghiệp”

Với nguồn nhân lực thì đào tạo luôn đi liền với phát triển Theo nghĩa rộng: phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động Theo nghĩa hẹp: phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức hoặc phát triển khả năng nghề nghiệp của họ (giáo trình QTNL)

Phát triển xét trên phạm vi phát triển con người thì đó là sự gia tăng giá trị cho con người

về cả tinh thần, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng…lẫn thể chất Phát triển nguồn lực con người

Trang 7

nhằm gia tăng các giá trị ấy cho con người, làm cho con người trở thành những người lao động

có năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội

Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn được cụ thể hoá là: “Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại cho nông dân; đào tạo nghề cho bộ phận con em nông dân để chuyển nghề, xuất khẩu lao động; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ sở Hình thành chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo hàng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn Thực hiện tốt việc xã hội hoá công tác đào tạo nghề” Đây là một chủ trương lớn của Đảng nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn

III THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM.

1 Quy mô nguồn nhân lực nông thôn.

Cuộc điều tra lao động và việc làm 01/07/2003 được Bộ lao động - Thương binh và xã hội phối hợp với Tổng cục thống kê thực hiện đã cung cấp thông tin làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch hàng năm và 5 năm về lao động và việc làm, đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết IX của Đảng về chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị và khu vực nông thôn

Lực lượng lao động hay còn gọi là dân số họat động kinh tế bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc trong thời kỳ điều tra

Tại thời điểm 01/07/2003 lực lượng lao động từ đủ 15 tuổi trở lên của cả nước là 42.128.343 người

Bảng1: Dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo trình độ học vấn

khu vực nông thôn năm 2002

Vùng kinh tế Tổng số Chưa biết chữ

Chưa tốt nghiệp tiểu học

Đã tốt nghiệp tiểu học

Đã tốt nghiệp

PT cơ sở

Đã tốt nghiệp

PT trung học

Trang 8

Đồngbằng sông

Nguồn: Niên giám thống kê lao động thương binh và xã hội 2002 - Nxb Lao Động xã hội 2003, tr

23 -26.

2 Chất lượng nguồn nhân lực nông thôn.

Một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững cần dựa vào ba yếu tố cơ bản là: áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Quá trình phát triển nguồn nhân lực con người là quá trình biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu

để ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế Trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hiện nay chúng ta càng nhận thức rõ vai trò quyết định của nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực có chất lượng cao vốn là yếu tố vật chất quan trọng đối với sự phát triển lực lượng sản xuất

Là một quốc gia đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo song tình hình sức khoẻ của người lao động nông thôn còn hạn chế nhất là về cân nặng và chiều cao Điều này chịu ảnh hưởng rất lớn của việc sinh hoạt ăn uống hàng ngày hay nói đúng hơn là bị chi phối bởi mức thu nhập

Theo số liệu điều tra về thực trạng thể lực của lao động tại Vịêt Nam, nguồn nhân lực việt Nam có thể lực kém, thể hiện qua các chỉ số về chiều cao, cân nặng trung bình sức bền Cụ thể là trong khi chiều cao trung bình của người lao động Việt Nam là 1,50m, cân nặng 39kg thì các con

số tưong ứng của người Philippines là 1,53m, 45,5kh: người Nhật là 1,64cm: 53,3kg Số người không đủ tiêu chuẩn về cân nặng ở Việt Nam tới 48,7%, số người lớn suy dinh dưỡng là 28%, phụ nữ thiếu máu là 40% (số liệu điều tra năm 2000) Đây là vấn đề khá nghiêm trọng, nên không được giải quyết sớm sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sau này

3 Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực

- Xét trên góc độ việc làm

Trang 9

Trong những năm đổi mới vừa qua Việt nam đã đạt dược những thành tựu kinh tế to lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp Tuy vậy, nông thôn Việt nam hiện đang chiếm hơn 70 % lao động xã hội và thách thức lớn nhất trong khu vực này là tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm của người lao động đang rất lớn và có thể tiếp tục gia tăng

Theo số liệu điều tra của Bộ lao động - Thương binh và xã hội và Tổng cục thống kê, số lao động thiếu việc làm trong khu vực nông thôn năm 1998 là 8.219.498 người, chiếm 28,19% tổng số lao động hoạt động kinh tế thường xuyên của khu vực (năm 1997 tỷ lệ này là 25,47%) Trong đó, nữ có 382.616 người, chiếm 12,85% so với tổng số người thiếu việc làm và bằng 26,19% tổng số lao động nữ đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên ở khu vực này Số người thiếu việc làm tập trung nhiều nhất ở nhóm tuổi 15 - 24 (chiếm 34,03%), tiếp đến là nhóm tuổi từ 25 - 34 (chiếm 28, 24%), và thấp nhất là nhóm tuổi 60 trở lên( chiếm 15,76%) So với năm 1996, số người thất nghiệp ở nhóm tuỏi 15- 24 tăng khoảng 1,1%, nhưng ở lứa tuổi 25-34 lại giảm 1,15%

Trên 7 vùng lãnh thổ, khu vực nông thôn của ĐBSH (đồng bằng Sông Hồng) có tỷ lệ thiếu việc làm cao nhất (37,78%), tiếp đến là vùng Bắc trung bộ (33,61%), thấp nhất là vùng Tây Bắc (18,12%)

Trong cơ cấu chia theo thành phần kinh tế, số người đủ 15 tuôi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên thiếu việc làm ở nông thôn năm 1998 chủ yếu tập trung ở thành phần kinh tế ngoài nhà nước (8.083.320 người, chiếm 98,34%); tiếp đến là khu vực kinh tế nhà nước (112.305 người, chiếm 1,36%); các khu vực và thành phần kinh tế khác chiếm tỷ lệ không đáng kể Nếu so với năm 1997, số người thiếu việc làm ở nông thôn thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 10,74% với mức tăng tuyệt đối là 787.009 người; khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 106,18%, với mức tăng tuyệt đối là 57.835 người; khu vực kinh tế nước ngoài tăng 232,59% với mức tăng tuyệt đối là 4.509 người Sự tăng lên nhanh chóng của lao động thiếu việc làm ở khu vực ngoài nhà nước (từ 43,04% năm 1996 lên 98,34% năm 1998) chứng tỏ khu vực này đang gặp khó khăn trong tạo mở việc làm cho người lao động

Nếu xét theo vị thế lao động thì số người thiếu việc làm ở khu vực nông thôn năm 1997 chủ yếu vẫn là lao động hộ gia đình (3.446.346 người, chiếm 46,70%) so với tổng lao động thiếu việc làm ở khu vực Tiếp đến là chủ kinh tế hộ và các công việc tự làm (2.870.724 người, chiếm 38,90%), người làm công ăn lương ( 904.594 người, chiếm 12,60%), các loại khác chiếm tỷ lệ không đáng kể

Trang 10

Như vậy, từ năm 1988 đến nay, số lao động không có việc làm thường xuyên trong khu vực nông thôn ngày càng gia tăng; đến năm 1998 trong tổng số gần 30 triệu lao động nông thôn

có tới gần 9 triệu lao động thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp - đây là con số không nhỏ, thực sự báo động đối với nền kinh tế đất nước

- Xem xét thời gian sử dụng lao động

Những năm gần đây, nhiều chính sách, chương trình và giải pháp ở tầm vĩ mô đã được triển khai góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, phát triển việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn đã tăng từ 73,88% (năm 2000) lên 74,37% (năm 2001) Tính riêng cho lao động thuần nông đã tăng từ 68,01% (năm 2000) lên 73,82% (năm 2001) và 74,63% (năm 2002)

Tuy nhiên, vấn đề việc làm cho lao động nông thôn, đặc biệt là các vùng thuần nông vẫn còn rất bức xúc Số lượng và tỷ lệ thiếu việc làm vẫn tiếp tục gia tăng, ở khu vực nông thôn hầu như người lao động chi sử dụng hết 2/3 thời gian lao động của mình (40 giờ/tuần), 1/3 số thời gian còn lại, họ không có việc làm

Bảng 2 Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn Việt nam

(tính đến thời điểm 1/7/2002)

Đơn vị: %

Nguồn: "Báo cáo điều tra Lao động - việc làm", Bộ lao động - Thương binh và xã hội, tháng 7/2002

Ngày đăng: 10/03/2023, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Bình - Đại học kinh tế Đà Nẵng, “Sử dụng nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” Ultilization of Human resources in Vietnam’rural area Sách, tạp chí
Tiêu đề: Utilization of Human resources in Vietnam’rural area
Tác giả: Bùi Quang Bình
Nhà XB: Đại học kinh tế Đà Nẵng
2. PGS.TS. Vũ Đình Thắng “ Giáo trình kinh tế Nông nghiệp” ; NXB Đại học KTQD -2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế Nông nghiệp
Tác giả: Vũ Đình Thắng
Nhà XB: NXB Đại học KTQD
Năm: 2013
3. PGS.TS. Quyền Đình Hà, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội: “Bài giảng Phát triển nông thôn”; Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Phát triển nông thôn
Tác giả: Quyền Đình Hà
Nhà XB: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2007
4. Trần Nhật “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Đường xa gập nghềnh”. http://www.gdtd.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Đường xa gập nghềnh
Tác giả: Trần Nhật
5. Kinh tế sử dụng các yếu tố nguồn lực trong nông nghiệp https://voer.edu.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế sử dụng các yếu tố nguồn lực trong nông nghiệp

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w