MỤC LỤC GVHD GV Lê Văn Lâm Sinh viên thực hiện Lớp TC11 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ((( MÔN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN GVHD GV Lê Văn Lâm Sinh viên thực hiện L[.]
Tổng quan về trái phiếu
Trái phiếu chính phủ
Do ngân sách chính quyền Trung ương hay địa phương phát hành nhằm mục đích bù đắp các khoản chi đầu tư của Ngân sách Nhà nước, quản lí lạm phát, hoặc tài trợ cho các công trình, các dự án của Nhà nước.
Trái phiếu chính phủ là công cụ đặc biệt quan trọng và có hiệu quả để huy động vốn cho ngân sách Nhà nước, góp phần tạo thế chủ động trong công tác quản lí và điều hành ngân sách Nhà nước, hạn chế và đi đến chấm dứt việc phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước Ngoài bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước, trái phiếu chính phủ còn được sử dụng để huy động vốn cho các công trình kinh tế - xã hội của trung ương và địa phương và các công trình cơ sở hạ tầng.
Trái phiếu chính quyền địa phương: là loại trái phiếu có kì hạn từ 1 năm trở lên, do chính quyền địa phương ủy quyền cho Kho bạc hoặc các pháp nhân do chính quyền địa phương lập ra , phát hành với mục đích huy động vốn để đầu tư xây dựng các công trình mang tính công cộng như đường xá, bến cảng, trường học , bệnh viện…
Trái phiếu doanh nghiệp
Do các doanh nghiệp phát hành (có đủ điều kiện của UBCK) nhằm mục đích đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp, mở rộng qui mô phát triển sản xuất kinh doanh Trái phiếu của công ty cổ phần rất đa dạng và phong phú về chủng loại đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của nhà đầu tư , là nguồn vốn vay chủ yếu cho các công ty cổ phần ở các nước phát triển.
Sau đây là một số loại trái phiếu chủ yếu:
- Trái phiếu có thể chấp
- Trái phiếu không có thế chấp
- Trái phiếu có thể chuyển đổi
- Trái phiếu có thể chuộc lại
- Trái phiếu có lãi suất ổn định
- Trái phiếu có lãi suất thả nổi
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu
Nói chung, giá thi trường của bất kì loại chứng khoán nào cũng phụ thuộc vào cung và cầu, vì thế khi muốn biết điều gì quyết định giá trái phiếu, chúng ta chỉ cần tìm hiểu nhân tố nào đứng sau cung và cầu.
Khả năng tài chính của người cung cấp trái phiếu:
Cung cấp trái phiếu là một chức năng của người đi vay nhằm giải quyết vấn đề vốn Do đó, nhà đầu tư rất quan tâm đến khả năng thanh toán lãi và vốn gốc của người cung cấp trái phiếu.
Nếu có những biến động bất lợi về khả năng tài chính của chủ thể phát hành, thì lập tức giá trái phiếu đó sẽ tụt giảm trên TTCK Mặc dù lãi suất trái phiếu có vẻ hứa hẹn nhưng độ rủi ro hàm chứa lại cao hơn.
Một trái phiếu có thời hạn đáo hạn càng gần thì giá của nó càng tăng trên thị trường bởi vì độ rủi ro càng thấp Ví dụ 1 trái phiếu sẽ được thanh toán theo đúng mệnh giá vào cuối năm thứ 10 kể từ ngày phát hành, nếu không có biến động xấu về khả năng tài chính của đơn vị phát hành và lãi suất thị trường bình ổn, thì giá trái phiếu kể từ năm thứ 5 trở đi sẽ có xu hướng ngày càng cao so với giá của các năm đầu tiên Trên thực tế người ta gọi hiện tượng này là “kéo giá tới thời hạn”.
Dự kiến về lạm phát:
Nếu lạm phát có dự kiến tăng thì các chứng khoán có lãi suất cố định trả theo lãi trái phiếu chỉ được thanh toán theo danh nghĩa, và như vậy sẽ kém hấp dẫn hơn các tài sản khác có khả năng loại trừ yếu tố lạm phát Dẫn đến kết quả là giá thị trường của các chứng khoán có lãi suất cố định bị giảm và điều này cũng buộc phải tăng lãi cho các chứng khoán đó, phần lãi tăng này sẽ đền bù thiệt hại của những người giữ trái phiếu trong tương lai bị ảnh hưởng của lạm phát.
Sự vận động của giá trái phiếu với các thời hạn khác nhau sẽ vẽ nên một phác thảo về thị trường trái phiếu và khả năng diễn biến của lạm phát.
Biến động lãi suất thị trường:
Lãi suất thị trường là một yếu tố cực kì quan trọng trong việc định giá của các chứng khoán có lãi suất cố định Nếu lãi suất bắt đầu tăng thì lợi tức đối với các trái phiếu đang tồn tại chắc chắn sẽ thay đổi Trong trường hợp này, vốn sẽ chảy vào thị trường nào hứa hẹn lợi nhuận cao hơn Như vậy giá của trái phiếu có lợi tức cố định sẽ giảm, nhìn ở khía cạnh khác, nếu giá trái phiếu giảm do người ta dự đoán lạm phát tăng, thì biệc tăng lãi suất( chính việc này làm giảm giá trái phiếu) có thể được coi là dấu hiệu của Chính phủ quyết định đẩy lùi lạm phát Ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng lãi suất được đền bù bởi tác động tích cực của triển vọng lạm phát được cải thiện.
Thay đổi tỷ giá hối đoái:
Yếu tố này ảnh hưởng đến các loại trái phiếu được thanh toán bằng nội tệ hoặc bằng đồng ngoại tệ Ví dụ, đồng Dollar Mỹ có giá trị tăng cao hơn so với dồng Bảng Anh thì sã làm tăng giá trị của loại trái phiếu được thanh toán bằng Dollar Mỹ.
4 Định giá trái phiếu Ở dạng thông thường, trái phiếu có mệnh giá, thời hạn và lãi suất cuống phiếuxác định, không kèm các điều kiện có thể chuyển đổi, có thể mua lại hay bán lại Khi đó giá trị trái phiếu được tính bằng tổng giá trị hiện tại của toàn bộ các khoản tiền người phát hành phải thanh toán cho người sở hữu trái phiếu, bao gồm tiền lãi định kỳ và tiền gốc trả tại ngày đáo hạn Để xác định được giá trái phiếu tại thời điểm hiện tại, chúng ta cần thực hiện chiết khấu toàn bộ dòng tiền sẽ thanh toán cho người sở hữu trái phiếu trong tương lai với lãi suất hiện tại Lãi suất chiết khấu trái phiếu chính là lãi suất tới hạn của trái phiếu hay lãi suất vay vốn bình quân của thị trường
PV: Hiện giá giá trái phiếu. n: Số kỳ.
C1.Cn: Lãi cuống phiếu. r: Lãi chiết khấu, lãi suất thị trường.
Trái phiếu doanh nghiệp
TPDN là một loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn trung và dài hạn trên thị trường, quy định nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của doanh nghiệp trong khoảng thời gian xác định cho người nắm giữ trái phiếu (nhà đầu tư).
Bên cạnh những đặc điểm của một chứng khoán nợ nói chung,TPDN còn có những đặc trưng sau:
Trái chủ được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn,song không được tham dự vào các quyết định của doanh nghiệp.Nhưng cũng có loại trái phiếu không trả lãi định kỳ,người mua được mua dưới mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại mệnh giá.
Khi doanh nghiệp giải thể hoặc thanh lý,trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước cổ phiếu;có những điều kiện cụ thể kèm theo,hoăc nhiều hình thức đảm bảo cho khoản vay.
TPDN rất đa dạng và phong phú về chủng loại đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của nhà đầu tư,là nguồn vốn vay chủ yếu của các doanh nghiệp ở các nước phát triển.
Căn cứ theo hình thức phát hành:
- TP được phát hành theo mệnh giá
- TP được phát hành theo hình thức chiết khấu (discount)
Căn cứ theo phạm vi lưu thông
Theo thời gian đáo hạn:
Cơ bản thì TPDN bao gồm những loại sau:
- Trái phiếu thu nhập (Income Bonds) : là trái phiếu mà việc thanh toán lãi phụ thuộc vào lợi nhuận của doanh nghiệp Loại trái phiếu này thường được phát hành khi doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính hoặc cần huy động vốn vào dự án.Trái phiếu này giống với cổ phiếu ưu đãi nhưng lãi trả cho trái chủ được chiết khấu thuế thu nhập doanh nghiệp (trả trước thuế) còn cổ phiếu thì lãi trả cho trái chủ không được chiết khấu thuế thu nhập doanh nghiệp (trả sau thuế).
- Trái phiếu có đảm bảo (Mortgage Bonds): là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể.
- Trái phiếu không bảo đảm (Debenture): Trái phiếu tín chấp không được đảm bảo bằng tài sản mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty Nếu công ty bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước cổ đông Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành Tuỳ theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định.
- Trái phiếu có thể chuyển đổi (Convertible Bonds): là trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường với giá cổ phiếu được ấn định trước gọi là giá chuyển đổi Đây là loại trái phiếu được ưa chuộng vì khi giá cổ phiếu lên cao, người nắm giữ loại trái phiếu này sẽ thực hiện chuyển đổi và hưởng chênh lệch giá.
- Trái phiếu chuộc lại (Callable Bonds): Trái phiếu này kèm với điều khoản doanh nghiệp sẽ mua lại sau một thời gian với giá chuộc lại thường cao hơn mệnh giá Nhà đầu tư có thể chọn lựa có chấp nhận sự chuộc lại hay không.
- Trái phiếu có lãi suất cố định (Straight Bonds): là loại trái phiếu truyền thống phát hành ở hầu hết các thị trường chứng khoán thế giới Với đặc điểm trả lãi suất ổn định định kỳ 6 tháng hoặc 1 một lần Nó ràng buộc nghĩa vụ phải trả lãi trong suốt thời gian trái phiếu lưu hành.
- Trái phiếu có lãi suất thả nổi (Floating Rate Bonds): Là loại trái phiếu mà lãi suất của nó được điều chỉnh theo sự thay đổi của lãi suất thị trường Đặc điểm này đã đảm bảo được quyền lợi của nhà đầu tư và doanh nghiệp trong điều kiện thị trường không ổn định Thông thường cứ 6 tháng một lần căn cứ vào lãi suất tiền gửi ngắn hạn để điều chỉnh lãi suất trái phiếu cho phù hợp.
- Trái phiếu chiết khấu (Coupon Bonds): là loại trái phiếu không trả lãi định kỳ.
Căn cứ vào lãi suất thị trường lúc phát hành để định ra giá của trái phiếu Giá này thấp hơn mệnh giá gọi là giá chiết khấu Khi đáo hạn, trái chủ được hoàn lại đúng bằng với mệnh giá của trái phiếu.
4 Vai trò của TPDN đối với sự phát triển của các chủ thể và toàn nền kinh tế
Cung cấp công cụ huy động vốn khác cho doanh nghiệp
Vốn là một yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh, nếu thiếu vốn thì các doanh nghiệp không thể thực hiện được những kế hoạch như đã định
Sự phát triển của thị trường tài chính đã đem lại cho các doanh nghiệp ngày càng nhiều cơ hội tiếp cận với những nguồn tài trợ vốn đa dạng, đáp ứng được mọi nhu cầu về khối lượng, thời hạn cũng như các đòi hỏi khác mang tính đặc thù đặt ra cho từng doanh nghiệp cụ thể Khác với những kênh huy động vốn truyền thống là phụ thuộc rất nhiều vào những xét duyệt mang tính áp đặt, chủ quan của tổ chức cho vay, việc phát hành trái phiếu sẽ cho phép doanh nghiệp chủ động trong kế hoạch sản xuất kinh doanh,phương thức và thời gian trả nợ Để giảm sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng và nguồn vốn từ bên ngoài, tránh sự pha loãng của việc phát hành cổ phiếu, và được phép của Chính phủ, một số loại trái phiếu doanh nghiệp cũng được phát hành để huy động vốn trong xã hội, như : trái phiếu của Tổng công ty Điện lực Việt Nam, trái phiếu của Tổng công ty Dầu khí Tính đến nay, số vốn trái phiếu doanh nghiệp phát hành cũng lên tới vài nghìn tỷ đồng Mặc dù hiện nay, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp vẫn còn hạn chế và tập trung ở các doanh nghiệp nhà nước lớn nhưng rõ ràng trái phiếu doanh nghiệp đã là một kênh huy động vốn mới và hiệu quả cho doanh nghiệp.
Tạo hàng hoá cho thị trường trái phiếu.
Trái phiếu doanh nghiệp ra đời đã làm đa dạng thêm hàng hoá trên thị trường trái phiếu Nhà đầu tư ngoài việc lựa chọn trái phiếu chính phủ có độ rủi ro hầu như bằng không nhưng lãi suất thấp, cổ phiếu có thể có lãi suất cao hơn nhưng dễ biến động trên thị trường, có thể lựa chọn trái phiếu doanh nghiệp có lãi suất và mức độ rủi ro phù hợp.