1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khóa luận tốt nghiệp tổng quan về cuộc cmcn 4 0 và bối cảnh của đầu tư việt nam hiện nay

40 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng quan về cuộc CMCN 4.0 và bối cảnh của đầu tư Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 894,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Lời mở đầu 2 I TỔNG QUAN VỀ CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4 0 VÀ BỐI CẢNH CỦA ĐẦU TƯ VIỆT NAM HIỆN NAY 3 1 1 Các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử 3 1 2 Cuộc cách mạng công nghiệp 4 0 4 1[.]

Trang 1

MỤC LỤC

Lời mở đầu 2

I TỔNG QUAN VỀ CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ BỐI CẢNH CỦA ĐẦU TƯ VIỆT NAM HIỆN NAY 3

1 1 Các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử 3

1.2 Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 4

1.3 Tình hình Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 5

II CƠ HỘI CHO ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM TRONG CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 9

2.1 Nguồn lực 10

2.2 Nguồn vốn 13

2.3 Cơ hội khác 14

III THÁCH THỨC CHO ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM TRONG CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 17

3.1 Nguồn lực 18

3.2 Công nghệ áp dụng 22

3.3 Đổi mới sáng tạo 25

3.4 Doanh nghiệp và chính phủ, người dân 31

IV DỰ BÁO CHO ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM 37

Kết luận 40

Trang 2

Lời mở đầu

Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) với nền tảng công nghệ là dữ liệu lớn, điện toán đám mây và kết nối internet toàn diện đang trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này Với lợi thế nước đi sau, Việt Nam có thể hình thành và phát triển nhanh nền kinh tế tri thức, thu hẹp khoảng cách và đuổi kịp những nước đi trước trong khu vực và thế giới thông qua việc tiếp thu, làm chủ và ứng dụng nhanh vào sản xuất - kinh doanh, quản lý những tiến bộ, thành tựu công nghệ (kể cả phương thức sản xuất, quản lý) Một trong những khía cạnh được dự báo sẽ có những ảnh hưởng lớn do CMCN 4.0 chính là đầu tư phát triển Việt Nam có khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước vào các lĩnh vực sản xuất và lắp ráp thiết bị, linh kiện

kỹ thuật số phục vụ cho sự kết hợp kỹ thuật số vào các ngành công nghiệp, cho phép Việt Nam trực tiếp tham gia vào cuộc CMCN 4.0 Nhưng bên cạnh đó, CMCN 4.0 cũng tạo ra không ít thách thức đối với Việt Nam nói chung và lĩnh vực đầu tư nói riêng Để làm rõ hơn vấn đề này, nhóm chúng em nghiên cứu đề tài: Nhận diện cơ hội và thách thức cho đầu tư của Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Trang 3

I TỔNG QUAN VỀ CUỘC CMCN 4.0 VÀ BỐI CẢNH CỦA ĐẦU

TƯ VIỆT NAM HIỆN NAY

1 1 Các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử

“Cuộc cách mạng” ở đây dùng để chỉ một sự thay đổi mang tính đột biến và triệt

để Nhiều cuộc cách mạng đã diễn ra trong suốt lịch sử thế giới khi các công nghệ mới vàphương pháp mới nhận thức thế giới tạo ra một sự thay đổi sâu sắc trong các hệ thốngkinh tế và kết cấu xã hội

Cuộc CMCN lần thứ nhất trải dài từ năm 1760 đến khoảng năm 1840, đánh dấubằng việc sử dụng nước và năng lượng từ hơi nước để cơ giới hóa sản xuất Sau đó là sửdụng động cơ đốt trong, nhiên liệu than đá và xây dựng các tuyến đường sắt mở rộnggiao thương Mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại – kỷ nguyên sản xuất cơkhí

Cuộc CMCN lần thứ hai bắt đầu từ nửa sau thế kỷ 19 cho đến đầu thế kỷ 20.Cuộc cách mạng này có đặc điểm nổi bật là sử dụng điện năng để phục vụ sản xuất côngnghiệp Đây là thời kỳ phát minh ra máy phát điện, đèn điện, động cơ điện

Cuộc CMCN lần thứ ba bắt đầu từ thập niên 60 của thế kỷ 20 Đây là thời kỳ màcon người đã phát minh ra máy tính để thực hiện các công việc về trí óc thay cho conngười Ở cuộc CMCN lần thứ hai, con người mới chỉ phát minh ra các loại máy móc thay

Trang 4

thế lao động cơ bắp Việc phát minh ra chất bán dẫn vào thập kỷ 60 đã giúp con người tạo

ra máy tính cá nhân vào những năm 70 và 80, và mạng Internet vào thập kỷ 90 CuộcCMCN lần thứ ba đã giúp cho máy tính, phần cứng, phần mềm và mạng toàn cầu pháttriển mạnh mẽ Nó làm biến đổi mọi mặt đời sống kinh tế và xã hội toàn cầu, tạo tiền đềcho sự ra đời một cuộc CMCN mới

Hiện nay, chúng ta đang ở giai đoạn đầu của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ

tư FIR đã bắt đầu vào thời điểm chuyển giao sang thế kỷ này và xây dựng dựa trên cuộccách mạng số, đặc trưng bởi Internet ngày càng phổ biến và di động, bởi các cảm biếnnhỏ và mạnh mẽ hơn với giá thành rẻ hơn, bởi trí tuệ nhân tạo và “học máy”.Các công nghệ số với phần cứng máy tính, phần mềm và hệ thống mạng đang trở nênngày càng phức tạp hơn, được tích hợp nhiều hơn và vì vậy đang làm biến đổi xã hội vànền kinh tế toàn cầu

1.2 Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

1.2.1 Khái niệm

Theo Gartner, CMCN 4.0 xuất phát từ khái niệm " Industrie 4.0" tron một báo cáocủa chính phủ Đức năm 2013 Industrie 4.0 kết nối các hẹ thống nhúng và cơ sở sản xuấtthông minh để tạo ra hội tụ kỹ thuật số giữa CN, kinh doanh, chức năng và quy trình bêntrong

CMCN lần thứ 4 này nảy nở từ cuộc CMCN lần thứ 3,nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mở ranh giới giữa kỹ thuật số, vật lý và sinh học

- Cuối cùng là lĩnh vực Vật lý với robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vậtliệu mới (graphene, skyrmions…) và công nghệ nano

Trang 5

Hiện Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển như Mỹ,Châu Âu, một phần Châu Á Bên cạnh những cơ hội mới, cách mạng công nghiệp 4.0cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt.

1.2.3 Những cơ hội và rủi ro cho thế giới nói chung

- Cơ hội:

+ Làm tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân toàn cầu

+ Tạo ra phép màu cho dịch vụ cung ứng, cải thiện về năng suất và hiệu suất lâu dài+ Giảm các chi phí thương mai, chi phí vận chuyển thông tin và liên lạc.Các dịch vụhậu cần và chuỗi cung ứng tòn cầu sẽ trở nên hiệu quả hơn, Một thị trường mới sẽ được mở

ra và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Rủi ro:

+ Mang lại sự bất bình đẳng lớn hơn, phá vỡ thị trường lao động

+ Bất ổn về chính trị nếu không hiểu rõ và chuẩn bị đầy đủ cho làn sóng của cuộcCMCN 4.0

1.3 Tình hình Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

1.3.1 Tình hình kinh tế Việt Nam nói chung hiện nay:

Có nhiều tín hiệu tích cực:

+ Tình hình hoạt động doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực: Tình hìnhđăng ký DN trong năm 2016 cũng có nhiều cải thiện Số doanh nghiệp đăng ký hoạt độngmới đạt 110,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 16,2% so với năm 2015, với 891,1 nghìn tỷ đồngvốn đăng ký, tăng 48,1% Số vốn đăng ký trung bình trên một doanh nghiệp tăng 27,5%

và đạt 8,1 tỷ đồng/DN

+ Mức tăng trưởng khá ổn định: Tăng trưởng kinh tế của 2 quý đầu năm 2016 lầnlượt là 5,48% và 5,78% so với cùng kỳ năm trước Mặc dù, được phục hồi trong nửa cuốinăm nhưng tăng trưởng kinh tế cả năm chỉ đạt 6,21%, thấp hơn mức 6,68% năm 2015 vàmục tiêu 6,3% mà Chính phủ đặt ra trong phiên họp thường kỳ tháng 9/2016

Trang 6

+ Xuất khẩu tăng mạnh: xuất siêu 2,68 tỷ USD Kim ngạch hàng hoá xuất khẩunăm 2016 ước đạt 175,9 tỷ USD, tăng 8,6% so với năm trước Trong đó, khu vực kinh tếtrong nước đạt 50 tỷ USD, tăng 4,8% Khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 125,9%, tăng10,2%.

Bảng tình hình xuất - nhập khẩu qua các năm

+ Thị trường tiền tệ, tài chính ổn định: Thặng dư trên cán cân thanh toán ổn địnhgóp phần tạo điều kiện thuận lợi cho NHNN mua ròng ngoại tệ, để bổ sung dự trữ ngoạihối Thông tin tại phiên họp thường kỳ tháng 12/2016, Chính phủ cho biết, dự trữ ngoạihối trong tính đến cuối năm đạt 41 tỷ USD, con số cao nhất từ trước tới nay

Trên thị trường ngoại hối, sau khi cơ chế xác định tỷ giá tham chiếu mới đượcthực hiện, diễn biến tỷ giá tương đối ổn định trong năm 2016 Tính tới 29/12/2016, tỷ giá

Trang 7

tham chiếu do NHNN công bố ở mức 22.162 VND/1 USD, tăng 1,21% so với đầu năm.Trong khi đó, tỷ giá bán ra tại ngân hàng Vietcombank cũng chỉ tăng 1,11% lên mức22.790 VND/1USD.

+ CPI tăng và tiếp tục có nguy cơ tăng trong năm 2017: CPI cả năm 2016 tăng4,74%: CPI tháng 12/2016 tăng 4,74% so với tháng 12/2015, bình quân mỗi tháng tăng0,4% CPI bình quân năm 2016 tăng 2,66% so với bình quân năm 2015

+ FDI tăng mạnh với số vốn đăng ký đạt hơn 9.2 tỉ USD

Trang 8

1.3.2 Thực trạng đầu tư Việt Nam hiện nay:

a, Tích cực:

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2016 theo giá hiện hành ước tính đạt1.485 nghìn tỷ đồng, tăng 8,7% so với năm 2015 và bằng 33% GDP, bao gồm: Vốn khuvực Nhà nước đạt 557,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,6% tổng vốn và tăng 7,2%; vốn khuvực ngoài Nhà nước đạt 579,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 39% và tăng 9,7%; vốn khu vực cóvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 347,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,4% và tăng 9,4% Nhưvậy, mục tiêu này bước đầu đạt được so với mục tiêu năm 2020, khu vực tư nhân đónggóp khoảng 49% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

- Tính riêng trong quý I/2017 (đến ngày 20/3), cả nước có 493 dự án mới đượccấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 2,917 tỉ USD, tăng 6,5% so vớicùng kỳ năm 2016; có 223 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăngthêm là 3,94 tỉ USD, tăng 206,4 % so với cùng kỳ năm 2016 và 1.077 lượt góp vốn, mua

cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 852,86 triệu USD, tăng171,5% so với cùng kỳ 2016 Tính chung tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và gópvốn mua cổ phần là 7,71 tỉ USD, tăng 77,6% so với cùng kỳ năm 2016

- Cũng trong quý 1/2017, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành lĩnh vực,trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quantâm của nhà đầu tư nước ngoài với tổng số vốn là 6,54 tỉ USD, chiếm đến 84,9% tổngvốn đầu tư đăng ký trong Quý I Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổngvốn đầu tư là 343,69 triệu USD, chiếm 4,4% tổng vốn đầu tư Đứng thứ 3 là lĩnh vực bánbuôn, bán lẻ với tổng vốn đầu tư đăng ký là 296,8 triệu USD, chiếm 3,85% tổng vốn đầu

tư đăng ký

- Về hoạt động của khu vực FDI, Cục Đầu tư nước ngoài cho biết: trong 6 thángnăm 2017, khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu 10,22 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu8,66 tỷ USD không kể dầu thô Tổng vốn FDI đạt trên 306 tỷ USD Với hoạt động thuhút FDI trong 6 tháng đầu năm như vậy, lũy kế đến ngày 20/6/2017, cả nước có 23.594

dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 306,3 tỷ USD Vốn thực hiện lũy kế ước đạt162,57 tỷ USD, bằng 53% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực

Trang 9

xe máy.

- Tình trạng chuyển giá đã được phát hiện trong những năm gần đây gây thất thucho ngân sách nhà nước Hiện tượng “lỗ giả, lãi thực” còn phổ biến, không ít doanhnghiệp tuy công bố lỗ trong nhiều năm nhưng vẫn tái đầu tư, mở rộng sản xuất

Trang 10

II CƠ HỘI CHO ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM TRONG CUỘC

Khi có thể tận dụng tốt những lợi thế sẵn có của đất nước thì cơ hội cho phát triểnđất nước sau cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Kinh tế Việt Nam cũng sẽ có được các cơhội tương tự với nền kinh tế toàn cầu khi bước vào cách mạng công nghệ 4.0 nhờ dân sốtrẻ, năng động với sự nhanh nhạy trong ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) Nguồnlao động có trình độ chuyên môn CNTT đã phát triển mạnh mẽ, có tính đột phá trongnhững năm qua Lợi thế về ngành CNTT khi được áp dụng mạnh mẽ trong các ngànhkhác là cơ hội cho lực lượng lao động Việt Nam tham gia vào những phân khúc tạo giá trịgia tăng cao

Việt Nam đã có những yếu tố quan trọng là nền tảng cho cuộc cách mạng lần này,

đó là tỷ lệ dân số và doanh nghiệp sử dụng Internet cao (khoảng 54% dân số vào năm

2016, đứng thứ 5 ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương); tỉ lệ dân số sử dụng điện thoạithông minh đạt 55%; ngành công nghệ thông tin đang có sự phát triển mạnh mẽ với tốc

độ tăng trưởng lên đến 16%; Việt Nam cũng đứng trong top 5 nước tăng trưởng côngnghệ thông tin nhanh nhất thế giới…

Cuộc CMCN 4.0 có thể tạo ra lợi thế cho những nước đi sau như Việt Nam, hìnhthành và phát triển nhanh nền kinh tế tri thức, thu hẹp khoảng cách và đuổi kịp nhữngnước đi trước trong khu vực và thế giới thông qua việc tiếp thu, làm chủ và ứng dụngnhanh vào sản xuất kinh doanh, quản lý những tiến bộ, thành tựu công nghệ (kể cảphương thức sản xuất, quản lý)

Trang 11

Khảo sát mới nhất về tiền lương vào tháng 3/2017, cho thấy 33% lao động phải chitiêu tằn tiện, sống kham khổ; 12% thu nhập và tiền lương không đủ sống, phải làm thêm.Chỉ 16% có thu nhập dôi dư nằm trong nhóm công nhân mỏ, khai khoáng Một khi cuộccách mạng công nghiệp 4.0 thì chúng ta phải đứng trước áp lực là phải nâng cao chấtlượng lao động để vận hành được máy móc, công nghệ hiện đại Thời kì công nghệ mở rathì những nhân lực không có tay nghề dễ bị đào thải khỏi thị trường Tạo ra động lực chomỗi cá nhân phải phát triển mình Tạo ra cơ hội lớn cho Việt Nam có thể nâng cao chấtlượng lao động- một điểm yếu bấy lâu của nước ta Chắc chắn rằng khi đó, mức thu nhập

mà người lao động được nhận lại sẽ cao gấp nhiều lần

Nhân lực trẻ với sự thông minh, năng động, sớm hòa nhập với thế giới là mộttrong những yếu tố tuyệt vời khi bước vào cuộc cách mạng công nghiệp Dễ đón đầu cácthành tựu của thế giới, tận dụng sự mở cửa thị trường, thì người trẻ đang đứng trước cơhội khởi nghiệp mở ra những start-up cho riêng mình, còn nhà nước thì đứng trước cơ hội

mở ra thời kì kinh tế đỉnh cao với rất nhiều công ty mới sáng lập Nhờ đó khu vực kinh tếngoài nhà nước sẽ có cơ hội ngày một lớn mạnh Việt Nam đang trở thành một quốc giakhởi nghiêp với những con số hết sức ấn tượng về cả số lượng và mật độ start-up Hiệnchúng ta đang có khoảng 1 500 start up, nếu tính theo đầu người thì con số này còn lớnhơn các nước như Trung Quốc ( 2300 start up nhưng với dân số lớn hơn nhiều lần) hay

Ấn Độ (7 500 start up) Điểm đáng chú ý là trong số đó nhiều startup chọn cho mìnhhướng đi công nghệ Điều này đang tạo ra cơ hội rất lớn cho Việt Nam có thể đuổi kịpcông nghệ của các quốc gia đi trước trên thế giới

2.1.2 Vị trí địa lý

Vị trí địa lý chiến lược: Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam

Á khiến nước này trở thành điểm đến hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài Là một nềnkinh tế năng động với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm trên 6% trong năm năm qua,Việt Nam đã nổi lên như là trung tâm sản xuất mới của khu vực Châu Á-Thái BìnhDương Điều này là do ảnh hưởng kỳ vọng từ TPP sẽ là làm giảm lợi thế của Trung Quốctrong lĩnh vực sản xuất

Trải dài trên nhiều vĩ độ, Việt Nam mang trong mình nhiều kiểu hình thời tiết khácnhau Cơ hội mở ra chuyên môn hóa theo vùng sản xuất rất lớn Công thêm sự đổi mới,phát triển của công nghệ thì các ngành công nghiệp, nông nghiệp đều cơ cơ hội rất lớn

Trang 12

2.1.3 Đường lối chính sách

Cách mạng công nghiệp 4.0 (công nghiệp 4.0) đang trong giai đoạn khởi phát và

sẽ tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đồng thời thay đổi hoàn toàn hệ thống sảnxuất và quản trị hiện nay Công nghiệp 4.0 có thể mang lại cho kinh tế Việt Nam một cơhội hiếm để bứt phá và Việt Nam đang có sự chuẩn bị tích cực cho cơ hội này

Việt Nam đang có sự tiếp cận rất nhanh chóng về công nghiệp 4.0 khi hàng loạtcác cuộc thảo luận, nghiên cứu cho nội dung này đã được thực hiện Nhưng điều đáng nóihơn cả là sự tích cực và chủ động từ Chính phủ và các bộ ngành với quyết tâm “đi tắt đónđầu” cuộc cách mạnh công nghiệp lần này

Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hộinhập quốc tế sâu rộng Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 được dự đoán sẽ tạo ranhiều cơ hội trong việc nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và cạnhtranh trong chuỗi sản phẩm, tạo cơ hội đầu tư hấp dẫn và đầy tiềm năng trong lĩnh vựccông nghệ số, Internet Đồng thời cũng là cơ hội hệ thống các chính sách ưu đãi về thuế

đã được hình thành đồng bộ, phù hợp với các nguyên tắc của thương mại và thông lệquốc tế nhằm thu hút vốn, khuyến khích đầu tư cho các lĩnh vực như: (i) 3 ngành côngnghiệp mũi nhọn gồm có cơ khí chế tạo (ô tô, đóng tàu, thiết bị toàn bộ, máy nôngnghiệp, cơ điện tử); thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin; sản phẩm từ côngnghệ mới (năng lượng mới, năng lượng tái tạo, công nghiệp phần mềm, nội dung số); và

7 ngành công nghiệp ưu tiên phát triển là dệt may, da giày, nhựa, chế biến nông lâm thủysản, khai thác chế biến bauxit nhôm, thép, hóa chất; ngành năng lượng (dầu khí, than,điện); ngành cơ khí trọng điểm và ngành công nghiệp hỗ trợ (cơ khí chế tạo, điện tử - tinhọc, sản xuất lắp ráp ô tô, dệt may, da giày, và các ngành công nghệ cao…); (ii) Cácvùng kinh tế trọng điểm, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất; (iii) Thúc đẩy pháttriển ngành công nghiệp hỗ trợ; (iv) Hỗ trợ phát triển DN vừa và nhỏ, DN khởi nghiệp(start up), bao gồm thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng…nhằm hỗ trợ thúc đẩy phát triển công nghiệp, các lĩnh vực, địa bàn ưu tiên phát triển côngnghiệp hội lớn cho sản xuất công nghiệp với trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến

Chính sách tài chính cho phát triển KHCN được thể hiện ở việc khuyến khích cánhân, DN đầu tư vào KHCN; Cơ chế lập dự toán nhiệm vụ KHCN; Cơ chế khoán sửdụng kinh phí; cơ chế quản lý kinh phí thực hiện nhiệm vụ KHCN; Cơ chế định giá kếtquả nghiên cứu khoa học; Cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống các Chương trìnhquốc gia về KHCN; Cơ chế quản lý tài chính đối với các Quỹ KHCN quốc gia (Quỹ đổimới công nghệ quốc gia và Quỹ phát triển KHCN quốc gia)

Trang 13

Bên cạnh đó, bố trí chi ngân sách nhà nước cho phát triển hoạt động KHCN cơbản đảm bảo được mục tiêu của Nghị quyết Trung ương, đạt mức 2% tổng chi ngân sáchnhà nước (tương đương 0,5-0,6% GDP) Đến nay, NSNN vẫn là nguồn lực chủ đạo,chiếm tới 65%-70% tổng mức đầu tư toàn xã hội cho hoạt động KHCN Đặc biệt, tổngchi NSNN cho KHCN giai đoạn 2011-2015 (không tính chi trong an ninh, quốc phòng vàchi từ nguồn ưu đãi thu nhập tính thuế của các DN theo quy định) cao gấp 1,73 lần so vớigiai đoạn 2005-2010 Quỹ phát triển KHCN đã được hình thành Kinh phí từ xã hội, DNđược huy động; DN được khuyến khích tạo điều kiện đổi mới công nghệ, đa dạng hóanguồn kinh phí ngoài ngân sách cho hoạt động KHCN, đặc biệt ưu tiên đổi mới KHCNtrong những ngành công nghiệp mũi nhọn.

Chính sách tài chính cho phát triển nguồn nhân lực công nghiệp cũng được thựchiện Việc đảm bảo nguồn vốn cho yêu cầu phát triển nhân lực ngành công nghiệp nhữngnăm qua cũng đã đặc biệt được chú trọng, bao gồm cả nguồn lực từ NSNN, từ nguồn vốnnước ngoài và từ nguồn đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động đào tạo nhân lực

Ngoài ra, chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng ưu đãi cũng đang được áp dụngcho các dự án thuộc ngành công nghiệp ưu tiên, các ngành công nghiệp mũi nhọn; khukinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất; các dự án đầu tư thuộc vùng kinh tế trọng điểm;công nghiệp hỗ trợ

Ngoài ra, CMCN 4.0 cũng có thể tác động lên thị trường tài chính Việt Nam thôngqua sự thay đổi về cơ cấu lao động trong ngành Tài chính; tạo thuận lợi cho toàn bộ cácgiao dịch hiện nay tại Việt Nam trong tương lai, theo đó có thể sẽ làm tăng tính thanhkhoản trên thị trường tài chính tiền tệ Thương mại điện tử sẽ tăng trưởng mạnh; thươngmại dịch vụ có xu hướng tăng nhanh, do đó đòi hỏi phải có giải pháp quản lý nhà nước vềthuế đối với giao dịch qua biên giới, giá chuyển nhượng, chuyển nhượng gián tiếp phảiđổi mới kịp thời với điều kiện mới Ngoài ra, CMCN 4.0 cũng sẽ tác động làn thay đổicác phương thức về an ninh quốc phòng, chính sách an sinh xã hội…Bên cạnh đó, về chingân sách nhà nước (NSNN), CMCN 4.0 vừa góp phần giảm chi NSNN ở một số nộidung như (chi bảo vệ môi trường, chi cho bộ máy hành chính nhà nước)

2.2 Nguồn vốn

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng Đặc biệt, ViệtNam đã thu hút được những nhà đầu tư nước ngoài lớn như AEON, Intel và Samsung…

Trang 14

Các nhà đầu tư nước ngoài tầm cỡ này chọn Việt Nam không chỉ đóng góp vào GDP củaViệt Nam, mà còn tạo nên niềm tin kinh doanh với nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp Hiệnnay Việt Nam là một trong những quốc gia thu hút được lượng vốn FDI lớn nhất trongkhu vực, và được coi là điểm đến đầu tư ưa thích của các nhà đầu tư nước ngoài.

Việt Nam có khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nướcvào các lĩnh vực sản xuất và lắp ráp thiết bị, linh kiện kỹ thuật số phục vụ cho sự kết hợp

kỹ thuật số vào các ngành công nghiệp, cho phép Việt Nam trực tiếp tham gia vào cuộcCMCN 4.0 Tuy nhiên, CMCN 4.0 cũng có thể gây ra những yếu tố bất lợi trong thu hútđầu tư của Việt Nam, đó là chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn nhiều hạn chế,năng suất lao động đang ở mức thấp so với nhiều nước trong khu vực như Singapore,Thái Lan, Indonesia Nhưng khi bước vào cuộc cách mạng 4.0 như đã đề cập rằng nguồnnhân lực của chúng ta được kì vọng sẽ nâng cao chất lượng Vậy cơ hội cho chúng ta sẽlớn hơn khi thu hút vốn đầu tư

Không thể không kể đến nguồn vốn ODA, nó là một nguồn vốn quan trọng để đầu

tư cho xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng, Chỉ khi những điều kiện ấy phát triển thì nềnkinh tế mới có điều kiện tốt để phát triển

Có thể nói vì những cơ hội khi bước vào cuộc cách mạng công nghiệp như: hệthống pháp luật nới lỏng, nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao chất lượng, hệ thốngpháp luật thì ngày càng mở cửa lại tiếp tục mở ra cơ hội cho Việt Nam để thu hút lượngvốn đầu tư trong và ngoài nước Hiện Việt Nam đang đứng trong tình trạng chung củanhiều nước là thiếu vốn nhưng thừa nguồn lực, vậy chắc chắc các nhà đầu tư sẽ không bỏqua cơ hội để đầu tư

2.3 Cơ hội khác

2.3.1 Ứng dụng công nghệ mới trong các ngành sản xuất

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tập trung chủ yếu vào sản xuất thôngminh dựa trên các thành tựu đột phá trong công nghệ như: Công nghệ thông tin, côngnghệ sinh học, công nghệ nano, với nền tảng là các đột phá của công nghệ số

Trang 15

Cuộc cách mạng 4.0 sẽ biến đổi cách sống, làm việc của toàn nhân loại theo cáchhoàn toàn mới dựa trên sự phát triển của khoa học, công nghệ, đặc biệt là internet, điệntoán đám mây…

Đối với nông nghiệp, chính là áp dụng thành tựu công nghệ, thay đổi phương thứcsản xuất, làm việc trên cánh đồng bằng điều khiển từ xa… để tối ưu hóa quá trình sảnxuất, nâng cao chất lượng nông sản, cải thiện đời sống và làm giàu cho nông dân “Pháttriển nông nghiệp 4.0 là xu hướng tất yếu trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hóa ngày càngsâu rộng Việt Nam không thể đứng ngoài làn sóng này”, Phó Thủ tướng Vương ĐìnhHuệ nhấn mạnh trong bài phát biểu ở Diễn đàn Nông dân Việt Nam lần thứ hai ngày14/10/2017 Từ đây đặt ra một cơ hội lớn cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào các thiết bịthông minh ứng dụng trong nông nghiệp Là sự kết hợp đồng bộ giữa công nghệ vềgiống; công nghệ chăm sóc gieo trồng, chăn nuôi; công nghệ tưới tiêu; công nghệ thuhoạch và bảo quản sản; công nghệ chế biến… Tất cả các công nghệ đó được tích hợp vàđiều khiển bởi công nghệ thông minh với cá ứng dụng trên nền tảng internet…

Đối với công nghiệp, CMCN 4.0 được đánh giá sẽ vượt ra khỏi quy mô côngxưởng, nhà máy, doanh nghiệp khi vạn vật được kết nối bởi internet Khái niệm “nhàmáy thông minh” hay “nhà máy số” đang dần phổ biến hơn Cụ thể, không những tất cảmáy móc thiết bị trong công xưởng được kết nối với nhau thông qua internet, rất nhiềucảm biến cũng đồng thời được lắp đặt để thu thập dữ liệu Cách làm này giúp máy móc

có thể “giao tiếp” với nhau mà không cần sự có mặt của con người, hay dây chuyền sản

Trang 16

xuất sẽ được vận hành tự động một cách thích hợp ứng với lượng tồn kho Ngoài ra, cácdoanh nghiệp sản xuất chi tiết cũng sẽ được kết nối với nơi lắp ráp, đơn vị vận chuyển,cửa hàng phân phối và tiêu thụ để thành một thể thống nhất Đây vừa là cơ hội vừa làthách thức cho các nhà đầu tư Việt Nam khi mạnh tay đầu tư vào các ứng dụng côngnghệ cao này, vì nó sẽ tạo ra những thay đổi vượt bậc trong sản xuất, tạo ra những giá trịmới cho nền kinh tế tuy nhiên cũng mang đầy rủi ro vì cơ sở hạ tầng và nguồn nhân côngcủa chúng ta chưa thực sự tốt.

Đối với dịch vụ, ranh giới giữa công nghiệp sản xuất và dịch vụ thu hẹp dần, vaitrò của robot ngày càng cao, biên giới giữa các quốc gia cũng mờ đi Thành phố thôngminh với các thành tố điều khiển học, điện toán, internet, robot sẽ dần chiếm ưu thế “Lợinhuận từ các ý tưởng sáng tạo sẽ là động lực chính tạo nên giá trị gia tăng của sản phẩm.Đây sẽ là cơ hội thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, dòng chảy chất xám và tạo đà pháttriển cho công nghiệp, dịch vụ”, PGS.TS Nguyễn Văn Thành, Thứ trưởng Bộ Công an,nhà nghiên cứu lâu năm về kinh tế và khoa học hệ thống chia sẻ

2.3.2 Ứng dụng CMCN 4.0 vào quân sự

Quân sự và quốc phòng là lĩnh vực đặc thù, với cách mạng công nghiệp 4.0, chúng

ta cũng sẽ phải nhìn nhận một cách thấu đáo những yếu tố tác động Thực hiện các nghịquyết, chỉ thị của Đảng, Quân đội đang trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân cáchmạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó có các lực lượng tiến thẳng lênhiện đại Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, quân đội được đầu tư trang bị nhiềuloại vũ khí trang bị, phương tiện hiện đại, công nghệ cao để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụtrong tình hình mới Với những thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0, chúng ta cóthể nâng cao năng lực làm chủ trong nghiên cứu, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật, hiệnđại hóa, khai thác làm chủ vũ khí công nghệ cao Với khả năng của công nghệ số, sự pháttriển của trí tuệ nhân tạo, việc chỉ huy, quản lý, điều hành sẽ có những thay đổi rất lớn,người chỉ huy sẽ được hỗ trợ tối đa trong việc ra quyết định, nhanh chóng hơn, chính xáchơn

Có thể nói tất cả các hoạt động quân sự, quốc phòng đều hưởng lợi từ những thànhtựu cách mạng công nghiệp 4.0

2.3.3 Thị trường xuất nhập khẩu

Xuất nhập khẩu là một hoạt động quan trọng, đóng góp lớn vào phát triển kinh tếnói chung và sự lớn mạnh của cộng đồng doanh nghiệp nói riêng Với một nền kinh tếhội nhập sâu rộng và có độ mở lớn như Việt Nam, phát triển xuất khẩu bền vững là

Trang 17

nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 hứa hẹn sẽ

mở ra con đường mới giúp doanh nghiệp XNK có những bước tiến xa hơn nữa nếu biếtnắm bắt cơ hội

Theo số liệu của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã cónhững tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm vừa qua, đạt tốc độ tăng bình quân là17,5%/năm trong giai đoạn 2011-2015 Năm 2016, xuất khẩu của cả nước đạt 176,6 tỷUSD và theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam xếp thứ 26trong các nền kinh tế có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất Năm 2017, dự kiến kim ngạchxuất khẩu sẽ vượt mốc 200 tỷ USD

CMCN 4.0 giúp doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam có cơ hội tiếp cận hoặc thayđổi vượt bậc về công nghệ khai thác, sản xuất và chế biến sản phẩm Với những côngnghệ mới như trí tuệ nhân tạo, người máy, internet của vạn vật, công nghệ nano, côngnghệ sinh học phân tử, công nghệ di truyền… CMCN 4.0 có thể giúp nâng cao năng suất,chất lượng, giá trị sản phẩm xuất khẩu và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường – vốn

là những điểm yếu của DN xuất khẩu của Việt Nam hiện nay

Cuộc cách mạng này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra các “nhà máythông minh” hay “nhà máy số”, mà ở đó các thiết bị máy móc thông minh giao tiếp vớinhau bằng hệ thống mạng; Tạo ra chuỗi cung ứng sản xuất đạt hiệu quả cao nhất về thờigian xử lý, thời gian lưu kho, nâng cao năng suất… đưa lĩnh vực xuất khẩu có những thayđổi mang tính đột phá

Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp XNK cần phải có bước chuẩn bị về tâm thếcũng như đầu tư về nguồn lực tài chính và nhân sự chất lượng cao đáp ứng nhu cầu và đòihỏi của xu hướng xuất khẩu mới

III THÁCH THỨC CHO ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM TRONG CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư này là xu thế tất yếu để đáp ứng chínhxác nhu cầu của từng khách hàng, làm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ, giảmtiêu hao nguyên nhiên liệu, chi phí sản xuất và vận hành Đồng thời với việc bảo vệ môitrường sống,CMCN 4.0 tạo ra năng lực mới, nhu cầu mới, phương thức mới, gắn vớinăng lực sáng tạo vô tận của trí não (không phải năng lực hữu hạn của cơ bắp) con người,

từ đó mở ra không gian phát triển vô tận Đồng thời, cuộc CMCN này cũng làm thay đổi

Trang 18

căn bản cách con người sống, làm việc và quan hệ với nhau; hình thành một hệ phát triểnvới logic mới - khác "Cơ hội là vô tận, năng lực cá thể là hữu hạn, do đó thách thức lớnchưa từng thấy" Để thực hiện được các mục tiêu đặt ra của CMCN4 cũng có nhiều tháchthức lớn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì phải đối mặt vớirất nhiều thách thức:

3.1 Về nguồn lực

3.1.1 Cơ sở hạ tầng

Rào cản về đầu tư hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin Trong những nămqua, dù cộng đồng DN đã nỗ lực đầu tư hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin vàohoạt động sản xuất kinh doanh, song thực tế vẫn chưa được như kỳ vọng Khảo sát năm

2016 của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin tại các DN xuất nhập khẩu chothấy, mới chỉ có 32% DN đã thiết lập quan hệ kinh doanh với đối tác nước ngoài quakênh trực tuyến, 11% tham gia các sàn thương mại điện tử và 49% có website (Báo cáochỉ số thương mại điện tử 2017, Bộ Công Thương)

Đầu tư cho KH&CN chủ yếu từ ngân sách nhà nước Chưa có cơ chế, chính sách

đủ mạnh để huy động được nguồn lực xã hội, đặc biệt là đầu tư từ khu vực doanh nghiệpcho phát triển KH&CN vì vậy tổng đầu tư cho KH&CN còn ở mức thấp

Bên cạnh đó, hệ thống dịch vụ KH&CN, bao gồm thông tin KH&CN, tư vấnchuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng chưa được trang bị

đủ cơ sở vật chất, do đó, năng lực cung cấp dịch vụ đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực vàquốc tế còn nhiều hạn chế Việc hình thành các tổ chức trung gian, môi giới công nghệmới ở giai đoạn khởi đầu Doanh nghiệp trong nước thường có ít kinh nghiệm thươngthảo trong các giao dịch chuyển giao, mua công nghệ, nên nhiều trường hợp phải chấpnhận những điều kiện bất lợi và giá cao

Thị trường KH&CN phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế Hoạtđộng mua, bán công nghệ và chuyển giao kết quả nghiên cứu còn hạn chế, thiếu các tổchức trung gian, môi giới, thiếu các quy định pháp lý cần thiết về đánh giá, định giá côngnghệ, định giá tài sản trí tuệ và giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu có nguồn gốc ngânsách nhà nước cho các tổ chức và cá nhân

Báo cáo cũng khẳng định, các tổ chức KH&CN trong nước chỉ đáp ứng được mộtphần nhỏ nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu của các tổ chứcKH&CN trong nước được áp dụng vào sản xuất kinh doanh không cao, không có nhiều

đề tài đăng ký được văn bằng sáng chế; có nghĩa là các đề tài nghiên cứu dẫn đến công

Trang 19

nghệ mới rất ít Nhìn chung trình độ công nghệ của các ngành sản xuất nước ta hiện lạchậu khoảng 2-3 thế hệ công nghệ so với các nước trong khu vực…

Về mặt hạ tầng công nghệ, hiện chỉ có các ngân hàng có tiềm lực tài chính và tiênphong trong đầu tư cơ sở hạ tầng và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ tin Trong khi đó,phần lớn các DN có quy mô vừa và nhỏ nên chưa thực sự quan tâm

3.1.2 Nguồn nhân lực

a, Năng suất lao động thấp

Đánh giá này được Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) làm rõ hơn qua một báo cáocho thấy năng suất lao động của nước ta thuộc nhóm thấp nhất trong các quốc gia của khuvực châu Á – Thái Bình Dương Nguyên nhân được ILO đưa ra là do nước ta chỉ cókhoảng gần 20% lao động được đào tạo bài bản, đa số không có đủ chất lượng chuyênmôn, kỹ năng để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thị trường Và nếu so sánh tương quannăng suất lao động và giá nhân công một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á sẽ thấylao động giá rẻ không còn là một lợi thế của Việt Nam mà nếu không cải thiện được tìnhtrạng trên, chúng ta khó có khả năng thu hút được nguồn vốn FDI chất lượng tốt

Điều này buộc các doanh nghiệp cần thay đổi tư duy để có thể cạnh tranh với cácquốc gia khu vực, thay vì bằng cách sử dụng lao động giá rẻ như trước đây, nay cần chútrọng đổi mới công nghệ, quản trị và tuyển chọn nhân tài, đáp ứng thời kỳ công nghiệp4.0

Thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc đẩy nhanh tiến trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và thu hẹp khoảng cách phát triển trong quá trình hội nhập quốc

tế Đặc biệt, nguồn lao động trẻ dồi dào là lợi thế lớn của Việt Nam, bởi đây là lực lượng

có khả năng hấp thụ tốt nhất về khoa học, công nghệ Tuy nhiên, trong nền công nghiệp4.0 với sự mở rộng ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin, điều khiển, tự độnghóa, thì Việt Nam đứng trước nhiều vấn đề về chất lượng nguồn nhân lực Cụ thể:

Một là, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động còn thấp: Hiện nay, ở nước tađang tồn tại hai cách tính khác nhau về lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật Theo

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, baogồm từ đào tạo dưới 1 năm và từ trình độ sơ cấp trở lên Trong khi đó, theo cách tính củaTổng cục Thống kê, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là lao động có chuyênmôn và có chứng chỉ trở lên

Trang 20

Với cách tính của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, năm 2015 cả nước có28,05 triệu người có trình độ chuyên môn kỹ thuật, chiếm 51,64% tổng lực lượng laođộng Trong khi theo cách tính của Tổng cục Thống kê, số người có trình độ chuyên môn

kỹ thuật chỉ có 10,56 triệu người, chiếm tỷ lệ thấp người Philippines hay Indonesia cũngvẫn bằng hơn 02 người Việt Nam

Bên cạnh đó, theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2015-2016, Việt Namđược xếp hạng chung là 56, nhưng các chỉ số cấu phần liên quan đến đổi mới sáng tạo lạithấp hơn nhiều Cụ thể: Năng lực hấp thụ công nghệ xếp hạng 121; Mức độ phức tạp củaquy trình sản xuất: 101; Chất lượng của các tổ chức nghiên cứu khoa học: 95; Giáo dục

và đào tạo ở cấp sau phổ thông: 95

Hai là, năng suất lao động thấp: Theo Báo cáo Năng suất lao động Việt Nam năm

2015, năng suất lao động của Việt Nam theo giá hiện hành đạt 3.660 USD, chỉ bằng 4,4%của Singapore; 17,4% của Malaysia; 35,2% của Thái Lan; 48,5% của Phillippines và48,8% của Indonesia Nói cách khác, năm 2015, một người Singapore có năng suất làmviệc bằng gần 23 người Việt Nam, một người Malaysia bằng gần 06 người Việt Nam,một người Thái Lan bằng gần 03 người Việt Nam và một người Philippines hayIndonesia cũng vẫn bằng hơn 02 người Việt Nam

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 2005-2015, mặc dù lao độnglàm việc trong lĩnh vực nông nghiệp có giảm, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất Cụ thể,nông nghiệp giảm từ 55,09% năm 2005, xuống 45,19% năm 2015; lần lượt công nghiệptăng từ 17,59 lên 21,78%; dịch vụ tăng từ 27,32% lên 33,03% Cơ cấu này phản ánh cấutrúc “nông nghiệp” của nền kinh tế Việt Nam

Ba là, tay nghề và các kỹ năng mềm khác còn yếu: Theo số liệu của Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội, tính đến quý IV/2016, cả nước có 1.110.000 người trong độ tuổilao động thất nghiệp, trong đó có 471.000 người có chuyên môn kỹ thuật (chiếm42,43%) Riêng tại 64 trung tâm dịch vụ việc làm do ngành Lao động - Thương binh và

Xã hội đã quản lý tổ chức được 336 phiên giao dịch việc làm với 780.000 lượt ngườiđược tư vấn, giới thiệu việc làm, nhưng mới có 242.000 lượt người nhận được việc làm

Một phần nguyên nhân là do cơ cấu cung – cầu của thị trường lao động bất hợp lýnhưng một phần không nhỏ cũng là do lao động chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhàtuyển dụng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đưa ra bảng xếp hạng chỉ số năng suấtsáng tạo năm 2014 của lao động ở 24 nước châu Á, trong đó Việt Nam xếp thứ 16/24,

Ngày đăng: 10/03/2023, 13:59

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w