1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập lớn trình bày thực trạng tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế việt nam thời kỳ đổi mới 1986 đến nay

30 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986 đến nay
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề cương hoặc báo cáo luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 320,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ BÀI Câu 1 Trình bày thực trạng tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 đến nay) Câu 2 Nêu những giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việ[.]

Trang 1

ĐỀ BÀICâu 1: Trình bày thực trạng tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tếViệt Nam thời kỳ đổi mới (1986 đến nay)

Câu 2: Nêu những giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng xuấtkhẩu Việt Nam

DÀN ÝCâu 1:

1 Tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế

2 Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành trong nền kinh tế

3 Tăng trưởng kinh tế nhìn từ yếu tố đầu vào

3.1 Đầu tư và tích lũy vốn

3.2 Yếu tố lao động

3.3 Đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế

4 Tăng trưởng kinh tế nhìn từ yếu tố đầu ra

4.1 Tiêu dung cuối cùng

4.2 Chi tiêu chính phủ

4.3 Xuất khẩu ròng

5 Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế thời kỳ đổi mới

5.1 Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế

5.1.1 Cơ cấu nhóm ngành kinh tế

5.1.2 Cơ cấu thành phần kinh tế

5.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế

5.2.1 Năng suất lao động của nền kinh tế

5.2.2 Hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế

5.2.3 Tỉ lệ chi phí trung gian

Trang 2

5.3 Đánh giá sức cạnh tranh của nền kinh tế

5.3.1 Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước

5.3.2 Năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước

5.3.3 Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung

5.4 Đánh giá về giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người laođộng

5.5 Đánh giá về xóa đói giảm nghèo

5.6 Đánh giá về nâng cao phúc lợi xã hội

5.6.1 Về giáo dục – đào tạo

5.6.2 Những tiến bộ về y tế và chăm sóc sức khỏe

5.6.3 Chỉ số đánh giá mức phát triển con người

5.7 Thực trạng tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội

5.8 Thực trạng tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Câu 2:

1 Tầm quan trọng của xuất khẩu trong phát triển kinh tế

2 Thực trạng xuất khẩu của nước ta

3 Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu nước ta

Trang 3

BÀI LÀM

Câu 1:

1.1 Tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế

Trong suốt một thời gian dài sau đổi mới, so với các thời kỳ 1976-1985 (đạt khoảng 2%/năm), 1986-1990 (đạt xấp xỉ 3,9%/năm), thì tốc độ tăng trưởng bình quân năm thời kỳ 1991-1995 (8,18%), 1996-2000 (6.95%) và 2001-2006 (7,62%) là rất ấn tượng Bình quân giai đoạn 1991-2006 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,59%/năm; giai đoạn 2006-2010, tăng trưởng kinh tếđạt 7,01%/năm, trong đó bình quân giai đoạn 2006-2007 đạt 8,34%; giai đoạn 2008-2010 đạt 6,14%; giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt khoảng 5,91%, mặc dù thấp hơn so với giai đoạn 2006-2010, nhưng

đặt trong bối cảnh nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức và

kinh tế thế giới thường xuyên xuất hiện nhiều nhân tố bất lợi thì đây vẫn là mức tăng tương đối tốt Hơn thế nữa, xu hướng phục hồi kinh tế ngày càng rõnét kể từ năm 2013, tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước Tăng trưởng năm 2015 đạt 6,68%, vượt mục tiêu đề ra là 6,2% và là mức cao nhất trong cả giai đoạn 2011-2015

Trang 4

Từ năm 1991 đến nay, nền kinh tế Việt Nam trải qua 3 thời kỳ tăng trưởng khác nhau:

- Thời kỳ 1991-1995 thể hiện những bước chuyển đầu tiên của nền kinh

tế sang cơ chế thị trường, nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, đạt đỉnh điểm vào năm 1995 (9,54%) Giai đoạn chuyển đổi này đã xây dựng nền móng cơ sở cho cơ chế thị trường phát triển những năm sau đó

- Thời kì 1996-1999 là khoảng thời gian tốc độ tăng trưởng kinh tế có chiều đi xuống Tốc độ tăng trưởng giảm đáng kể trong giai đoạn này, từ 8,2% năm 1997 xuống 4,8% năm 1999, bình quân cả thời kỳ, tốc độ tăng trưởng đạt 7%, không đảm bảo kế hoạch 5 năm đã đề ra

-Thời kỳ 2001-2007 chứng kiến đà tăng trưởng trở lại của nền kinh tế

Từ năm 2002 trở lại đây đã đưa nền kinh tế trở lại đà tăng trưởng, từ 6,8% năm 2000 lên 8,4% năm 2005, 8,46% năm 2007 -Từ năm 2008 đến nay, nềnkinh tế bắt đầu chu kỳ suy giảm tăng trưởng do chịu sự tác động của cuộc suy thoái toàn cầu Tốc độ tăng trưởng năm 2008 giảm còn 6,31% so với 8,64% năm 2007, năm 2009 chỉ đạt 5,32%

Trang 5

1.2 Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành trong nền kinh tế.

1.2.1 Nông nghiệp

Năm 1988, nhập 450 nghìn tấn lương thực thì đến năm 1989 Việt Nam

là nước xuất khẩu gạo thứ 3 trên thế giới với sản lượng 1,5 triệu tấn

Khu vực nông, lâm, ngư nghiệp của Việt Nam tăng trưởng liên tục trong

cả giai đoạn 1991-2008, với tốc độ bình quân 4%/năm Giá trị sản xuất của

cả ngành luôn tăng vượt mức đặt ratrong các kế hoạch 5 năm 1991-1995 và 1996-2000

Trong thời kỳ 2001-2008, mặc dù nông nghiệp gặp khó khăn (do hạn hán kéo dài, dịch cúm gia cầm lan rộng, bão lụt xảy ra liên tụ,…) nhưng nhờ thủy sản vẫn tăng khá (trung bình 11,4%/năm), nên tính chung tăng trưởng của nhóm ngành nông-lâm nghiệp và thủy sản vẫn đạt bình quân 4%/năm Năm 2009, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2010 gặp một sốkhó khăn nên tốc độ tăng trưởng của nhóm ngành đã sụt giảm chỉ còn 1,82%.Năm 2010, cả 3 bộ phận này đều có sự phục hồi về tốc độ tăng trưởng, tăng 2,78% so với năm 2009

Giai đoạn 2011 – 2016, so với các nước trong khu vực, ngành Nông nghiệp Việt Nam có tốc độ tăng trưởng thất thường và có xu hướng giảm đi,

từ mức 4,02% năm 2011 còn 1,36% năm 2016, đây cũng là mức thấp nhất từ trước đến nay Điểm % đóng góp vào tăng trưởng nền kinh tế và điểm % đóng góp vào tăng trưởng nền kinh tế của ngành Nông nghiệp đã giảm nhanhtrong thời gian gần đây

Đến năm 2016, điểm % đóng góp vào nền kinh tế chỉ còn 0,22 , giảm hơn 50% so với năm 2015 và hơn 3 lần so với năm 2011; % đóng góp vào tăng trưởng nền kinh tế ở mức 3,5% trong năm 2016, giảm 60% so với năm 2015

và giảm hơn 4 lần so với năm 2011 Đây là mức thấp kỷ lục trong vòng 30 năm qua Sự suy giảm tốc độ tăng trưởng của ngành Nông nghiệp đã làm giảm tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, năm 2016, tốc độ tăng trưởngcủa nền kinh tế chỉ đạt 6,21 % (không đạt mục tiêu kế hoạch đề ra là 6,7%). 

1.2.2 Công nghiệp và xây dựng

Trang 6

Từ năm 1991 tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp và xây dựng

đều cao hơn tốc độ tăng GDP của nền kinh tế, bình quân cả kỳ đạt 10,9

%/năm

Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp và xây dựng qua16 năm gần

như tăng trưởng đạt 2 chữ số, nhờ đó quy mô giá trị sản xuất của ngành năm

2006 xấp xỉ 8 lần so với năm 1991 Năm 2008 bắt đầu chịu ảnh hưởng của

nền suy thoái toàn cầu tốc độ tăng trưởng của ngành giảm mạnh chỉ còn 5,98

% năm 2009 đạt 5,52% Năm 2010, tốc độ tăng trưởng của nhóm này được

cải thiện, đạt 7,7 %

Tăng trưởng cao của ngành công nghiệp và xây dựng đạt được ở cả 3

khu vực (khu vực doanh nghiệp nhà nước, khu vực ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) Tốc độ tăng trưởng công nghiệp trong thời kỳ1991-2008 đạt mức cao ở một số ngành chủ yếu như than, hóa chất, da, gỗ,

kim loại,… đặc biệt trong những năm gần đây có sự phát triển mạnh mẽ của các ngành sản xuất và lắp ráp ô tô, xe máy, thiết bị máy tính, điện đã đóng

góp đáng kể vào sự tăng trưởng của toàn ngành Năm 2015, với mức tăng

trưởng ấn tượng 9,8% so với năm 2014 và cao hơn nhiều mức tăng 5,9% của năm 2013 và 7,6% của năm 2014, sản xuất công nghiệp đã góp phần quan

trọng vào tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế đất nước GDP 6 tháng đầunăm 2016 ước tính tăng 5,52 % so với cùng kỳ năm trước Khu vực công

nghiệp và xây dựng tăng 7,12 %, thấp so với mức tăng 9, 36% cùng kỳ năm

ngoái

Nguyên nhân là do trong khu vực này, ngành công nghiệp tăng 6,82% thấp hơn nhiều mức tăng 9,66% của cùng kỳ năm trước, chủ yếu do ngành khai khoánggiảm 2,2% Trong khi đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,1%, tương đương mức tăng của cùng kỳ 2015. Năm 2016, Bộ Công Thương cho biết nhiều ngành công nghiệp gặp khó khăn, ảm đạm

1.2.3 Dịch vụ

Dịch vụ phải ánh rõ nét nhất về sự thăng trầm của tăng trưởng kinh tế VN Trong thời kỳ 1991-1995, ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao 8,6%/năm Tốc độ tăng trưởng này giảm sút trong 5 năm 1996-2000 5,7%/năm, nhưng đã trở lại đà tăng trưởng từ năm 2001 đến nay Trong 2 năm 2005-2006,

Trang 7

GDP do nhóm ngành dịch vụ tạo ra tăng trên mức 8%, cao nhất tính từ khi vụ khủng hoảng kinh tế-tài chính châu Á xảy ra.

Đóng góp của các khu vực kinh tế vào tăng trưởng GDP (2011-2016)

Công nghiệp – xây dựng 44,5 43,4 38,0 38,0 43,6 42,7

=>Có thể thấy rõ tỷ trọng của nhóm ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản

trong GDP VN đang giảm dần theo thời gian, tăng dần tỷ trọng công nghiệp

và dịch vụ

1.3 Tăng trưởng kinh tế nhìn từ yếu tố đầu vào

Công thức g =A.K^a.L^b Trong đó

g: Tăng trưởng kinh tế hằng năm

K: Vốn đầu tư

L: Lao động

A: Hiệu quả sản xuất, yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp TFP

a: Hệ số co giãn của vốn

b: Hệ số co giãn của lao động

Hai nhân tố vốn và lao động được kết hợp với nhau theo tỷ lệ bất kỳ, gắn với việc nghiên cứu hệ số co giãn a và b hệ số này cho phép tính toán đo lường

được tỷ lệ phần tăm đóng góp của các nguồn lực vào trong quá trình thúc đẩykinh tế, như vậy khi xác định được nhân tố đầu vào là cần thiết điều chỉnh

Trang 8

chiến lược tăng trưởng kinh tế ra sao khi sử dụng 2 nguồn lực vốn và lao

động

1.3.1 Đầu tư và tích lũy vốn

Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế được hiểu vốn vậtchất chứ không phải dưới dạng tiền (giá trị) Nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích lũy lại của nền kinh tế, bao gồm: nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng

và các trang thiết bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản xuất Vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế được các nhà kinh tế trường phái Keynes đánh giá rất cao Cụ thể, nó được lượng hóa thông qua mô hình Harrod-Domar

- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tùy thuộc vào tốc độ tích lũy vốn vì vốn làm tăng thêm đầu vào và tăng thêm đầu ra của quá trình sản xuất do đó làm tăng thu nhập

- Vốn là tiền đề để đạt được 3 mục tiêu cơ bản của nền kinh tế là tăng trưởng, việclàm đầy đủ và phân phối công bằng hợp lý

- Vốn là yếu tố tạo ra lãi

Lãi = Vốn + Thị trường + Chất xám

1.3.2 Yếu tố lao động

Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất Trước đây, người

ta chỉ quan niệm lao động là yếu tố vật chất giống như vốn và được xác định bằng

số lượng lao động của mỗi quốc gia (có thể tính bằng đầu người hay thời gian lao động). Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động là vốn nhân lực, đó là lao động có kỹ năng sảnxuất, lao động có thể vận hành máy móc thiết bị phức tạp, lao động có sáng kiến

và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế… Hiện nay tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng góp bởi quy mô (số lượng) lao động, còn vốn nhân lực có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng nguồn nhân lực của các nướcnày còn thấp

Các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng nguồn lao động

- Nhân tố ảnh hưởng đến số lượng lao động

+ Thứ nhất, dân số và tỷ lệ dân sô

+ Thứ hai, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động

+ Thứ ba, thời gian lao động

- Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động

Trang 9

+ Thứ nhất, giáo dục và đào tạo

+ Thứ hai, sức khỏe và dinh dưỡng

+ Thứ ba, tác phong làm việc, tính lỷ luật của người lao động

1.3.3 Đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế

- TFP là quan hệ giữa đầu ra với tổng hợp các đầu vào gồm cả các yếu tố không định lượng được như quản lý, khoa học công nghệ

- TFP là tỷ số của số lượng tất cả các đầu ra với số lượng tất cả đầu vào

- TFP = Y/X , trong đó Y tổng các đầu ra, X tổng các đầu vào

Như vật TFP là 1 chỉ tiêu phản ánh tổng hợp hiệu quả các nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất và được đo lường bằng tỷ số giữa đầu ra với mức kết hợp

có quyền số giữa các đầu vào

Giai đoạn 2006 – 2010, có lúc vốn đầu tư đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam lên tới 78%, lao động khoảng 20%, và còn lại là yếu tố TFP Tuy nhiên,

có một sự thay đổi lớn ở giai đoạn 2011 – 2014, tốc độ tăng TFP đóng góp vào tăng trưởng kinh tế tăng lên khoảng 27%, và yếu tố vốn đã giảm xuống còn hơn 53%, Chất lượng tăng trưởng có mặt được cải thiện, trình độ công nghệ sản xuất

có bước được nâng lên Đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp TFP vào tăng trưởng nếu ở giai đoạn 2001-2005 chỉ đạt 21,4%, giai đoạn 2006-2010 đạt 17,2% thì trong giai đoạn 2011-2015 đã đạt 28,94% Điều này chứng tỏ, vai trò của TFP ngày càng được chú trọng trong phát triển kinh tế của Việt Nam, và dần đưa nền kinh tế Việt Nam theo hướng tăng trưởng về chất lượng lẫn chiều sâu

Nhưng lạ thay ở Việt Nam, yếu tố TFP dường như chỉ được đánh đồng với hiệu quả đầu tư, cụ thể là chỉ số ICOR ở khu vực nhà nước, mà quên đi

TFP là yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp Nghĩa là, TFP phải thể hiện

kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn (khu vực nhà

nước, khu vực tư nhân) và lao động (các nhân tố hữu hình), nhờ vào tác độngcủa các nhân tố vô hình như đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của nhân viên…

Vì vậy dễ dàng nhận thấy, yếu tố TFP chỉ mới dừng lại ở cải thiện

ICOR bằng phương pháp cơ học, mà chưa thật sự dựa vào cải tiến khoa học công nghệ - kỹ thuật,nâng cao cao trình độ quản lý, cũng như gia tăng năng

Trang 10

suất lao động (Năng suất lao động của Việt Nam vẫn nằm ở top cuối bảng

xếp hạng trong khu vực Đông Nam Á, 2015)

Do đó, cải thiện năng suất lao động, đổi mới khoa học công nghệ - kỹ

thuật, nâng cao trình độ quản trị/quản lý phải quyết liệt, ưu tiên để hướng nềnkinh tế tăng trưởng bền vững hơn, và dần thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình

Tăng trưởng GDP quý 1 trong các năm từ 2011-2016 (%)

Còn tăng trưởng kinh tế xét ở yếu tố đầu ra gồm những đóng góp của: tiêu

dùng tư nhân, tiêu dùng chính phủ, tổng đầu tư tài sản cố định, xuất khẩu

Tuy nhiên, tiêu dùng cuối cùng đóng góp nhiều trong tăng trưởng không

có nghĩa là người dân giàu có và nền kinh tế Việt nam đang chuyển từ đầu tư

Trang 11

sang tiêu dùng như nhiều quốc gia phát triển Mà ở đó được lý giải do quy

mô GDP của Việt Nam còn nhỏ, nên tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng phải chiếm

tỷ trọng lớn trong GDP; ngoài ra, mức tiêu dùng bình quân đầu người trong nhiều năm còn thấp nên nhu cầu và tốc độ tăng trưởng thường cao

Động lực tăng trưởng tiếp theo của nền kinh tế Việt Nam đến từ đầu tư tài sản cố định, trung bình khoảng 6,6% cho giai đoạn 2015 – 2017 Khoản đầu tư này bao gồm đầu tư phi nhà ở - việc mua/xây nhà máy mới, và máy móc mới của các công ty; và đầu tư nhà ở - việc mua nhà hoặc các căn hộ mới của người tiêu dùng

Theo thống kê từ Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện nay cả nước có gần 600.000 doanh nghiệp với hơn 90% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hầu hết đều đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2 – 3 thế hệ, trong đó có đến 76% số máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 60 – 70 của thế kỷ trước, 75% số thiết bị đã hết khấu hao Chính vì vậy, một thời gian dài, các khoản đầu tư tài sản cố định thường chảyvào kênh bất động sản để tìm kiếm lợi nhuận hơn là đầu tư trực tiếp cho sản xuất kinh doanh Đấy cũng chính là nguyên nhân làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam so với các nước trên thế giới

1.4.2 Chi tiêu Chính phủ

Chính phủ nên có những biện pháp nắn dòng vốn đầu tư tài sản cố định của nền kinh tế sang đầu tư nhà xưởng, máy móc thiết bị, khoa học công nghệ…

Trang 12

để tạo sức bật về năng lực sản xuất, đổi mới sản phẩm, gia tăng cạnh tranh…cho doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập AEC và TPP.

Tóm lại, tăng trưởng kinh tế nhanh không bằng bền vững Tăng trưởng

ở số lượng, không bằng ở chất lượng.Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa cho việc cải thiện mức độ đóng góp TFP ở gia tăng năng suất lao động, trình độ

chuyên môn, khả năng quản trị…; nắn dòng vốn đầu tư tài sản cố định sang đổi mới khoa học công nghệ, nhà xương, máy móc thiết bị…; xây dựng một thị trường mua bán hàng hóa đa dạng về chủng loại, mẫu mã, chất lượng…đểgia tăng hơn nữa giá trị tiêu dùng cuối cùng Tất cả điều trên nhằm giúp khai thác hiệu quả các tiềm năng vốn có của những động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới

1.4.3 Xuất khẩu ròng

Một nền kinh tế có sức cạnh tranh về xuất khẩu sẽ thể hiện ở tỷ giá trị xuất khẩu trong giá trị sản xuất Việt Nam có tỷ lệ giá trị xuất khẩu trong giá trị sản xuất liên tục tăng trong các năm qua, điều này có được là nhờ chính sách mở cửa và hội nhập của đất nước, đồng thời giá cả trên thị trường thế giới tăng mạnh và năng lực sản xuất của Việt Nam cũng được nâng lên một bước Từ năm 2000 trở lại đây cho thấy các mặt hàng công nghiệp luôn chiếm tỷ lệ rất cao 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước nhưng sự chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu còn chậm

Do chi phí sản xuất trong nước cao, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp nênnhập siêu còn rất lớn cả về kim ngạch tuyệt đối lẫn tỷ lệ nhập siêu Tuy nhiêntổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong năm 2016 đạt

176,63 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2015

Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy nhiều nhóm hàng xuất khẩu truyền thống gặp khó khăn do giá bình quân giảm như: nhómhàng nông sản (cà phê, chè, hạt tiêu, cao su, sắn & sản phẩm sắn) và nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản (dầu thô, xăng dầu) nhưng xuất khẩu cả nước vẫn tăng 9% (tương đương tăng 14,62 tỷ USD) so với năm 2015 Sở dĩ như vậy là nhờ vào tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ của nhóm hàng công nghiệp chế biến, cụ thể:  điện thoại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (tăng 7,5 tỷ USD), máy móc thiết bị (tăng 1,98 tỷ USD), hàng dệt may (tăng 1,04

tỷ USD), hàng giày dép (tăng gần 1 tỷ USD) xuất khẩu cá tra, cá bas a sang thị trường Mỹ gặp khó khăn, các mặt hàng hoa quả như vải, xoài, chôm chôm… có những bước phát triển rõ rệt

Trang 13

Ngày 27-9, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã công bố báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017- 2018. 

Tạp chí Nikkei Asian Review nhận xét báo cáo cho thấy một bức tranh hỗn hợp về châu Á, trong khi Việt Nam và Indonesia nhảy vọt về thứ bậc thì Nhật Bản và Ấn Độ giảm sút

WEF đánh giá các nước trên thang điểm 7 Theo đó, điểm năng lực cạnhtranh (GCI) của Việt Nam năm nay được 4,4 điểm so với 4,31 năm ngoái

Cụ thể, Việt Nam nhảy lên hạng 55 (trên tổng số 137 nền kinh tế), tăng

5 bậc so với năm ngoái và 20 bậc so với cách đây 5 năm. 

Theo nhận xét của WEF, Việt Nam được đánh giá có những cải thiện đáng chú ý trong mức độ sẵn sàng về công nghệ, tính hiệu quả của thị trườnglao động. 

Ngoài ra, giao thương là một yếu tố lớn khác giúp Việt Nam tiến lên phía trước, khi đứng thứ 7 về tỉ lệ nhập khẩu so với GDP và thứ 11 về tỉ lệ xuất khẩu

1.5 Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế thời kỳ đổi mới

1.5.1 Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.5.1.1 Cơ cấu nhóm ngành kinh tế

Cơ cấu ngành kinh tế trong GDP ở nước ta đang có sự chuyển dịch theo hướng: tăng tỉ trọng của khu vực II (công nghiệp và xây dựng) giảm tỉ trọng của khu vực I (nông-lâm-ngư nghiệp), khu vực III (dịch vụ) có tỉ trọng khá cao nhưng chưa ổn định

Xu hướng chuyển dịch như trên là phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện nước tahiện nay Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Trong nội bộ từng ngành, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng thể hiện khá rõ Ở khu vực I, xu hướng là giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỉ

Trang 14

trọng ngành thủy sản Năm 1990, tỉ trọng ngành nông nghiệp là 83,4% đến năm 2005 chỉ còn 71,5% Cùng những năm đó, tỉ trọng ngành thủy sản tăng

từ 8,7% lên 24,8% Nếu xét riêng nông nghiệp (theo nghĩa hẹp) thì tỉ trọng của ngành trồng trọt giảm, còn tỉ trọng của ngành chăn nuôi tăng

Ở khu vực II, công nghiệp đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành sản xuất và đa dạng hóa sản phẩm để phù hợp hơn với yêu cầu của thị trường

và tăng hiệu quả đầu tư Ngành công nghiệp chế biến tăng tỉ trọng, trong khi

đó công nghiệp khai thác có tỉ trọng giảm Trong từng ngành công nghiệp, cơcấu sản phẩm cũng chuyển đổi theo hướng tăng tỉ trọng của các sản phẩm cao cấp, có chất lượng và cạnh tranh được về giá cả, giảm các loại sản phẩm chất lượng thấp và trung bình không phù hợp với yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu

Khu vực III đã có những bước tăng trưởng ở một số mặt, nhất là trong lĩnh vực liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế và phát triển đô thị Nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời như viễn thông, tư vấn đầu tư, chuyển giao công nghệ,…đã góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước

1.5.1.2 Cơ cấu thành phần kinh tế

Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế có hai hình thức sở hữu, hai loại hình kinh tế chủ yếu là xí nghiệp quốc doanh và tập thể, chỉ có một ít là loại hình kinh tế cá thể, chưa có kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Kinh tế Nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn, với hàng chục nghìn xí nghiệp quốc doanh Gọi là xí nghiệp quốc doanh, nhưng chưa thể gọi là doanh

nghiệp, bởi xí nghiệp gần như không có quyền tự chủ, mọi cái từ đầu vào (lao động, vốn đầu tư, nguyên nhiên vật liệu…), sản xuất, kinh doanh (cái gì, bao nhiêu…), đầu ra (tiêu thụ ở đâu, giá cả ra sao…), đến kết quả sản xuất, kinh doanh (lãi, lỗ,…) đều do Nhà nước lo, Nhà nước chịu

Kinh tế tập thể chiếm gần hết khu vực ngoài Nhà nước với hàng nghìn hợp tác xã cũng thuộc đủ các ngành Gọi là kinh tế tập thể dựa trên nguyên tắc tự nguyện nhưng phương án ăn chia do Nhà nước duyệt; vật tư chủ yếu

do Nhà nước cung cấp; sản phẩm do Nhà nước thu mua; xã viên ăn theo địnhlượng

Trang 15

Cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội sâu rộng tiềm ẩn từ cuối những năm

1970, bùng phát trong những năm 1980, kéo dài đến đầu những năm 1990 của thế kỷ trước đã khiến tăng trưởng kinh tế chậm, có năm bị suy thoái GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái, nếu năm 1985còn đạt 233,3 USD, thì năm 1988 chỉ còn 86 USD/người, thuộc loại thấp nhất thế giới Lạm phát và nhập siêu rất cao; tỷ lệ thất nghiệp năm 1989 lên đến trên 13%

Nhờ đổi mới, mở cửa hội nhập (bắt đầu từ năm 1986), cơ cấu thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch khá rõ

Trước hết là trong cơ cấu GDP, tỷ trọng khu vực Nhà nước đã giảm xuống còn dưới 1/3; của khu vực tập thể còn rất thấp (5,05%); của khu vực

có vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm gần 20%; còn khu vực kinh tế tư nhân chiếm trên dưới 11%

Cơ cấu thành phần kinh tế về lao động đang làm việc, nếu năm 1986, lao động khu vực Nhà nước là 15,5%, khu vực ngoài Nhà nước chiếm 84,5%thì nay, khu vực Nhà nước chỉ còn chiếm 10,3%, khu vực ngoài Nhà nước chiếm 86,4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 3,3%

Vốn đầu tư đã có sự chuyển dịch theo hướng khai thác các nguồn lực của các thành phần kinh tế ở trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, tỷ trọng vốn đầu tư của khu vựcNhà nước đã giảm từ 54,3% (thời kỳ 1996-2000) xuống còn 39,3% (thời kỳ 2011-2013); của khu vực ngoài Nhà nước tương ứng tăng từ 24,1% lên 38,1%; của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 15,7% (thời kỳ 2001-2005) lên 22,6% (thời kỳ 2011-2013)

Về tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (TMBL),

tỷ trọng kinh tế Nhà nước từ chỗ chiếm 40,7% năm 1985 xuống còn 10,2% năm 2013; tỷ trọng của khu vực ngoài Nhà nước tăng tương ứng từ 59,3% lên 86,7%, trong đó của kinh tế tập thể giảm còn 1%, của kinh tế tư nhân đã chiếm trên dưới 1/3; tỷ trọng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trước năm 1994 chưa có gì, nay đã chiếm 3,1%

Từ sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế trong 30 năm đổi mới, có thể rút ra một số điểm đáng lưu ý

Ngày đăng: 10/03/2023, 13:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w