Khi tổ chức kinh tế phải di dời trụ sở, cơ sở sản xuất, kinh doanh theo quy hoạch.pdf
Trang 1
L¿
_LAO DONG TAP THE NHAM GOP PHAN HAN
CHE DINH CONG
= DO NANG KHANH ©
Trong nhiều năm qua, trước tình hình tranh chấp lao động tập thể và đình công xảy ra ngày một nhiều với quy mô ngày một lớn, tính chất ngày một nghiêm trọng hơn thì các nhà lập pháp Việt Nam dường như vẫn lúng túng với bài toán: nên sửa đổi Pháp lệnh giải quyết tranh chấp lao động hay sửa đổi Bộ luật lao động?
Và, nếu sửa đối thì sửa đổi những vấn đề gì, liệu những sửa đổi đó có khả thị, có đem lại hiệu quả thật sự
không? vẫn là những câu hỗi chưa có lời giải, mặc dù-trên thực tế, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động (phần về đình công) đã được Quốc hội xem xét, cho ý kiến và dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ X Liên quan đốn vấn đề này, bài viết đưa ra một hướng tiếp cận mới, đó là: hoàn thiện chế định thoả ước lao động tập thể để góp phần hạn chế đình công
1 Một số nét về thoả ước lao động tập thể
Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 1994,
“thoả ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận
giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động
về các điều kiện lao động và sử dụng lao động,
quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ
lao động
Thoả ước lao động tập thể do đại diện tập thể
lao động và người sử dụng lao động thương lượng
và ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và
công khai” (khoản 1 Điều 44)
Hiện nay, ngoài các quy định có liên quan tại
nhiều chương, mục và điều khoản khác của Bộ luật
lao động, thoả ước lao động tập thể được quy định
©ThS, Phó Chánh Thanh tra Tổng cục Dạy nghề, Bộ LĐ-TB&XH
y 110 T10
36 Nghiên cứu lập pháp số 10(85 3006
trong một chương riêng của Bộ luật (Chương V:
Thoả ước lao động tập thể) với 11 điều (từ Điều 44
đến Điều 54)
Thoả ước lao động là một chế định quan trọng
và có truyền thống trong pháp luật quốc tế và pháp
luật lao động của những nước phát triển Năm
1981, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã thông
qua Công ước về Xúc tiến thương lượng tập thể
(Công ước số 154) Điều 2 của Công ước này đã
nêu rõ: thuật ngữ thương lượng tập thể được áp dụng cho mọi cuộc thương lượng diễn ra giữa người sử dụng lao động hay một nhóm người sử
dụng lao động hay một hoặc nhiều tổ chức của
người sử dụng lao động với một hay nhiều tổ chức
Trang 2của người lao động, nhằm: a) Quy định những điều
kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động; b)
Điều chỉnh mối quan hệ giữa những người sử dụng
lao động và những người lao động; c) Điều chỉnh
mối quan hệ giữa những người sử dụng lao động
hoặc các tổ chức của người sử dụng lao động với
một hay nhiều tổ chức của người lao động
Khác với hợp đồng tao động, chủ thể của thoả
ước lao động tập thể bao giờ cũng chỉ có hai bên,
trong đó một bên bắt buộc phải là tập thể người lao
động (một hay nhiều tổ chức của người lao động)
với người sử dụng lao động hoặc tổ chức của người
sử dụng lao động Như vậy, cá nhân người lao
động và những người lao động không có tổ chức sẽ
không có chỗ đứng trong việc thương lượng tập
thể Về hình thức, thoả ước lao động tập thể bao
giờ cũng được thể hiện bằng văn bản, chứ không
thể bằng miệng (lời nói, hành vi) như với hợp đồng
ˆ lao động
Về mặt nguyên tắc, các thoả ước lao động tập
thể phải bảo đảm các quyền và lợi ích của người
lao động, không được thấp hơn các quy định của
pháp luật lao động và thoả ước được ký kết theo
nguyên tắc thoả thuận, tự nguyện, bình đẳng và
công khai, không bên nào có quyền ép buộc bên
kia phải ký kết
Mục đích của thoả ước lao động tập thể là để
xúc tiến mối quan hệ tốt đẹp giữa doanh nghiệp với
tập thể lao động và với tổ chức đại diện cho họ là
công đoàn, cụ thể hơn là để tạo ra một sự hiểu biết
rõ ràng đối với những vấn đề và điều kiện làm việc
của những người lao động do công đoàn đại diện
nhằm ổn định những điều kiện làm việc của họ
trong thời gian thoả ước có hiệu lực, đồng thời
nhằm cung cấp những phương tiện để giải quyết
những sự hiểu lầm có thể xây ra do những cách
giải thích khác nhau hoặc về bất kỳ nội dụng nào
của thoả ước
Thoả ước lao động tập thể ở cấp doanh nghiệp
là hình thái đơn giản nhất, ở Việt Nam cũng mới chỉ
có loại này Tuy nhiên, ở nhiều nước, đặc biệt là ở
các nước phát triển, thoả ước lao động tập thể
được ký kết ở nhiều cấp khác nhau, như: cấp quốc
gia, cấp vùng, cấp ngành, cấp liên ngành Các
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
loại thoả ước với phạm vị rộng như vậy sẽ có vai
trò rất quan trọng trong việc bảo đảm mặt bằng chung về quyền và lợi ích giữa những người lao động trong phạm vi ảnh hưởng của thoả ước
2 Thoả ước lao động tập thể - công cụ pháp lý
quan trọng để hạn chế tranh chấp lao động và đình công
2.1 Thoả ước lao động tập thể góp phần tạo dựng quan hệ lao động hài hoà về quyền và lợi ích giữa tập thể lao động vả người sử dụng lao
Xuất phát từ những đặc tính riêng có của quan
hệ lao động pháp luật lao động không và không
thể quy định chặt chẽ, cụ thể tất cả các quyền và
lợi ích của người lao động và người sử dụng lao
động mà chỈ có thể xác lập khung pháp lý cơ bản
để các bên này tự thương lượng và thoả thuận với nhau Đối với từng cá nhân người lao động, họ có thể cùng với người sử dụng lao động thực hiện
hành vi này thông qua giao kết hợp đồng lao động
còn đối với tập thể lao động của doanh nghiệp thì
cần phải ký kết thoả ước lao động tập thể để cụ thế hoá các quyền và nghĩa vụ của các bên cho
phù hợp với điểu kiện thực tế của từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ sản xuất, kinh doanh nhất định
Trên cơ sở thương lượng giữa đại diện tập thể
lao động với đại diện người sử dụng lao động,
quyền, lợi ích cụ thể của các bên sẽ đi đến thống nhất hơn và chúng sẽ được cụ thể hoá, pháp lý
hoá bởi các nội dung trong bản thoả ước lao động
tập thể Đến lượt mình, bản thoả ước lao động tập thể sẽ là công cụ pháp lý quan trọng điều chỉnh
hành vi của các bên, buộc mỗi bên phải có trách nhiệm hơn trong việc thực hiện các quyền, nghĩa
vụ đối với bên kia Và như vậy, so với những quan
hệ lao động chỉ đơn thuần dựa trên các quy định
pháp luật do nhà nước ban hành, thì những quan
hệ giữa tập thể lao động và người sử dụng lao
động được tiến hành trên cơ sở thoả ước lao động
tập thể sẽ phù hợp với thực tế hơn, hài hoà về
quyền và nghĩa vụ giữa các bên hơn và do đó ổn
định, bền vững hơn
Trang 32.2 Thoả ước lao động tập thể góp phần điều
hoà lợi ích, ngăn ngửa xung đột giữa tập thể lao
động và người sử dụng lao động
Không chỉ góp phần tạo nên sự cộng đồng về
quyền lợi và nâng cao ý thức trách nhiệm của các
bên trong quan hệ lao động (như đã trình bày ở
phần trên), thoả ước lao động tập thể còn là một
trong những biện pháp pháp lý quan trọng để hạn
chế xảy ra các tranh chấp trong quan hệ lao động,
đặc biệt là đối với các tranh chấp lao động tập thể
và đình công
Đối với người lao động trong doanh nghiệp, với
ý nghĩa lớn lao của sự liên kết các cá nhân mỗi
người lao động thành một khối thống nhất về
quyền, về lợi ích và về ý chí, thoả ước lao động tập
thể tạo điều kiện để họ được bình đẳng hơn với
người sử dựng lao động trong quan hệ lao động,
giúp họ có được vị thế tương xứng, có tiếng nói
mạnh hơn trong việc thương lượng (có thể nói là
“mặc cả") với người sử dụng lao động về quyền và
nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động Thoả
ước lao động tập thể khi đã được ký kết và có hiệu
lực sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng, được nhà nước
thừa nhận và bảo vệ, giúp hạn chế được những
yêu sách không chính đáng có thể phát sinh trong
quá trình tiến hành quan hệ lao động từ phía người
sử dụng lao động — phía thường có ưu thế hơn
trong quan hệ lao động đối với người lao động
Đối với người sử dụng lao động, thoả ước lao
động tập thể sẽ giúp họ tăng thêm sự chủ động
trong sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng là yếu
tố quan trọng giúp kiểm chế xu hướng bột phát yêu
sách không chính đáng từ phía người lao động đối
với doanh nghiệp, góp phần ổn định doanh nghiệp
Điều có ý nghĩa nữa là, thoả ước lao động tập thể
được ký kết sẽ góp phần nâng cao ý thức trách
nhiệm của người lao động đối với việc thực hiện
nghĩa vụ lao động, nhờ đó mà năng suất, chất
lượng lao động được nâng cao, kế hoạch sản xuất
của người sử dụng lao động được bảo đảm thực
hiện Lợi ích của doanh nghiệp được bảo đảm sẽ
là một yếu tố quan trọng bảo đảm lợi ích các bên,
giúp hạn chế các xung đột và tranh chấp trong
quan hệ lao động tại doanh nghiệp
38 Nghiên cứu lập pháp số 10(85) ae
Như vậy, thoả ước lao động tập thể chính là một
công cụ pháp lý quan trọng để tập thể người lao động và người sử dụng lao động xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định, cùng nhau hợp tác vì sự phát triển của doanh nghiệp, vì lợi ích của
mỗi bên Từ đó, thoả ước lao động tập thể cũng gián tiếp góp phần ổn định, phát triển bền vững
nền kinh tế đất nước, ổn định xã hội
2.3 Thoả ước lao động góp phần đoàn kết, củng cố quan hệ giữa những người lao động với nhau, hạn chế xung đột và cạnh tranh không lành mạnh trong nội bộ những người lao
động
Thoả ước lao động tập thể được ký kết và thực
hiện giữa các bên sẽ thống nhất được chế độ lao
động cho tất cả những người lao động ở cùng một
đơn vị doanh nghiệp, một doanh nghiệp hoặc một ngành, một vùng (tuỳ theo quy mô, phạm vi của thoả ước) Như vậy, thoả ước lao động tập thể cũng
sẽ giúp loại trừ sự canh tranh không lành mạnh
giữa những người lao động ở cùng một đơn vị
doanh nghiệp, một doanh nghiệp hoặc mốt ngành,
một vùng, bảo đảm ổn định việc làm cho người lao
động, tăng cường sự đoàn kết nhất trí giữa những
người lao động và giữa họ với người sử dụng lao
‘dong
2.4 Thoả ước lao động là cơ sở pháp lý quan
trọng để giải quyết tranh chấp lao động và đình
công
Quan hệ lao động là quan hệ thiên về khía cạnh lợi ích Vì vậy, bất đồng giữa người lao động, tập
thể lao động với người sử dụng lao động trong
quan hệ này là điều thường xuyên phát sinh, khó
có thể hạn chế tuyệt đối Có những bất đồng hai
bên tự thương lượng giải quyết được nhưng cũng
có những bất đồng họ không tự giải quyết được mà phải nhờ đến các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
giải quyết Thậm chí, có những bất đồng trở thành tranh chấp lao động tập thể rất quyết liệt, không
giải quyết được và dẫn đến đình công
Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao
động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động
Trang 4Tranh chấp lao động cá nhân thường là những
tranh chấp về các vấn đề đã thoả thuận trong hợp
đồng lao động Vì vậy, hợp đồng lao động là căn
cứ quan trọng nhất để cơ quan cĩ thẩm quyền tiến
hành giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, cùng với
hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể cũng
là một căn cứ quan trọng để giải quyết tranh chấp
Một trong những yêu cầu khi giải quyết tranh chấp
là cơ quan, tổ chức cĩ thẩm quyền phải xem xét,
đối chiếu xem những nội dung trong hợp đồng lao
động cĩ phù hợp với thoả ước lao động tập thể hay
khơng Nếu nội dung hợp đồng lao động mà trái
với thoả ước lao động tập thể (theo hướng bất lợi
cho người lao động) thì đương nhiên nội dụng đĩ bị
coi là vơ hiệu và phải căn cứ vào thoả ước lao động
tập thể để giải quyết
Tranh chấp lao động tập thể thường là những
tranh chấp về thoả ước lao động tập thể, như:
tranh chấp về việc các bên khơng thực hiện đúng
các nội dung đã thoả thuận trong thoả ước; tranh
chấp về việc phải sửa đổi, bổ sung những nội dung
đã khơng cịn phù hợp với điều kiện thực tế tại thời
điểm phát sinh tranh chấp Đương nhiên, thoả
ước lao động tập thể phải là cơ sở pháp lý quan
trọng nhất để giải quyết các tranh chấp này
Tĩm lại, thoả ước lao động tập thể chính là biện
pháp pháp lý quan trọng để người lao động và
người sử dụng lao động xây dựng được mối quan
hệ lao động hài hồ, ổn định, cùng nhau hợp tác vì
sự phát triển ổn định, phồn vinh của doanh nghiệp
và vì lợi ích của mỗi bên Và như vậy, thoả ước lao
động tập thể là cơng cụ pháp lý cực kỳ quan trọng
để hạn chế tranh chấp lao động và đình cơng xây
ra Nếu chế định về thoả ước lao động tập thể của
pháp luật lao động được quan tâm xây dựng và
hồn thiện phù hợp với thực tế, nếu các doanh
nghiệp và các cơ quan, tổ chức hữu quan quan
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
tâm đầy đủ đến việc ký kết và thực hiện thoả ước lao động tập thể, thì cĩ thể hạn chế được đến mức
tối đa các tranh chấp lao động và đình cơng xảy ra
trên thực tết,
3 Thực trạng và giải pháp
6 Việt Nam hiện nay, thoả ước lao động tập thể
vẫn chưa được đánh giá và coi trọng đúng mức
như ở những nước cĩ nền kinh tế thị trường” Theo thống kê®, chỉ tính từ khi Bộ luật Lao động
cĩ hiệu lực (01/01/1995) đến hết tháng 06 năm
2006, trên tồn quốc đã xảy ra 1.300 cuộc đình
cơng, trong đĩ chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm
2006 đã xảy ra 308 cuộc đình cơng, trong đĩ chỉ
riêng ba tỉnh, thành phố: TP.Hồ Chí Minh, Đồng
Nai và Bình Dương các cuộc đình cơng đã chiếm 90,9% Nếu tính theo loại hình doanh nghiệp thì
các doanh nghiệp cĩ vốn đầu tư nước ngồi chiếm
tỷ lệ cao nhất (75,3%), theo ngành thì ngành may,
da giày và chế biến chiếm 75% Hầu hết (90%)
.các vụ đình cơng cĩ nội dung yêu cầu người sử dụng lao động phải bảo đảm các quyền lợi về tiền lương, tiền thưởng, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ
ngơi, bảo hiểm xã hội, định mức lao động và việc
ký kết hợp đồng lao động cho người lao động
Như vậy, nội dung các cuộc đình cơng chủ yếu đều
nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan
hệ lao động Đồng thời, cĩ một thực tế phải quan tâm là, hầu hết các vụ đình cơng xảy ra ở những
doanh nghiệp khơng cĩ thoả ước lao động tập thể
Cịn với những vụ đình cơng xảy ra ở những doanh
nghiệp đã cĩ việc ký thoẩ ước lao động tập thể thi
các bản thoả ước này mới chỉ là sự sao chép lại
những quy định của Bộ luật Lao động nên khơng
cụ thể và khơng phản ánh được đặc điểm của từng
doanh nghiệp, khơng thể hiện sự năng động trong
giải quyết mâu thuẫn giữa hai bên, gây ra những
Tham khảo: Trần Thị Thuý Lâm, Thoả ước lao động tập thể trong nền kinh tế thị trường - những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng (Luận văn thạc sĩ luật học), H.2001
® @ nhiéu nước cơng nghiệp phát triển, cùng với pháp luật, thộ ước lao động là cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho quan hệ lao động và la ca sd để giải quyết các tranh chấp lao động; thậm chí, do đã cĩ thoả ước lao động tập thể tại doanh nghiệp, người lao động khi vào làm việc cho doanh nghiệp khơng cần phải ký hợp đồng lao động
® Xem: Tờ trình Quốc hội số 70/CP-XDPL của Chính phủ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động (liên quan đến đình cơng và giải quyết đình cơng), ngày 11 tháng 05 năm 2006
T10 tân cýn: lâ Z
2006 Nghiên cứu lập pháp số 10(85) 39
Trang 5bức xúc không được giải quyết kịp thời Như vậy,
có thể thấy, ở các doanh nghiệp này, thoả ước lao
động tập thể đã không thể hiện được nội dung và
các ý nghĩa như nó vốn có, đó là tính quy phạm có
tính chất bắt buộc giữa hai bên nhằm bảo đảm cho
việc thương lượng, ký kết được tiến hành đúng đắn,
có chất lượng, bảo đảm tính pháp lý, nâng cao ý
thức trách nhiệm của hai bên và do đó sẽ hạn chế
được tranh chấp lao động tập thể mà đỉnh cao là
đình công
Để thoả ước lao động trở thành công cụ quan
trọng nhằm duy trì và bảo đảm hài hoà các lợi ích
trong quan hệ lao động, hạn chế đến mức tối đa
các tranh chấp lao động và đình công, cần phải
tiến hành thực hiện nhiều biện pháp, trong đó
biện pháp quan trọng nhất là pháp luật về thoả
ước lao động tập thể cần phải được sửa đổi, bổ
sung để người lao động và người sử dụng lao
động xây dựng được mối quan hệ lao động hài
hoà, ổn định, cùng nhau hợp tác, nhằm hạn chế
thấp nhất các vụ đình công Vì sự phát triển ổn
định, phồn vinh của doanh nghiệp chính là lợi ích
của mỗi bên Cụ thể:
Thứ nhất, đề nghị nên nghiên cứu việc mỏ rộng
chủ thể đại diện cho phía người lao động để
thương lượng, ký thoả ước lao động tập thể
Theo quy định của pháp luật hiện hành, chỉ có
Ban chấp hành Công đoàn mới có quyền đại diện
cho tập thể lao động để thương lượng, ký kết thoả
ước lao động tập thể Tuy nhiên, như đã trình bày
ở các phần trên, việc quy định người đại diện cho
tập thể lao động chỉ là công đoàn sẽ gây rất nhiều
khó khăn trong việc thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của các bên, do tình trạng phổ biến là ở các
doanh nghiệp hiện nay thiếu tổ chức công đoàn
hoặc công đoàn không đủ mạnh để có thể đưa yêu
sách thương lượng và ký kết
Vì vậy, khi mà Tổng liên đoàn lao động Việt
Nam chưa thể thành lập được tổ chức công đoàn
cơ sở rộng khắp ở các doanh nghiệp, thì pháp luật
cần thừa nhận quyền của tập thể người lao động được tự thành lập tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi
cho mình", trước hết là trong việc thương lượng với
người sử dụng lao động để ký kết thỏa ước lao
động tập thể tại doanh nghiệp Tổ chức này nên
được thừa nhận có vai trò, địa vị pháp lý tương tự như Ban chấp hành Công đoàn cơ sở Quy định
vậy sẽ giải quyết được hàng loạt các vướng mắc đang tồn tại về việc ký kết thoả ước lao động tập
thể, xây dựng nội quy lao động tại doanh nghiệp, giải quyết tranh chấp lao động, tiến hành và giải quyết các cuộc đình công mà hiện nay không
thực hiện được ở những doanh nghiệp chưa có tổ
chức công đoàn cơ sở Ban đại diện tập thể người lao động này sẽ là hạt nhân để công đoàn cấp trên
thông qua đó mà tuyên truyền, vận động thành lập
công đoàn cơ sở Tuy nhiên, cần quy định chặt chế
việc thành lập tổ chức Ban đại diện tập thể người lao động Chỉ cho phép thành lập tổ chức này tại những doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn
và nó sẽ được thay thế khi tổ chức công đoàn cơ
sở được thành lập®!,
Ngoài ra, chúng tôi cũng để nghị nên nghiên
'cứu để có quy định cụ thể hơn về vai trò của
nghiệp đoàn của những người sử dụng lao động và nghiệp đoàn của những người lao động nhằm bảo đảm cho việc thương lượng và ký kết thoả ước lao động tập thể ngành như quy định tại Điều 54 của
Bộ luật Lao động®
Thứ hai, nội dung của thoả ước lao động lập thể không nhất thiết phải bao gồm day đủ các vấn
đề quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Lao
động
Chúng tôi cho rằng, nên để các bên trong quan
hệ lao động tại doanh nghiệp xem xét, quyết định
những vấn đề gì cần thiết phải thương lượng để ký
! Có thể gọi là Ban đại diện tập thể người lao động tại doanh nghiệp (như các dự thảo trước khi ban hành Bộ luật lao động năm
1994 đã dự kiến quy định)
' Xem thêm: Nguyễn Quang Minh, Hoàn thiện pháp luật về đình công Việt Nam, Nghiên cứu Lập pháp số 9/2006
© Chương V của Bộ luật lao động hiện hành chỉ mới quy định về việc ký kết thoả ước lao động tập thể ở quy mô doanh nghiệp, chưa quy định việc kỹ kết thoả ước lao động ngành, mặc dù Điều 54 đã mỏ ra khả năng vận dụng những quy định tại Chương này
để thương lượng và ký kết loại thoả ước này
40 Nghiên cứu lập pháp số 10(85) 2006
Trang 6kết thì làm trước, vấn đề gì chưa cĩ điều kiện thực
hiện tốt hơn theo quy định của pháp luật thì cĩ thể
để lại Như vậy, sẽ tạo cơ hội dễ dàng cho sự đồng
thuận giữa người sử dụng lao động và tập thể
người lao động, nhất là để phía người sử dụng lao
động khơng thể thối thác trách nhiệm và khơng
sợ ký thoả ước lao động tập thể
Thứ ba, đề nghị sĩm sửa đổi, bổ sung những
quy định của Nghị định số 196/CP ngày 31 tháng
12 năm 1994 và Nghị định số 93/2002/NĐ-CP
ngày T1 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy
định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Bộ luật Lao động về thoả ước lao động tập thể để
tránh sự hiểu nhầm cĩ đối tượng bắt buộc và cĩ đối
tượng khơng bắt buộc ký thoả ước, để đi đến thống
nhất một cách hiểu và thực hiện là khơng bắt buộc
mà trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện, chỉ bắt buộc
phải tổ chức thương lượng khi cĩ một bên yêu cầu
Thứ tư, đề nghị quy định cụ thể hơn về việc ký
kết thoả ước lao động ngành, vùng
Đây là những loại hình thoả ước lao động tập
thể rất quan trọng nhưng chưa được quy định cụ
thể, mặc dù Điều 54 Bộ luật Lao động cĩ mở ra
hướng cĩ thể giao kết loại thỏa ước lao động tập
thể này Tuy nhiên, muốn cĩ được thoả ước lao
động tập thể ngành, vùng thì các tổ chức của hai
bên chủ thể cần được xây dựng và củng cố về mọi
mặt, pháp luật cần cĩ những quy định cụ thể, bởi
thoả ước lao động ngành, vùng cĩ những đặc điểm
khác với thoả ước lao động ở cấp doanh nghiệp
Các cuộc đình cơng vừa qua cho thấy, người
lao động ở cùng khu cơng nghiệp, khu chế xuất
hoặc địa phương hay cĩ phản ứng đình cơng theo
dây chuyển Hiện tượng này cĩ thể khắc phục
được nếu chúng ta cĩ quy định về thoả ước lao
động vùng, như trên đã chỉ ra, nếu cĩ được những
thương lượng tập thể ở cấp ngành, vùng thì xu
hướng thu hẹp sự khác nhau trong điều kiện làm
việc và thu nhập của cơng nhân làm cùng một
nghề, cùng khu vực trong các doanh nghiệp Đây
NHA NUGC VA PHAP LUAT cũng là xu hướng chung của các nước cơng nghiệp, đặc biệt trong hồn cảnh chúng ta sẽ gia nhập WTO trong thời gian tới thì càng cần phải đẩy mạnh các loại hình thoả ước này
Thứ năm, nên bổ sung quy định khung thời
gian cho các cuộc thương lượng
Trong Bộ luật Lao động cũng như các nghị định của Chính phủ khơng cĩ quy định về khung thời
gian thương lượng ký kết thoả ước lao động tập thể
ở cấp doanh nghiệp phải đi đến kết thúc” Do
pháp luật khơng cĩ quy định khung thời gian cho
việc thương lượng, nên trong một số trường hợp,
khi các nội dung đề xuất để hai bên thương lượng khơng đi đến sự thống nhất, thì việc thương lượng
cĩ thể tiếp diễn đến hàng năm mà vẫn khĩ cĩ thể
ký được thoả ước, nhất là khi một trong hai bên khơng muốn ký kết một thoả ước lao động tập thể
Ví dụ, việc ký kết thoả ước lao động tập thể tại
Cơng ty Vật liệu xây dựng Sun Way ở tỉnh Hà Tây
đã kéo dài từ cuối năm 2004 đến đầu năm 2006
mà hai bên vẫn chưa thống nhất được các nội dung của thoả ước, mặc dù phía cơng đồn vẫn tiếp tục đề nghị và thương lượng để đi đến ký kết một thộ ước lao động tập thể
Trong thực tế, việc thương lượng, đàm phán
diễn ra theo cách: bên cĩ sáng kiến đề xuất gửi
cho bên kia những nội dung cần thương lượng
bằng văn bản, bên nhận được sáng kiến sẽ nghiên cứu xem xét rồi trả lời bằng văn bản Nội dung trao đổi bao gồm: (i) đưa thêm những nội dung yêu cầu
của phía mình; (ii) trả lời mức độ đáp ứng hoặc khơng đáp ứng những để nghị của bên sáng kiến
Qua một số lần trao đổi bằng văn bản, nếu hai bên
cĩ thể chấp nhận được sẽ chính thức ngồi lại cùng nhau để thống nhất các nội dung cụ thế của thoả
ước để đi đến ký kết Để tránh trường hợp kéo dài
thời gian, trì hỗn nhằm khơng ký kết thoả ước của một bên, pháp luật nên định rõ khung thời gian cho
việc thương lượng và khung thời gian cho mỗi lần
trao đổi giữa các bên M
© Tai khodn 1 Diéu 46 Bộ luật Lao động chỉ quy định khoảng thời gian bắt đầu thương lượng đối với bên nhận được yêu cầu “ Khi nhận được yêu cầu phi thoả thuận thời gian bắt đầu thương lượng chậm nhất là 20 ngày, kể từ ngày nhận được yêu câu”,