NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN CÁC CHỦ ĐỀ ĐƯƠNG ĐẠI VỀ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Đề tài CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ PHI TRUYỀN[.]
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN CÁC CHỦ ĐỀ ĐƯƠNG ĐẠI VỀ TÀI CHÍNH NGÂN
HÀNG
Đề tài:
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ PHI TRUYỀN THỐNG
HVTH: PHẠM XUÂN ĐÔNG MSHV: 010124200003
Lớp: Lớp cao học 23 B
GVHD: TS BÙI DIỆU ANH
TP.HCM, ngày 30 tháng 07 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Cơ Sở Lí Luận 4
1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ phi truyền thống 4
1.2 Công cụ chính sách tiền tệ phi truyền thống 4
2 Thực Trạng Vận Dụng Chính Sách Tiền Tệ Phi Truyền Thống Tại Việt Nam 6
2.1 Định hướng chính sách 6
2.2 Cung cấp thanh khoản 8
2.3 Mua tài sản quy mô lớn 8
2.4 Nới lỏng tính dụng 9
2.5 Đánh giá hiệu quả trong việc sử dụng CSTT phi truyền thống ở Việt Nam 11 3 Khuyến Nghị Về Sử Dụng Chính Sách Tiền Tệ Phi Truyền Thống Trong Điều Kiện Việt Nam 13
KẾT LUẬN 15
Tài liệu tham khảo 16
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ đã góp phần quan trọng
trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng và sự ổn định của nền kinh tế
Ngày nay, hầu hết các nhà kinh tế đều thừa nhận rằng chính sách tiền tệ (CSTT) cùng với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khóa là một trong những công cụ quan trọng giúp các nhà hoạch định đạt được các mục tiêu kinh tế mà mỗi quốc gia đặt ra Trong các điều kiện kinh tế thông thường, Ngân hàng Trung ương (NHTW) sử dụng các công cụ truyền thống (như nghiệp
vụ thị trường mở, quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu, ) để điều chỉnh lượng cung tiền hoặc lãi suất, qua đó đạt các mục tiêu cuối cùng như
ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế,
Tuy nhiên, trong một số điều kiện nhất định, việc thực hiện CSTT truyền thống không còn hiệu quả nữa do các kênh truyền dẫn của nó bị gián đoạn nghiêm trọng Ví dụ, khi nền kinh tế xảy ra khủng hoảng, để tránh rủi ro, các ngân hàng và định chế tài chính sẽ siết chặt điều kiện cho vay nên dù NHTW
có gia tăng lượng thanh khoản dành cho hệ thống ngân hàng, nhưng kênh truyền dẫn thông qua tín dụng của CSTT sẽ bị ảnh hưởng Tâm lý bất ổn và sự mất niềm tin sau khủng hoảng cũng là một nhân tố gây cản trở đến các kênh truyền dẫn truyền thống khác Các hộ gia đình và các hãng, với tâm lý phòng ngừa rủi
ro cao hơn sẽ giảm đầu tư hoặc tránh đầu tư vào các tài sản rủi ro cao nên cầu
về tín dụng giảm Điều này khiến cho các động thái làm giảm lãi suất nhằm kích thích kinh tế (kênh lãi suất) của NHTW tỏ ra thiếu hiệu quả ngay cả khi lãi suất đã giảm về gần mức 0% (Zero Lower Bound - ZLB) Một khi đã mất
đi vũ khí quan trọng là lãi suất, NHTW sẽ buộc phải sử dụng đến các biện pháp tiền tệ đặc biệt nhằm trực tiếp cung cấp vốn cho thị trường (như chính sách nới lỏng định lượng, nới lỏng định tính, nới lỏng tín dụng) và tìm cách làm giảm lãi suất chung trong dài hạn để hỗ trợ đi vay (thậm chí áp dụng cả chính sách lãi suất âm), đồng thời củng cố, khôi phục niềm tin các chủ thể kinh tế thông qua các công cụ truyền thông và định hướng (tức định hướng thị trường) Các biện pháp đó gọi chung là CSTT phi truyền thống (Nguyễn & Trần, 2018).Trên thế giới, NHTW Nhật Bản (BOJ) là cơ quan tiên phong áp dụng CSTT phi truyền thống với việc sử dụng các gói nới lỏng định lượng vào năm 2001 khi
Trang 4kênh truyền dẫn lãi suất tỏ ra vô hiệu và nền kinh tế đối mặt với giảm phát kéo dài do tác động của bong bóng tài sản đổ vỡ vào đầu những năm 1990 Sau đó, năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, làm rối loạn thị trường tài chính toàn cầu và gây gián đoạn các kênh truyền dẫn của các CSTT truyền thống, buộc một số NHTW trên thế giới như: Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), NHTW Châu Âu (ECB), NHTW Anh (BOE) áp dụng CSTT phi truyền thống thông qua công cụ nới lỏng định lượng, định hướng thị trường hay thậm chí là lãi suất âm
Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chưa sử dụng công cụ nới lỏng định lượng và nới lỏng định tính (QE) bởi nhiều lý do Thứ nhất, QE chỉ nên thực hiện khi lãi suất điều hành ngắn hạn đã gần mức 0% và không thể giảm xuống dưới mức này Trong khi đó, các mức lãi suất điều hành của NHNN Việt Nam vẫn ở mức khá cao Thứ hai, QE được các nước trên sử dụng với mục tiêu chống giảm phát, song tại Việt Nam, lạm phát luôn thường trực Nếu tăng cung tiền lớn, lạm phát sẽ tăng cao gây ra nhiều bất ổn cho nền kinh tế do VND chưa phải là đồng tiền mạnh, chưa được chấp nhận chuyển đổi rộng rãi trên thế giới Thứ ba, thực hiện QE sẽ khiến cho VND giảm giá mạnh so với các ngoại
tệ khác, trong khi Chính phủ Việt Nam chủ trương theo đuổi chính sách tỷ giá
ổn định Hơn nữa, nếu VND giảm giá mạnh sẽ gây áp lực lên nợ công và chi tiêu ngân sách, bởi vì khi VND mất giá 1% so với USD, nợ công sẽ tăng thêm 10.000 tỷ đồng (Doanh nhân Sài Gòn, 2015) Thứ tư, thị trường chứng khoán của Việt Nam chưa phát triển đến mức NHNN có thể mua bán các tài sản tài chính để tác động đến các khu vực và thị trường
Để hỗ trợ tăng trưởng và ổn định các thị trường do tác động của khủng hoảng năm 2008, NHNN Việt Nam đã thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng
và định hướng thị trường Đặc điểm của chính sách nới lỏng tín dụng là giảm lãi suất tín dụng cho một số đối tượng vay vốn, đặc biệt nhằm thực hiện các chương trình gắn kết tín dụng ngân hàng với chính sách ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho vay cho các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ Đối với công cụ định hướng thị trường, NHNN
đã đưa ra các thông điệp mang tính “định hướng mục tiêu” để truyền tải các quan điểm về điều hành CSTT nhằm ổn định các thị trường trong những giai
Trang 5đoạn thị trường có diễn biến phức tạp sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2008
Vì vậy, bài luận em sẽ chỉ tập trung phân tích thực trạng áp dụng chính sách nới lỏng tín dụng hỗ trợ nông nghiệp và nông thôn (NN & NT), chính sách nới lỏng tín dụng hỗ trợ thị trường bất động sản (BĐS) và chính sách nới lỏng tín dụng hỗ trợ ngư dân trong giai đoạn 2008 - 2019 Bởi vì, việc thực thi chính sách với khu vực và thị trường này sẽ tác động tích cực đến đời sống của đại
bộ phận dân cư của Việt Nam, nhất là những người có thu nhập thấp
Trang 61 Cơ Sở Lí Luận
1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ phi truyền thống
Theo Smaghi (2009), CSTT phi truyền thống là các chính sách trực tiếp nhắm tới chi phí và sự sẵn có của nguồn vốn bên ngoài đối với ngân hàng, hộ gia đình và doanh nghiệp Nguồn vốn này tồn tại dưới các dạng thức khác nhau: thanh khoản từ NHTW, các khoản vay, trái phiếu và cổ phiếu
Theo Cecioni và cộng sự (2011), công cụ chính sách tiền tệ (CSTT) phi truyền thống là tất cả các biện pháp được thực hiện trong cuộc khủng hoảng tài chính nhằm giải thích tình trạng thiếu hụt thanh khoản của các tổ chức tín dụng (TCTD) và các đối tượng khác trên thị trường tài chính (TTTC); việc mua trực tiếp các chứng khoán tư nhân và Chính phủ; việc áp dụng truyền thông nhằm khôi phục chức năng thông thường của thị trường và ảnh hưởng đến kỳ vọng lãi suất chính thức trong tương lai
Như vậy, CSTT phi truyền thống chính là các chính sách nhằm tác động trực tiếp tới chi phí và tính sẵn có của các nguồn vốn từ bên ngoài chảy vào các ngân hàng (NH), hộ gia đình và các công ty phi tài chính Nguồn tài chính này
có thể nằm dưới dạng: NHTW cung cấp tính thanh khoản, các khoản vay tư nhân, các loại chứng khoán nợ hoặc chứng khoán vốn Chi phí của các nguồn tài chính từ bên ngoài này thường cao hơn so với LS liên NH ngắn hạn được điều chỉnh bởi CSTT Do đó, các biện pháp phi truyền thống có thể được xem như nỗ lực làm giảm chênh lệch LS giữa các nguồn vốn từ bên ngoài, qua đó ảnh hưởng tới giá tài sản và luồng tiền trong nền kinh tế Bên cạnh đó, vì những biện pháp này nhằm mục tiêu tác động tới các điều kiện tài chính nên kết cấu của chúng cũng chịu ảnh hưởng của các điều kiện tài chính
1.2 Công cụ chính sách tiền tệ phi truyền thống
Công cụ CSTT phi truyền thống gồm các biện pháp được thực thi trên phạm vi một hay nhiều quốc gia nhằm khôi phục chức năng của thị trường tài chính và hỗ trợ hoạt động kinh tế khi lãi suất không thể hạ thấp hơn nữa (giới hạn lãi suất bằng 0%) (IMF, 2013) Các công cụ chính sách tiền tệ phi truyền thống có thể được phân loại thành:
Trang 7 Định hướng chính sách
Định hướng chính sách là việc NHTW cung cấp thông tin, kỳ vọng, quan điểm của họ về cách thức điều hành CSTT trong tương lai Dựa trên thông tin này, chủ thể kinh tế sẽ đưa ra quyết định đầu tư - tiêu dùng phù hợp với định hướng của NHTW Mục tiêu nhằm tác động vào kỳ vọng của chủ thể kinh tế
về lãi suất ngắn hạn, trung, dài hạn
Cung cấp thanh khoản
Công cụ cung cấp thanh khoản là hoạt động của NHTW nhằm bổ sung vốn ngắn hạn cho các tổ chức tài chính, bao gồm biện pháp cấp tín dụng mới
và nới lỏng điều kiện để các tổ chức giao dịch chứng khoán sơ cấp và NHTM
có đủ điều kiện để vay tại cửa sổ chiết khấu của NHTW Nghiệp vụ cung cấp thanh khoản bao gồm: (i) Hoán đổi tài sản kém lỏng; (ii) Cung cấp thanh khoản cho tổ chức tài chính mục tiêu; (iii) Cung cấp thanh khoản trực tiếp cho thành viên tham gia thị trường, mở rộng đối tượng tham gia các nghiệp vụ của NHTW; (iv) Hoán đổi tiền tệ; (v) Loại bỏ hoặc nới lỏng hạn mức thanh khoản; (vi) Nới lỏng điều kiện về tài sản bảo đảm
Mua tài sản quy mô lớn
Mua tài sản quy mô lớn (LSAP) là việc NHTW mua chứng khoán nhằm làm giảm lãi suất dài hạn, từ đó hỗ trợ thị trường tín dụng và thúc đẩy kinh tế phục hồi Do NHTW không trực tiếp mua chứng khoán từ nhà phát hành, nghiệp vụ này sẽ diễn ra trên thị trường thứ cấp theo quy luật cạnh tranh của thị trường Các thuật ngữ liên quan tới LSAP:
- Nới lỏng định lượng (QE):
Được NHTW sử dụng để kích thích nền kinh tế bằng cách mua một khối lượng tài sản tài chính phi rủi ro nhất định từ các NHTM và các tổ chức tư nhân khác, từ đó, nâng giá các tài sản tài chính này và làm giảm LS của chúng đồng thời kích thích tăng lượng tiền cơ sở Thông thường, NHTW thực hiện CSTT
mở rộng bằng cách mua TPCP ngắn hạn nhằm hạ LS ngắn hạn trên thị trường Tuy nhiên, khi LS ngắn hạn đã giảm đến mức 0%, biện pháp này mất hiệu lực Khi đó, NHTW có thể sử dụng nới lỏng định lượng nhằm tăng cường kích thích nền kinh tế bằng cách mua các tài sản có thời gian đáo hạn dài hơn TPCP ngắn hạn nhằm làm giảm LS dài hạn trên đường cong LS
Trang 8- Nới lỏng tín dụng (CE):
Nới lỏng TD trực tiếp Là việc NHTW mua các tài sản của khu vực tư
nhân để cung cấp thêm khả năng thanh khoản cho thị trường đang gặp khó khăn, nhờ đó khơi thông nguồn vốn TD và cho vay đối với nền kinh tế
Nới lỏng định lượng/TD gián tiếp Các biện pháp được đề cập trên đây,
NHTW đều được dự báo sẽ trực tiếp mua/bán các tài sản, thông qua đó bơm tiền ra nền kinh tế Điều đó có nghĩa là NHTW trực tiếp nắm giữ các tài sản cho đến khi đáo hạn hoặc bán lại các tài sản đó, do đó, rủi ro của các tài sản này sẽ nằm trên bảng cân đối của NHTW Một cách khác để mở rộng bảng cân đối NHTW là nới lỏng điều kiện tài chính hoặc cho các NHTM vay với thời gian đáo hạn lâu hơn, với tài sản thế chấp là các tài sản mà thị trường của chúng đang tạm thời bị suy giảm
Lãi suất âm
Công cụ lãi suất âm tiến hành hạ lãi suất tiền gửi dự trữ vượt mức xuống dưới mức 0%, kéo theo mức giảm các lãi suất chính sách khác cho tới khi lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn (lãi suất qua đêm) giảm xuống mức âm như kỳ vọng của NHTW
2 Thực Trạng Vận Dụng Chính Sách Tiền Tệ Phi Truyền Thống Tại Việt Nam
Những năm qua, bên cạnh sử dụng các công cụ CSTT truyền thống nhằm can thiệp trên thị trường tiền tệ, NHTW đã sử dụng các công cụ CSTT phi truyền thống như được trình bày ở phần 1, bao gồm:
2.1 Định hướng chính sách
NHNN đã đưa ra các thông điệp mang tính “định hướng mục tiêu” nhằm chuyển tải các quan điểm về điều hành CSTT của NHNN trong từng giai đoạn, đặc biệt đối với những giai đoạn thị trường tài chính trong nước có diễn biến phức tạp gắn với các cuộc “chạy đua” nâng LS, những diễn biến phức tạp trên thị trường vàng hay ngoại tệ Các thông điệp “cứng rắn” của NHNN đã giúp tạo lập sự ổn định hoạt động của các phân khúc thị trường trên Chẳng hạn:
Trang 9 Với các cuộc chạy đua nâng LS huy động tiền gửi tiết kiệm:
NHNN đã ban hành Chỉ thị 02/CT-NHNN (7/9/2011) về việc chấn chỉnh việc thực hiện quy định về mức LS huy động và tuyên bố sẽ “xử lý” người đứng đầu NHTM nếu huy động vốn vượt trần 14%/năm
Đối với thị trường ngoại hối
Những năm trước 2011 thị trường ngoại hối diễn biến rất phức tạp và để chấn chỉnh, NHTW đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật: Thông
tư 13/2011/TT-NHNN (31/5/2011) quy định việc mua, bán ngoại tệ của tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước; Thông tư 15/2011/TT-NHNN quy định việc mang ngoại tệ, VND bằng tiền mặt của cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh; Quyết định 1972/QĐ-NHNN (31/8/2011) áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD áp dụng cho tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCTD ở nước ngoài (1%); Thông tư 02/2012/TT-NHNN (27/2/2012) hướng dẫn giao dịch hối đoái giữa NHTW và các TCTD, chi nhánh NH nước ngoài; Quyết định 857/QĐ-NHNN (2/5/2012) về việc cho vay ngắn hạn bằng ngoại tệ của TCTD, chi nhánh NH nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú đến hết ngày 31/12/2012 Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ thông qua các Quyết định 750/QĐ-NHNN 09/04/2011, Quyết định 1209/QĐ-NHNN (1/6/2011) và Quyết định 1925/QĐ-NHNN (26/8/2011)
Hình 1: Biểu đồ dự trữ ngoại hối Việt Nam qua các năm
Nguồn: MBS
Ngày 31/12/2015, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Quyết định số 2730/QĐ-NHNN về việc công bố tỷ giá trung tâm của VND và
Trang 10USD, tỷ giá tính chéo của VND và các ngoại tệ khác Tỷ giá trung tâm được coi là tỷ giá chính thức vào giờ chốt giao dịch cuối ngày trước đó cộng với một biên độ nhất định do NHTW quyết định dựa trên các yếu tố diễn biến thị trường,
và được lấy làm tỷ giá giao dịch của ngày hôm sau Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quyết định áp dụng cách thức điều hành tỷ giá linh hoạt thông qua tỷ giá trung tâm xuất phát từ nguyên do năm 2015 thị trường tiền tệ
có nhiều diễn biến khó lường
Đối với thị trường vàng
Từ năm 2011, Chính phủ và NHTW đã có những bước đi mạnh mẽ nhằm
ổn định thị trường vàng, khởi đầu là Thông tư 11/2011/TT-NHNN 29/4/2011
về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD Chính phủ đã ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng Sau đó, NHNN ban hành Thông tư 12/2012/TT-NHNN ngày 27/4/2012 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 11/2011/TT-NHNN ngày 29/4/2011 về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD Thông tư 24/2012/TT-NHNN tiếp tục được NHTW ban hành về việc sửa đổi, bổ sung Điều 1 Thông tư 11/2011/TT-NHNN ngày 29/4/2011 về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD NHNN cũng đã ban hành Quyết định 1623/QĐ-NHNN ngày 23 tháng 8 năm 2012 về việc tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng Nhìn chung, các biện pháp này đã góp phần làm
ổn định giá vàng…
2.2 Cung cấp thanh khoản
Quy định trần lãi suất cho vay, thực hiện tái cấp vốn, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các TCTD cho vay các lĩnh vực ưu tiên của Nhà nước khá tương đồng với công cụ khuyến khích cho vay Mục tiêu của các công cụ đều
là hỗ trợ TCTD nguồn vốn ổn định, có chi phí thấp để khuyến khích các TCTD cho vay đối với nền kinh tế, đặc biệt là vào các lĩnh vực có mức độ lan tỏa trong nền kinh tế hoặc đang gặp khó khăn
2.3 Mua tài sản quy mô lớn
Việc NHNN sử dụng công cụ tái cấp vốn cho các TCTD bằng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành để hỗ trợ xử lý nợ xấu có nét tương đồng với công cụ mua tài sản quy mô lớn Trong khi NHTW các quốc gia trên thế giới