Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1 1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Thu nhập là một trong những nhân tố cần thiết để đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân, thu nhập là cơ sở của sự chi tiêu, không có thu[.]
Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Thu nhập là yếu tố thiết yếu để đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân, vì nó là nền tảng cho mọi khoản chi tiêu Khi không có thu nhập, sẽ không thể đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Trong bối cảnh nhu cầu cuộc sống ngày càng tăng, chi tiêu cho các hoạt động và dịch vụ phục vụ đời sống cũng tăng theo, trong khi thu nhập của mỗi người và hộ gia đình vẫn có hạn Do đó, để đáp ứng xu hướng này, việc tăng thu nhập cần được duy trì liên tục nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo các nhu cầu thiết yếu được đáp ứng.
Thu nhập được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, chịu sự tác động của nhiều yếu tố, nó tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế-xã hội của từng vùng Đối với một xã miền núi như Tân Thành (huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình), qua quá trình tìm hiểu chúng tôi được biết người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề rừng và những hoạt động sản xuất nông nghiệp manh mún Đại bộ phận họ là những gia đình thuần nông, trình độ văn hoá còn thấp, canh tác thô sơ, lạc hậu, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vốn có, chưa có sự tác động của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vì vậy thu nhập còn thấp, đời sống còn nghèo nàn.
Phát triển và nâng cao đời sống của người dân luôn là mục tiêu hàng đầu của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Tuy nhiên, các chính sách hiện tại vẫn chưa mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao thu nhập của người dân, đặt ra câu hỏi liệu các chính sách có phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương hay không Nguyên nhân dẫn đến mức sống thấp vẫn còn nhiều, trong đó các yếu tố như thiếu cơ hội việc làm, trình độ lao động chưa đáp ứng yêu cầu, và các chính sách hỗ trợ chưa đủ mạnh đều ảnh hưởng lớn đến thu nhập của người dân.
Với mong muốn giúp người dân tại xã Tân Thành có được những bước đi đúng đắn nhằm nâng cao thu nhập, bằng những kiến thức đã học và được sự hướng dẫn nhiệt tình của ThS.Lê Đình Hải, chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình sống ven rừng tại xã miền núi Tân Thành, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình”.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu tập trung vào việc xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của người dân xã Tân Thành, huyện Kim Bô i, tỉnh Hòa Bình Kết quả sẽ giúp đưa ra các giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân địa phương Thông qua phân tích các nhân tố ảnh hưởng, nghiên cứu hướng tới thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững tại xã Tân Thành Các dữ liệu từ nghiên cứu góp phần hỗ trợ chính quyền và cộng đồng xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế phù hợp Nâng cao thu nhập của người dân là mục tiêu dài hạn hướng tới phát triển kinh tế địa phương ổn định và bền vững.
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lí luận về thu nhập của hộ gia đình
- Đánh giá thực trạng thu nhập và cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình tại xã Tân Thành, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình.
- Xác định các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình tại xã Tân Thành.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình tại xã Tân Thành.
Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lí luận về kinh tế hộ gia đình và thu nhập,
- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của xã Tân Thành, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình.
- Thực trạng thu nhập và cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình tại xã Tân Thành.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập và cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình tại xã Tân Thành.
- Các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình tại xã TânThành.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thu thập bao gồm số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp, trong đó số liệu sơ cấp là chủ yếu.
- Số liệu sơ cấp: Sử dụng một số công cụ của phương pháp khảo sát thực tiễn.
Trong quá trình khảo sát, cán bộ xã, thôn sẽ thực hiện phỏng vấn ngay khi đến địa phương để nắm bắt tình hình kinh tế – xã hội của các thôn nhằm thu thập dữ liệu chính xác, bao gồm các thông tin về dân số, mức sống, trình độ dân trí và đặc điểm dân tộc Hoạt động này giúp đánh giá tổng thể về đời sống cộng đồng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển địa phương Thông qua việc tìm hiểu các yếu tố như dân số, mức sống và dân tộc, cuộc khảo sát cung cấp cái nhìn toàn diện nhằm hỗ trợ ra quyết định và xây dựng các chính sách phù hợp.
+ Điều tra kinh tế Hộ gia đình: chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 4 thôn của xã Tân Thành là thôn Phương Viên, Chợ Nội, Tiên Hội, Đồng An với tổng dung lượng mẫu điều tra là 100 hộ (25 hộ/thôn), các hộ được chọn ngẫu nhiên Nội dung điều tra được ghi trong phiếu điều tra Công cụ này nhằm tìm hiểu kinh tế chung của các hộ gia đình, phương thức canh tác trên diện tích đất của các hộ gia đình.
Biểu 01 Bảng phân bố mẫu điều tra
Trong đó: Nhóm 1 là nhóm hộ nghèo, Nhóm 2 là nhóm hộ trung bình,Nhóm 3 là nhóm hộ khá, giàu.
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản, báo cáo tại UBND xã Tân Thành cũng như từ các trưởng thôn của những thôn được chọn phỏng vấn, đảm bảo nguồn dữ liệu đáng tin cậy cho nghiên cứu.
Phương pháp tổng hợp và xử lí số liệu
+ Phương pháp thống kê, phân tích kinh tế : Sử dụng phương pháp này để mô tả các chỉ tiêu đặc trưng của dãy số liệu thu thập được.
Phương pháp phân tích kinh tế hộ gia đình giúp đánh giá toàn diện về hoạt động nông nghiệp của hộ, tập trung vào các khía cạnh chính như cơ cấu đất sử dụng đất, cơ cấu chi phí và cơ cấu thu nhập Quá trình này cung cấp các thông tin quan trọng để xác định hiệu quả sản xuất và đề xuất các giải pháp kinh tế phù hợp Phân tích cơ cấu đất sử dụng đất giúp hiểu rõ cách hộ gia đình phân bổ quỹ đất cho các mục đích khác nhau, từ đó tối ưu hóa lợi ích kinh tế Việc xem xét cơ cấu chi phí cho thấy cách hộ gia đình quản lý các khoản chi tiêu, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu lãng phí Đồng thời, phân tích cơ cấu thu nhập giúp xác định nguồn thu chính của hộ và đánh giá khả năng duy trì hay mở rộng hoạt động kinh tế Phương pháp này là công cụ quan trọng trong nghiên cứu và hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp bền vững.
+ Phương pháp thống kê so sánh: Phương pháp này được sử dụng để so sánh thu nhập giữa các thôn, giữa các nhóm hộ với nhau.
+ Sử dụng hàm hồi quy tuyến tính trong phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến mức thu nhập của các hộ gia đình.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân chúng tôi giả định bao gồm hai nhóm yếu tố sau đây:
- Nhóm yếu tố định lượng bao gồm: số nhân khẩu, số lao động, diện tích đất, chi phí, tuổi của chủ hộ
- Nhóm nhân tố định tính bao gồm: dân tộc, giới tính chủ hộ, nghề nghiệp, trình độ học vấn.
Biểu 02: Bảng tóm tắt các biến số
TT Tên biến Kí hiệu Xu hướng Ghi chú
1 Thu nhập hộ gia đình Y
7 Giới tính chủ hộ D1 + D1=0: Nữ; D1=1: Nam
8 Dân tộc D2 + D2=1: Dao; D2=2: Mường; D2=3: Kinh
9 Trình độ học vấn D3 + D3=1: mù chữ; D3=2: cấp1; D3=3: cấp 2;
10 Nghề nghiệp chính chủ hộ D4 - D4=1: có lương; D4=2:nghề khác; D4=3: lao động nông nghiệp
Hàm hồi quy tuyến tính có dạng
Trong đó: a0 là hệ số tự do của hàm tuyến tính; ai ,bj (i=1,5; j=1,4) thể hiện độ co giãn của Y đối với các Xi, Dj tương ứng.
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Khái niệm và bức tranh kinh tế hộ gia đình ở Việt nam
1.1.1 Khái niệm kinh tế hộ gia đình
Gia đình là một cộng đồng gồm những người chung sống với nhau, có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân Đây là tế bào của xã hội, đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của cộng đồng Gia đình góp phần xây dựng các giá trị văn hóa và bề dày truyền thống, đồng thời là nơi nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ tương lai.
Gia đình chỉ có bố mẹ và con cái được gọi là gia đình hạt nhân, chính từ gia đình này đã hình thành nhiều mối quan hệ đan xen, hoà quyện với nhau tạo nên các cộng đồng xã hội khác nhau Gia đình với tư các là tế bào của xã hội đã tồn tại lâu đời trong lịch sử, nó là cốt lõi của các thiết chế xã hội phức tạp hơn như quan hệ dòng họ, làng xã, dân tộc…
Theo Ăng-ghen thì gia đình có hai chức năng cơ bản là sản xuất ra của cải vật chất và tái sản xuất sức lao động cho xã hội để duy trì nòi giống và tiếp tục phát triển Vậy hộ gia đình là đơn vị nhỏ nhất để sản xuất ra của cải vật chất. Bên cạnh đó hộ gia đình còn là một cơ sở giáo dục, một đơn vị tổ chức đời sống cho các thế hệ, đồng thời còn là một đơn vị ứng dụng, tiếp thu các công nghệ và kỹ thuật mới của xã hội vào sản xuất.
Hộ gia đình là một khái niệm để chỉ một kiểu nhóm xã hội gồm tập hợp những người sống chung với nhau trên cơ sở lấy quan hệ gia đình làm nền tảng.
Xét trên những góc độ nhìn nhận khác nhau người ta sẽ đưa ra các khái niệm khác nhau về hộ gia đình Cho đến nay đã có rất nhiều khái niệm về hộ, mỗi khái niệm đề cập đến một phương diện nhất định:
Liên hợp quốc định nghĩa hộ là nhóm người cùng sống chung dưới mái nhà, chia sẻ bữa ăn và có chung ngân quỹ, phản ánh mức độ gắn kết và tổ chức của các gia đình trong xã hội Việc hiểu rõ về khái niệm hộ giúp các nhà thống kê đánh giá chính xác các mô hình sống và sinh hoạt gia đình trong cộng đồng Theo thống kê của Liên hợp quốc, các hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cấu trúc xã hội, hỗ trợ lẫn nhau và đảm bảo an sinh cho các thành viên Trong bối cảnh phát triển kinh tế và xã hội, phân tích các hộ giúp đưa ra các chính sách phù hợp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy bình đẳng xã hội.
Theo Martin (1988) thì “hộ là đơn vị cơ bản có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”.
Theo Raul (1989): “Hộ là tập hợp những người có cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân và cộng đồng”.
Theo từ điển Weberter (1990): “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung ngân quỹ”.
Tuy nhiên chúng ta cũng cần phân biệt giữa khái niệm hộ và khái niệm gia đình:
- Hộ cũng được coi là một đơn vị tế bào của xã hội, nhưng hộ và gia đình không hoàn toàn giống nhau Giữa hai khái niệm này có những điểm chung, điểm khác biệt Gia đình được đặc trưng bởi quan hệ huyết thống và địa điểm sinh sống tức là những người trong gia đình bắt buộc phải có quan hệ huyết thống với nhau và ở chung dưới một mái nhà (chung sống đây không đơn thuần là ở chung mà rộng hơn nó chỉ trách nhiệm và nghĩa vụ trong hoàn cảnh đình mình) Khái niệm hộ được đặc trưng bởi địa điểm cư ngụ và quan hệ về kinh tế.
Hộ gia đình và gia đình chỉ có thể có điểm giống nhau khi các thành viên sống chung dưới một mái nhà Một số gia đình cho phép các thành viên trưởng thành rời xa để lập nghiệp, nhưng vẫn được xem là thành viên của gia đình đó Điều này làm nổi bật sự khác biệt và mối liên hệ đặc thù giữa hộ gia đình và gia đình truyền thống.
Kinh tế hộ gia đình đề cập đến các hoạt động kinh tế do một hộ gia đình thực hiện, dựa trên các cơ sở như mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, cùng sinh sống và chia sẻ tài chính Đây là khái niệm quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, phản ánh cách thức các thành viên trong gia đình phối hợp để quản lý nguồn lực và đảm bảo cuộc sống chung Các hoạt động kinh tế hộ gia đình đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững và ổn định xã hội.
Kinh tế hộ gia đình phản ánh bản chất của nền kinh tế tiểu nông, thể hiện hình thức sản xuất nhỏ của nông dân Đây là mô hình kinh tế đặc trưng bởi hoạt động tự cung, tự cấp trong phạm vi quy mô hộ gia đình Kinh tế hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong hệ thống nông nghiệp, giúp duy trì cuộc sống và phát triển cộng đồng nông thôn bền vững.
1.1.2 Các quan điểm, chủ trương và chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình
* Các quan điểm phát triển kinh tế hộ gia đình:
Quyết định số 184 của Hội đồng Bộ trưởng ngày 06/11/1982 về việc giao đất, giao rừng cho các tập thể, hợp tác xã, hộ gia đình trong lâm trường nhằm thực hiện khẩu hiệu “gắn dân với rừng”, ngăn chặn phá rừng bừa bãi, nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi núi trọc và thúc đẩy phát triển kinh tế miền núi Trong nội dung quyết định, đối tượng giao đất bao gồm các tập thể, hợp tác xã, hộ gia đình trong lâm trường và các hộ gia đình nông dân, mở ra cơ hội phát triển cho hộ gia đình thông qua hình thức giao khoán đất.
Ngày 05/04/1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đã khẳng định vai trò của kinh tế hộ gia đình như một đơn vị kinh tế tự chủ, có tư cách pháp nhân đầy đủ Nghị quyết này cũng đề cập đến quyền của nhà nước trong việc giao cho hộ gia đình quyền sử dụng các tư liệu sản xuất, bao gồm cả đất đai, nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi và phát triển nền kinh tế quốc gia.
- Nghị quyết 22 ngày 26/11/1989 của Bộ chính trị: “trong chặng đường đầu tiên cũng như trong một thời gian dài của thời kỳ quá độ, kinh tế hộ gia đình là hình thức thích hợp để phát triển hàng hoá ở miền núi, do vậy cần được khuyến khích, giúp đỡ”.
- Quyết định 327 của HĐBT ngày 15/9/1992 về một số chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước, trong đó có đoạn: “lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất, lấy đơn vị quốc doanh làm đơn vị kinh tế”.
Thu nhập và cơ cấu thu nhập
1.2.1 Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập
Thu nhập là một lượng tiền, hàng hoá, dịch vụ mà cá nhân, hộ gia đình hay một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (tháng, quý, năm Đồng thời thu nhập cũng là thước đo giá trị sức lao động, năng suất lao động, trình độ khoa học kỹ thuật vào sản xuất phục vụ đời sống của người dân. Người ta nói rằng chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình chịu ảnh hưởng từ thu nhập.
Thu nhập là phần doanh thu còn lại sau khi trừ đi các khoản chi phí phát sinh để tạo ra doanh thu đó Chính bởi vậy, thu nhập còn được gọi là lợi nhuận gộp, là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp Việc phân tích thu nhập giúp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và đưa ra các chiến lược phát triển phù hợp Thu nhập gộp thể hiện rõ lợi nhuận trước chi phí cố định và các khoản phí khác, đóng vai trò là nền tảng để tính lợi nhuận ròng cuối cùng của doanh nghiệp.
Thu nhập của cá nhân là thước đo về thu nhập mà dân cư có được từ tất cả các nguồn trong tài khoản thu nhập quốc dân.
Lượng thu nhập đó sau khi trừ đi các khoản thuế, khoản ngoài thuế phải nộp cho chính phủ gọi là thu nhập khả dụng, các hộ gia đình sử dụng thu nhập khả dụng vào hai mục đích:
- Chi tiêu cho nhu cầu hiện tại (tiêu dùng: C - Consumption)
- Tích luỹ cho tương lai (tiết kiệm: S - Saving)
Ta có hàm thu nhập khả dụng của hộ gia đình: Yd=C+S
Chi tiêu hàng ngày của hộ gia đình đang ngày càng tăng cao, đòi hỏi thu nhập khả dụng phải luôn lớn hơn chi tiêu để tích lũy cho tương lai Để nâng cao đời sống người dân, việc tăng thu nhập là yếu tố thiết yếu Với đặc điểm sản xuất của hộ gia đình như đã đề cập, việc cải thiện thu nhập sẽ giúp ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống của các thành viên trong gia đình.
- Thu nhập của hộ gia đình thường theo mùa và không ổn định giữa các tháng trong năm.
- Thu nhập ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: điều kiện thiên nhiên, diện tích đất canh tác, lao động, nhân khẩu, trình độ học vấn, hệ thống công cụ sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, dân tộc, nguồn vốn đầu tư, cự li đến nơi tiêu thụ…
1.2.2 Cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình hiện nay
Trong những năm gần đây cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Năm 2004 trong tổng GDP của cả nước, tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản đã giảm từ 24,53% xuống 21,76%; lao động nông nghiệp giảm từ 59,04% xuống 57,9%, lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 17%, dịch vụ chiếm 25,1% Năm 2003, hộ thuần nông đã giảm còn 68,8%, hộ kiêm nghề tăng lên 12,7% và phi nông nghiệp 18,4% Nguồn thu của hộ nông dân từ nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 77,5%; công nghiệp, xây dựng và dịch vụ nông thôn đã dần tăng lên, chiếm 22,5% tổng thu Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2007 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 8,48% so với năm 2006, đạt kế hoạch đề ra (8,2-8,5%), gồm có khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,41% (kế hoạch 3,5-3,8%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,6% đạt kế hoạch đề ra (10,5-10,7%); khu vực dịch vụ tăng 8,68% vượt kế hoạch đề ra (8,0-8,5%)
Trong cơ cấu sản xuất nông thôn, ngành nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo với hoạt động trồng trọt và chăn nuôi chiếm phần lớn Nông nghiệp tạo ra 21,76% giá trị sản phẩm và thu hút đến 52,1% lực lượng lao động năm 2006, với hơn 22,5 triệu người tham gia vào lĩnh vực nông-lâm nghiệp Mặc dù các ngành phi nông nghiệp đã có sự phát triển nhưng vẫn còn rất hạn chế, chưa đóng góp đáng kể vào cơ cấu kinh tế nông thôn.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nông, lâm và ngư nghiệp Trong những năm qua, tốc độ chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp còn chậm chạp Nông nghiệp thuần vẫn chiếm tỷ trọng xấp xỉ 80% nhưng có xu hướng giảm dần từ 81,27% (năm 1986) xuống còn 76,90% (năm 2002) và tỷ trọng của thủy sản tăng nhanh từ 6,95% lên 18,83% trong cùng kỳ; tỷ trọng ngành lâm nghiệp giảm liên tục từ 11,78% xuống chỉ còn 4,27% với thời gian tương ứng
Trong cơ cấu nông nghiệp, cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi ít có sự thay đổi, trong cơ cấu giá trị tổng sản lượng nông nghiệp thì chăn nuôi chiếm 28,79%, trồng trọt chiếm tỷ trọng 52.15% Nội bộ ngành trồng trọt đang có xu hướng tăng mạnh diện tích trồng cây lâu năm, nhất là cây công nghiệp (cà-phê, cao-su, v.v Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nội bộ ngành trồng trọt đang diễn ra mạnh mẽ nhất là ở những vùng ven đô, nhiều cây trồng mang lại thu nhập cao và ổn định (như rau, hoa quả), đang dần thay thế cho cây lúa Chăn nuôi tăng bình quân 10%/năm; tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ 19,3% lên 21,6%, trong đó chăn nuôi lợn chiếm tỷ lệ lớn nhất, với 7.470 trang trại (chiếm 42,2% tổng trang trại); kế đến là chăn nuôi bò, với 6.405 trang trại (chiếm 36,1%); chăn nuôi gia cầm đứng vị trí thứ 3, với 2.838 trang trại (chiếm 16%).
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng trưởng liên tục và đạt mức cao (5,4%/năm) Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2004 đạt gần 7 tỷ USD, tăng 1,5 lần so với năm 2000, trong đó nông, lâm sản tăng gần 1,5 lần, thủy sản tăng 1,6 lần Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đạt sản lượng và giá trị lớn như: gạo, cà-phê, cao-su, hạt điều Ðặc biệt, xuất khẩu đồ gỗ gia dụng và lâm sản tăng mạnh, đạt hơn 1,2 tỷ USD, tăng gấp 3,3 lần so với năm
2000 Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản tăng nhanh, nhất là trong 10 năm gần đây: Nếu năm 1990, tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản chỉ đạt trên 1,1 tỉ USD thì đến năm 2006 đã lên tới gần 6 tỉ USD, trong đó hàng thủy sản xuất khẩu, chiếm tới 50% giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông - lâm - ngư nghiệp
Tỷ trọng ngành công nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân tăng từ 19,8% năm 1991 lên 21,9% năm 1995 và 42,6% năm 2005 Trong nội bộ ngành công nghiệp cũng có sự chuyển dịch tích cực, bước đầu tạo ra cơ cấu hợp lý. Công nghiệp chế biến là chủ yếu, chiếm 83,2% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp và chiếm 19,7% tổng sản phẩm trong nước Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và ngành nghề nông thôn: Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tăng trưởng bình quân 12-14%/năm Sản xuất tiểu, thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn tăng bình quân 15%/năm Hiện cả nước có 2.971 làng nghề, khoảng 1,35 triệu cơ sở ngành nghề nông thôn, với khoảng 1,4 triệu hộ, thu hút hơn 10 triệu lao động (trong đó có khoảng 1,5 triệu người làm hàng mỹ nghệ) Ngành công nghiệp khai thác trong những năm gần đây có tốc độ tăng nhanh do được bổ sung thêm ngành khai thác dầu khí Tỷ trọng năm 2005của ngành này chiếm 11,2% toàn ngành công nghiệp và 9,5% tổng sản phẩm trong nước Ngành công nghiệp điện, nước chiếm 5,6% toàn bộ ngành công nghiệp.
Tuy sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành công nghiệp vẫn chưa hình thành được một hoặc một số ngành công nghiệp mũi nhọn, có năng lực lớn, nhưng qua 10 năm cũng đã hình thành một số ngành chủ lực như: chế biến thực phẩm, đồ uống chiếm 20,6%; Khai thác dầu thô và khí tự nhiên chiếm 8,7%; sản xuất hoá chất và các sản phẩm hóa chất chiếm 5,6%, sản xuất các sản phẩm từ khoáng phi kim loại chiếm 5,5; sản xuất sản phẩm dệt chiếm 4%; Ngoài ra, một số ngành công nghệ cao cũng bước đầu được hình thành và phát triển như: Sản xuất ô tô, thiết bị chính xác, máy móc điện tử và viễn thông, máy tính, máy văn phòng
Mức thu nhập của các nhóm hộ liên quan chặt chẽ đến cơ cấu sản xuất và phân công lao động xã hội Nhóm hộ nông nghiệp giàu có thường chuyển sang sản xuất hàng hoá, tập trung vào các ngành nghề, cây trồng, vật nuôi mang lại hiệu quả cao hơn Mục tiêu kiếm lợi nhuận rõ ràng giúp nâng cao thu nhập và phát triển nền nông nghiệp bền vững.
Biểu 1.1: Cơ cấu thu nhập bình quân một nhân khẩu một tháng chia theo nguồn thu, thành thị, nông thôn, giới tính chủ hộ và vùng năm 2006: Đơn vị tính:%
Chỉ tiêu Tỷ trọng chung
Nguồn thu nhập lương, tiền Tiền công nghiệp Nông Lâm nghiệp Thủy sản Công nghiệp Xây dựng Thương nghiệp Dịch vụ Khác
C- Vùng Đồng bằng sông Hồng 100,00 33,55 22,72 0,10 2,06 7,83 0,33 8,86 6,60 17,96 Đông Bắc 100,00 26,35 34,76 5,24 1,88 4,49 0,32 7,16 4,00 15,81
Duyên Hải Nam Trung bộ 100,00 34,90 18,14 1,48 6,17 5,42 0,31 11,34 8,86 13,37
(Nguồn: Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, 2006)
CÁC ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA XÃ TÂN THÀNH-HUYỆN KIM BÔI-TỈNH HÒA BÌNH
Đặc điểm tự nhiên của xã Tân Thành
Tân Thành là xã vùng sâu, vùng xa thuộc khu vực miền núi của tỉnh Hoà Bình, cách trung tâm huyện Kim Bôi 50km về phía Đông Nam Trung tâm xã và hầu hết diện tích đều nằm dọc theo Quốc lộ 6, tuyến đường huyết mạch kết nối từ thị trấn Kim Bôi đến thị xã Hoà Bình Xã có vị trí địa lý thuận lợi, giáp ranh với các khu vực lân cận, tạo điều kiện phát triển giao thương và du lịch sinh thái Tân Thành nổi bật với cảnh quan núi non độc đáo, góp phần thúc đẩy du lịch cộng đồng và phát triển kinh tế địa phương.
- Phía Bắc giáp huyện Lương Sơn
- Phía Nam giáp xã Hợp Châu, huyện Kim Bôi
- Phía Tây giáp xã Hùng Tiến và Nật Sơn, huyện Kim Bôi
- Phía Đông giáp xã Cao Dương, huyện Kim Bôi
Tuy là xã miền núi nhưng Tân Thành có vị trí địa lí tương đối thuận lợi, xã Tân Thành nằm trên tuyến đường X - là tuyến đường an toàn khu (ATK) đi dốc Sống Xã Tân Thành cách trung tâm huyện Kim Bôi 48 km, cách thị trấn Miếu Môn 12 km, có đường mòn Hồ Chí Minh chạy qua
Xã Tân Thành có tới 70% diện tích là đồi núi, trong đó có 107,3 ha là núi đá Địa hình nghiêng từ Tây sang Đông, phía Tây có dãy núi Bặc Rặc cao 680m, phía Đông là những vạt ruộng trồng lúa xen lẫn với những dải đồi thấp Riêng trung tâm xã có độ dốc dưới 2độ, các khu vực khác trong xã có độ dốc khá cao trên 14 độ Địa hình chủ yếu là diện tích đất dốc chiếm ưu thế, còn đất bằng chiếm diện tích rất nhỏ
Loại đất chủ yếu trên địa bàn cả xã là đất bạc màu, đồi núi, có một lượng rất nhỏ đất đỏ Bazan và đất phù sa ven sông suối
Diện tích đất trên toàn xã là 2.180 ha (Biểu 2.1)
Biểu 2.1: Cơ cấu đất đai tại xã Tân Thành
STT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ trọng (%)
1.7 Đất trồng cây lâu năm 185,50 28,76
- Xã Tân Thành cũng như các xã khác trong huyện Kim Bôi, khí hậu có hai mùa rõ rệt:
+ Mùa nóng (ẩm và mưa nhiều) từ tháng 4 đến tháng 9.
+ Mùa lạnh (khô hanh và mưa ít) từ thàng 10 đến tháng 3 năm sau.
Nhiệt độ bình quân hàng năm 23,5 0 C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 33,7 0 C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8 0 C (tháng 12).
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1500mm đến 1650mm, nhưng phân bố không đều, mưa chủ yếu tập trung vào tháng 4 đến tháng 7 trong năm với80% tổng lượng mưa cả năm, còn lại ít mưa chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa, lượng mưa thấp là vào các tháng 11 và tháng 12.
Trong một năm, tổng số giờ nắng lên đến 1.934,6 giờ, đem lại lượng ánh sáng dồi dào cho khu vực Tháng 5 và tháng 6 ghi nhận số giờ nắng cao nhất trong năm, đạt 284 giờ mỗi tháng, phù hợp cho các hoạt động ngoài trời và phát triển năng lượng mặt trời Ngược lại, tháng 2 là tháng có lượng nắng ít nhất, chỉ từ 80 đến 90 giờ, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp trong thời gian này.
Hướng gió: mùa hè (mùa nóng) thường có gió Lào thổi từ cuối tháng tư đến tháng 9, mùa khô có gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Độ ẩm không khí bình quân là 83%, độ ẩm không khí thấp nhất là 77% vào tháng 12, độ ẩm không khí cao nhất là 88% vào tháng 3 và tháng 4.
- Nguồn nước mặt của xã chủ yếu được cung cấp từ hệ thống các suối lớn nhỏ Toàn xã có 2 suối cái và 7 suối nhỏ.
- Độ sâu mực nước ngầm từ 3 đến 6 m.
- Tài nguyên đất: trên địa bàn có 2 nhóm đất chính là:
+ Nhóm đất đồi núi: Chiếm 70% diện tích tự nhiên, chủ yếu là đất đỏ vàng trên đá phiến thạch sét Loại đất này có thành phần cơ giới thịt trung bình, độ dày canh tác từ 30 đến 100cm, độ pH từ 4, 5 – 5, 5.
+ Nhóm đất ruộng: diện tích 200ha, chủ yếu là đất Feralit biến đổi do trồng lúa nước.
- Tài nguyên rừng: Toàn xã có 357,63 ha rừng tự nhiên và 133,37 ha rừng trồng Rừng tự nhiên hiện nay đa số là rừng tái sinh, thuộc nhóm kiểu IIIA2
(rừng bị khai thác quá mức có thời gian phục hồi, tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế sinh thái với lớp cây đại bộ phận có đường kính 20-30cm) Rừng trồng chủ yếu là Keo và Bạch đàn, được trồng theo dự án PAM.
Xã có 107,3 ha núi đá và một số vàng sa khoáng Tuy nhiên diện tích núi đá nằm trong khu vực ATK nên không được khai thác.
Vàng sa khoáng những năm trước đây bị nhân dân khai thác tự do nên đến nay trữ lượng không còn đáng kể.
Điều kiện kinh tế, xã hội
Xã Tân Thành bao gồm 10 thôn xóm với tổng diện tích tự nhiên 2.180 ha. Tổng số hộ là 918 với 4.304 nhân khẩu trong đó nữ chiếm 2.235 khẩu (51,93%).
Xã gồm 3 dân tộc anh em: Dân tộc Mường (chiếm 90%), dân tộc Dao (chiếm 7%) còn lại là dân tộc kinh (chiếm 3%) Trụ sở UBND xã nằm trên xóm Phượng Sồ.
Cơ sở vật chất đảm bảo cho ba cấp học Huy động 100% số trẻ em ra lớp đúng độ tuổi, các thầy cô giáo đều nhiệt tình tận tâm truyền dạy kiến thức cho những chủ nhân tương lai, nỗ lực đạt được những kết quả sau:
Tổng số học sinh trong toàn xã: 1354 học sinh (trong đó có 210 em là học sinh cấp 3 chiếm 15,5%).
Trong đó: Học sinh giỏi khu vực: 1 học sinh
Học sinh giỏi cấp tỉnh : 5 học sinh chiếm 0,47%
Học sinh giỏi cấp huyện: 12 học sinh chiếm 1,1%
Học sinh giỏi cấp trường : 303 học sinh chiếm 29%
Học sinh thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp là 12 học sinh.
Trong năm 2007, trạm y tế xã đã phát huy tốt vai trò chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cộng đồng, với cơ sở vật chất được nâng cấp để phục vụ khám chữa bệnh hiệu quả hơn Chất lượng chuyên môn của đội ngũ y tế không ngừng được nâng cao, tinh thần phục vụ người dân ngày càng chuyên nghiệp và tận tâm Nhờ đó, trạm y tế đã khám chữa bệnh cho 2.995 lượt người, góp phần đảm bảo sức khỏe cộng đồng địa phương.
Trong năm 2005, trạm y tế xã đã được công nhận là trạm y tế chuẩn quốc gia nhờ thực hiện xuất sắc các chương trình y tế quốc gia, y tế dự phòng, tiêm chủng mở rộng và công tác phòng chống dịch bệnh Việc này chứng minh tính hiệu quả và chất lượng của hệ thống y tế cấp xã trong việc đảm bảo chăm sóc sức khỏe cộng đồng Công nhận này góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, thúc đẩy công tác phòng chống dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe người dân địa phương.
2.2.4 Về dân số kế hoạch hoá gia đình
Bộ máy dân số và kế hoạch hóa gia đình đã được củng cố và kiện toàn đủ về số lượng, đảm bảo hoạt động hiệu quả Chính quyền duy trì chế độ giao ban định kỳ tại các huyện theo đúng lịch, tăng cường phối hợp với các ngành đoàn thể và thôn xóm để tuyên truyền và thực hiện tốt các chương trình mục tiêu về dân số Nhờ đó, các kết quả đạt được trong công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình ngày càng rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững cộng đồng.
Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên: 0,9%.
Tỷ lệ sinh con thứ 3: 0,5%.
Tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai là 80%.
Trong đó, các xóm có người sinh con thứ 3 là Đồng Thành, Suối Sỏi, Tiên Hội, Bặc Rặc.
Cấp thẻ khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi: 375 em.
Làm hồ sơ học bổng cho một em học sinh nghèo vượt khó.
Tặng quà cho 10 cháu khuyết tật mỗi suất trị giá 800.000đ.
Thường xuyên vận động các gia đình thực hiện nếp sống văn minh hạnh phúc, kết hôn đúng độ tuổi, không tảo hôn, đảm bảo các quyền trẻ em.
2.2.5 Tình hình phát triển sản xuất
Người dân nơi đây có đến 80% sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, cán bộ kỹ thuật kinh tế còn ít, nhân dân sản xuất chưa có điều kiện nắm bắt khoa học kỹ thuật mà sản xuất chủ yếu vào kinh nghiệm lâu đời Do vậy bình quân thu nhập đầu người trên địa bàn cả xã còn thấp.
- Thu nhập bình quân bằng tiền: 3.828.400đ/người/năm.
- Thu nhập bình quân về lương thực qui thóc: 540kg/người/năm.
Phân tích cơ cấu kinh tế tại vùng điều tra
Phương Viên, Tiên Hội, Đồng An và Chợ Nội là bốn thôn thuộc diện khó khăn của xã Tân Thành, nơi cư trú chủ yếu của đồng bào dân tộc với trình độ dân trí còn thấp và cuộc sống đối mặt nhiều thử thách Đời sống của người dân ở đây phụ thuộc chủ yếu vào rừng, gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt hàng ngày và phát triển kinh tế địa phương Qua nghiên cứu và thu thập số liệu từ 100 hộ dân tại bốn thôn này, chúng tôi đã ghi nhận những kết quả đáng chú ý về đặc điểm cuộc sống, mức sống và các vấn đề cần cải thiện của cộng đồng.
3.1.1.Thông tin chung về các hộ gia đình được chọn nghiên cứu
Thông tin về các hộ gia đình nghiên cứu được tập hợp trong biểu 3.1 Kết quả biểu 3.2 cho thấy:
Chủ hộ chủ yếu là Nam chiếm tỷ trọng 86%, số hộ do phụ nữ làm chủ hộ chỉ chiếm 14 % Trong gia đình thì vai trò của người chủ hộ là rất quan trọng và đặc biệt trong xã hội Việt nam thì vai trò của Nam giới luôn được đề cao vì thế họ thường là trụ cột của gia đình.
Kết quả nghiên cứu 100 hộ cho thấy dân tộc Mường chiếm số lượng đông đảo nhất (chiếm 55%), kế đến là dân tộc Dao (chiếm 23%) và dân tộc Kinh chiếm số lượng ít nhất (22%).
Trình độ học vấn của các chủ hộ còn rất thấp, trong đó 37% học hết cấp 1 và 36% học hết cấp 2, chiếm tỷ lệ lớn nhất Chỉ có 17% chủ hộ có trình độ từ cấp 3 trở lên, trong khi đó, số chủ hộ mù chữ vẫn chiếm 10%, dù là tỷ lệ nhỏ nhất, nhưng vẫn là mức đáng quan tâm cần được chú ý.
Trong xã hội ngày nay, muốn phát triển kinh tế thì học vấn là một yếu tố hết sức quan trọng, bởi vì muốn nắm bắt được tiến bộ khoa học công nghệ để áp dụng vào sản xuất thì phải có một trình độ nhất định.
Biểu 3.1: Thông tin chung về các hộ gia đình chọn nghiên cứu
Các yếu tố Số lượng
II-Thành phần dân tộc
III-Trình độ học vấn chủ hộ
IV-Nghề nghiệp chính chủ hộ
3- Chủ hộ làm nghề khác 4 4%
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Nghiên cứu nghề nghiệp của các chủ hộ cho thấy chủ hộ làm nghề nông chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 73%, trong khi chủ hộ có lương chiếm 23% và các nghề khác chỉ chiếm 4% Về cơ cấu đất đai, diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 60,64%, tiếp theo là đất nông nghiệp với tỷ lệ 36,1%, còn đất các loại khác chỉ chiếm 3,26%.
3.1.2.Phân tích theo một số chỉ tiêu tổng hợp về tình hình SXKD của các hộ điều tra
Tình hình và kết quả SXKD của các hộ gia đình điều tra được tổng hợp tại biểu 3.2.
Biểu 3.2: Tình hình SXKD của các hộ điều tra
STT Chỉ tiêu ĐVT Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Bình
1 Số nhân khẩu bình quân người 5 5 4 quân5
2 Số LĐ bình quân người 3 3 3 3
3 Diện tích đất đai bình quân m 2 8 930 11 180 14 167 11 401
4 Diện tích bình quân/khẩu m 2 / khẩu 1 972 2 320 3 202 2 484
5 Diện tích bình quân/LĐ m 2 /LĐ 3 412 3 843 4 675 4 000
6 Chi phí bình quân/hộ trđ/hộ 11,77 17,51 24,3 17,80
7 Chi phí bình quân/ha trđ/ha 13,18 15,66 17,15 15,61
8 Thu nhập bình quân/hộ trđ/hộ 7,74 15,84 32,39 18,55
9 Thu nhập bình quân/ha trđ/ha 8,67 14,17 22,86 16,27
- Diện tích đất đai bình quân của các nhóm hộ có sự chênh lệch nhau rất lớn, bình quân cho 3 nhóm hộ là 11.401 m 2 , tăng dần từ nhóm 1 đến nhóm 3. Diện tích bình quân nhóm 1 thấp nhất là 8.930 m 2 tiếp đến là nhóm 2 có 11.180 m 2 và nhóm 3 là 14.167 m 2
Diện tích đất đai bình quân/khẩu bình quân 3 nhóm hộ là 2.484 m 2 /khẩu, tăng dần từ nhóm 1 đến nhóm 3 Diện tích bình quân/khẩu của nhóm 1 là 1.972m 2 /khẩu, nhóm 2 là 2.320m 2 /khẩu, nhóm 3 đạt 3.202m 2 /khẩu.
Diện tích đất đai bình quân trên mỗi lao động của ba nhóm hộ gia đình lần lượt là 3.412 m², 3.843 m² và 4.675 m², cho thấy sự tăng dần đều từ nhóm 1 đến nhóm 3 Trung bình, diện tích đất đai của các hộ gia đình ở nhóm 3 lớn hơn so với nhóm 1 và nhóm 2, phản ánh mức độ sử dụng đất hiệu quả theo từng nhóm Điều này cho thấy nhóm hộ có diện tích đất đai bình quân lớn hơn sẽ có khả năng sản xuất và sinh kế ổn định hơn, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống của cộng đồng.
Chi phí bình quân của các nhóm hộ có sự khác biệt rõ rệt, trung bình đạt 17,80 triệu đồng/hộ/năm Cụ thể, nhóm 1 có chi phí trung bình là 11,77 triệu đồng/hộ/năm, nhóm 2 là 17,51 triệu đồng/hộ/năm, và nhóm 3 là 24,3 triệu đồng/hộ/năm.
Chi phí bình quân/ha đất canh tác của 3 nhóm là triệu đồng/ha/năm. Trong đó nhóm 1 đầu tư 13,18 triệu đồng /ha/năm, nhóm 2 là 15,66 triệu đồng /ha/năm, nhóm 3 đầu tư lớn nhất là 17,15 triệu đồng/ha/năm Nguyên nhân là do có sự chênh lệch rất lớn về diện tích đất nông lâm nghiệp giữa các nhóm: Nhóm 1 có 303.636m 2 , nhóm 2 có 368.943m 2 và nhóm 3 có nhiều đất nhất là 467.506m 2
- Thu nhập bình quân của các hộ gia đình nhóm 1 thấp nhất trong 3 nhóm nghiên cứu Nguyên nhân là do các hộ này diện tích đất lâm nghiệp ít, ngoài thu nhập từ trồng lúa, hoa màu và chăn nuôi các hộ này ít có thu nhập từ các hoạt động khác Nhóm 2 và nhóm 3 có nhiều đất nên thu nhập tăng dân theo diện tích đất sản xuất nông-lâm nghiệp và ngoài ra họ còn còn có các thu nhập khác từ lương và kinh doanh dịch vụ.
So sánh thu nhập bình quân/1hộ giữa các nhóm hộ cho thấy thu nhập bình quân/hộ của 3 nhóm là 18,55 triệu đồng/hộ/năm Các hộ thuộc nhóm 3 có thu nhập bình quân/hộ cao nhất là 32,39 triệu đồng/hộ/năm, tiếp đến là nhóm 2 đạt 15,84 triệu đồng/hộ/năm và cuối cùng là nhóm 1 chỉ đạt 7,74 triệu đồng/hộ/năm.
Thu nhập bình quân/ha của các nhóm hộ có sự chênh lệch khá lớn Thu nhập bình quân/ha chung cho 3 nhóm là 16,27 triệu đồng/ha/năm, trong đó nhóm 1 là 8,67 triệu đồng/ha/năm, tiếp đến là nhóm 2 đạt 14,17 triệu đồng/ha/năm, cao nhất là nhóm 3 đạt 22,86 triệu đồng/ha/năm.
Qua kết quả phân tích ở Biểu 3.2 kết hợp với khảo sát thực tiễn cho thấy:
Nhóm 1 là những hộ có trình độ học vấn thấp, thiếu vốn ít có khả năng tiếp cận thị trường nên không biết phát triển kinh tế, thu nhập dựa vào lúa nước, hoa màu là chủ yếu, vì vậy đời sống của các gia đình nhóm này gặp nhiều khó khăn.
Giải pháp tăng thu nhập cho người dân tại xã Tân Thành
Thu nhập của người dân được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có sự khác biệt tùy thuộc vào điều kiện cụ thể Nghiên cứu về 9 nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập tại xã Tân Thành cho thấy có 6 yếu tố nổi bật gồm số nhân khẩu, số lao động, chi phí đầu tư, dân tộc, trình độ học vấn và nghề nghiệp chính của chủ hộ, trong đó số lao động có ảnh hưởng lớn nhất, tiếp đến là trình độ học vấn Để nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình, cần áp dụng các giải pháp phù hợp nhằm khai thác tối đa các yếu tố tích cực này.
3.3.1 Đối với các hộ gia đình
Lao động là lực lượng chủ yếu tạo ra thu nhập cho các hộ gia đình, trong đó phần lớn là lao động tự có trong gia đình, ít phụ thuộc vào lao động thuê ngoài Số lượng lao động trong các gia đình tại xã Tân Thành có ảnh hưởng đến thu nhập, tuy nhiên không phải cứ tăng lao động là tăng thu nhập, vì diện tích đất canh tác hạn chế và chính sách KHHGĐ không cho phép tăng dân số vượt mức Để nâng cao thu nhập, các hộ gia đình cần tăng năng suất lao động thông qua việc tăng giờ làm, tăng số ngày làm việc trong năm và thực hiện luân canh tăng vụ liên tục Thâm canh tăng vụ giúp tối ưu hóa năng suất cây trồng trên diện tích đất, tận dụng hiệu quả quỹ đất, giảm thời gian đất bỏ trống và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp bền vững Đặc biệt, việc đa dạng hóa sản phẩm cây trồng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, duy trì dưỡng chất đất đai và đảm bảo sự bền vững trong canh tác.
- Các hộ gia đình cần mạnh dạn đầu tư nhiều hơn cho các hoạt động sản xuất, tìm hiểu nhu cầu thị trường để đưa ra được các sản phẩm có thu nhập cao. Đặc biệt là cần tập trung chi phí nhiều hơn cho hoạt động chăn nuôi.
Chăn nuôi là một lĩnh vực quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Đầu tư cho chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt chăn nuôi theo hướng hàng hoá còn làm tăng khối lượng hàng bán ra và giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sang các vùng khác lớn hơn Ngoài ra chăn nuôi còn có tác động đến thành phần trồng trọt trong sản xuất nông nghiệp Mối quan hệ tác động qua lại giữa hai thành phần này sẽ làm cho hệ thống nông nghiệp phát triển ổn định và lâu dài Tuy nhiên việc đẩy mạnh quy mô chăn nuôi cũng gây áp lực cho sản xuất nông nghiệp vì nguồn thức ăn cho vật nuôi, đặc biệt là thức ăn cho gia súc và áp lực cho con người trong tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm Thực tế cho thấy, thu nhập từ hoạt động chăn nuôi là khá lớn nhưng mới được các hộ gia đình giàu khai thác, còn các hộ gia đình nghèo hầu như chưa có thu nhập từ hoạt động này, có lẽ vốn là trở ngại đầu tiên khiến hộ nghèo khó có thể đầu tư cho lĩnh vực này, nhưng tâm lí sợ rủi ro thường làm cho họ không dám chăn nuôi Để hạn chế rủi ro thì các hộ gia đình cần tích cực học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận những tiến bộ kỹ thuật để áp dụng vào chăn nuôi Các gia đình cần nghiên cứu kỹ để lựa chọn cho mình giống vật nuôi phù hợp với điều kiện sẵn có, ngoài ra trong kinh tế thị trường nhiều lúc cũng phải táo bạo mới đem đến sự thành công. Các hộ gia đình nên vay thêm vốn từ các tổ chức tín dụng để đầu tư cho hoạt động chăn nuôi, không nên sống dựa chủ yếu vào độc canh cây lúa.
- Kinh tế vườn mở ra hướng phát triển mới cho kinh tế hộ của người dân. Người dân nên cải tạo vườn tạp và đưa vào trồng những cây trồng có hiệu quả kinh tế cao như xoài, na, nhãn…Việc phát triển cây ăn quả theo hướng chuyên chuyên canh sẽ giúp ích rất nhiều cho việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá
- Diện tích đất nông nghiệp tương đối lớn nhưng qua nghiên cứu thực tế chúng tôi thấy rằng đất ở đây rất manh mún, chưa tập trung Đây là khó khăn lớn cho việc đưa cơ giới hoá vào sản xuất Muốn tăng năng suất cho sản xuất nông nghiệp thì bà con nên dồn điền, đổi thửa đủ quy mô để thuận tiện cho việc sử dụng máy móc phục vụ sản xuất.
- Trồng trọt vẫn là hoạt động chủ đạo của người dân tại đây, tuy nhiên các hộ gia đình chủ yếu vẫn sử dụng những giống cây trồng tự có từ vụ trước vào sản xuất cho vụ sau, chưa có cải tiến giống nên năng suất thường không cao.Khoa học trong nông nghiệp phát triển đã đưa ra thị trường rất nhiều giống mới với năng suất rất cao, các giống mới này thường là giống một vụ, nếu sử dụng cho vụ tiếp theo thì sẽ bị thoái hoá giống vì vậy năng suất thấp Để tăng hiệu quả trong sản xuất bà con nông dân nên áp dụng các giống cây trồng, vật nuôi đảm bảo vừa đạt năng suất cao, vừa phù hợp với nhu cầu thị trường để dễ tiêu thụ.
- Áp dụng các biện pháp canh tác tiên tiến như: cày sâu, bừa kỹ theo đúng yêu cầu kỹ thuật, tưới tiêu nước theo đúng khoa học, sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh, sử dụng rộng rãi các chế phẩm sinh học, giảm dần mức sử dụng hoá chất Trong điều kiện ngày nay, khi chưa giảm được thì phải sử dụng đúng theo quy trình: đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng…
- Trên diện tích đất rừng, ngoài trồng măng, keo các hộ gia đình nên trồng thêm các loài cây có giá trị kinh tế cao như gió trầm, chè…
Lao động trong nông nghiệp và lâm nghiệp thường chỉ mang tính thời vụ, dẫn đến tình trạng thất nghiệp mùa vụ khi nông nhàn, do hầu như không có nghề phụ để tăng thu nhập ngoài nông nghiệp và khai thác lâm sản ngoài gỗ Phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ không những thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn hỗ trợ phát triển nông nghiệp, đặc biệt trong việc đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hoá để phục vụ sản xuất và tiêu thụ của người dân Đồng thời, sự phát triển này góp phần tăng thu nhập cho người nông thôn, tạo ra các yếu tố đầu vào cần thiết để mở rộng sản xuất nông nghiệp theo chiều sâu, nâng cao hiệu quả kinh tế địa phương.
- Các hộ gia đình nên đầu tư cho con cái học hành để sau này có trình độ áp dụng tiến bộ của nhân loại, phục vụ gia đình, thôn bản Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển và là đầu tư cho tương lai.
3.3.2 Đối với chính quyền địa phương
- Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chính sách đất đai trong nông nghiệp, ban hành và thực hiện chính sách khuyến khích “dồn điền, đổi thửa”, khắc phục tình trạng manh mún đất đai trong nông nghiệp, hướng dẫn và tạo điều kiện cho các hộ gia đình chuyển đổi, chuyển nhượng đất đai để có diện tích đủ lớn, có thể áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất.
Chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sự phát triển của các hợp tác xã Liên kết kinh tế giữa hợp tác xã và các thành phần kinh tế khác thúc đẩy sự hợp tác, nâng cao hiệu quả sản xuất và mở rộng thị trường Việc này giúp các hợp tác xã nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững Chính sách hỗ trợ này góp phần thúc đẩy phát triển hợp tác xã, tạo ra giá trị gia tăng và nâng cao đời sống cộng đồng nông thôn.
- Có chương trình đào tạo nguồn nhân lực quản lí kinh tế hợp tác xã.
- Thu hút các nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, phục vụ bà con trong sinh hoạt và trong sản xuất.
Chúng tôi phối hợp với các tổ chức khuyến nông, khuyến lâm để chuyển giao kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp cho nông dân Hoạt động này nhằm thúc đẩy phát triển các vùng sản xuất hàng hóa và vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Đồng thời, liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản được xem là chiến lược quan trọng để nâng cao năng suất và giá trị nông nghiệp bền vững.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Sau sáu tháng tiến hành nghiên cứu, thu thập, xử lí số liệu chúng tôi đã thu được một số kết quả:
- Hệ thống hoá được bức tranh kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam cũng như cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình hiện nay.
- Phân tích được thực trạng sản xuất và thực trạng thu nhập của người dân tại xã Tân Thành, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình.
- Tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tại xã Tân Thành, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình.
- Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân tại địa phương chọn nghiên cứu.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình gồm số nhân khẩu, số lao động, chi phí đầu tư, dân tộc, trình độ học vấn và nghề nghiệp chính của chủ hộ, trong đó số lao động có ảnh hưởng lớn nhất Thực tế cho thấy, trong 100 hộ nghiên cứu, lao động chính chủ yếu là bố mẹ, còn con cái đang đi học, khiến tỷ lệ lao động trên nhân khẩu rất thấp, tạo gánh nặng cho chủ hộ Để nâng cao thu nhập, các hộ cần tăng thêm giờ làm và tranh thủ mọi thời gian để làm thêm, nhằm nuôi dưỡng con cái học hành tử tế và cải thiện cuộc sống Chính vì vậy, việc thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình được khuyến cáo nhằm giảm bớt gánh nặng và nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình.
Trình độ học vấn của người dân nói chung là còn ở mức thấp, vì vậy họ khó tiếp thu những phương pháp sản xuất có hiệu quả cao, đồng bào dân tộc thường bảo thủ với phương thức canh tác truyền thống vốn đem lại năng suất,hiệu quả thấp Để người dân có thể thay đổi tập tục sản xuất thì các cấp chính quyền nên tích cực mở các lớp tập huấn dài hạn và ngắn hạn cho bà con nông dân, giúp họ hiểu được giải pháp phát triển kinh tế góp phần cải thiện đời sống cho thôn bản. Để giúp bà con có vốn đầu tư cho sản xuất, chính quyền địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi cho người dân vay vốn từ các tổ chức tín dụng, liên kết với các tổ chức khuyến nông cung cấp giống cây trồng vật nuôi có năng suất cao cho bà con nông dân, hỗ trợ cho các gia đình khó khăn có điều kiện vươn lên làm kinh tế.