TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN o0o BÀI TẬP LỚN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Đề tài Phân tích những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên đối với phát triển nông nghiệp ở Việt Nam Họ tên SV Nguyễn Hoàng[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-o0o -BÀI TẬP LỚN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Đề tài: Phân tích những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự
nhiên đối với phát triển nông nghiệp ở Việt Nam
Họ tên SV: Nguyễn Hoàng Quân
Mã SV: 11153639
Lớp: Kinh tế nông nghiệp (117)_1
Hà Nội – 2017
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Nông nghiệp là ngành quan trọng bậc nhất trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Đây là ngành đã có lịch sử phát triển hàng nghìn năm, xuyên suốt lịch sử Cho đến tận ngày nay, nó vẫn là ngành then chốt, đóng tỉ trọng lớn nhất trong nền kinh tế
Một trong những yếu tố quan trọng nhất trong phát triển nông nghiệp đó là điều kiện tự nhiên Gần như mọi hoạt động nông nghiệp đều phụ thuộc vào tự nhiên Việt Nam may mắn nằm ở vị trí địa lí được đánh giá là đầy tiềm năng cho phát triển kinh tế, bao gồm cả nông nghiệp Khí hậu nhiệt đời ẩm gió mùa, đường bờ biển dài, tự nhiên từng vùng miền lại khác nhau rõ rệt,… tất cả đều dẫn tới việc phát triển một nền nông nghiệp
đa dạng Tuy nhiên, đồng thời tự nhiên cũng mang lại nhiều trở ngại cho nông nghiệp, đặc biệt là thiên tai
Dưới đây sẽ là những phân tích về thuận lợi và khó khăn mà điều kiện tự nhiên mang lại cho nền nông nghiệp của Việt Nam
Trang 3I Tổng quan về sản xuất nông nghiệp nước ta
1 Sản xuất nông nghiệp có tính vùng
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Đặc điểm này cho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp Thế nhưng ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết – khí hậu rất khác nhau Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v.v… trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp cần phải chú ý các vấn đề kinh tế – kỹ thuật sau đây:
- Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông – lâm – thuỷ sản trên phạm
vi cả nước cũng như tính vùng để qui hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi cho phù hợp
- Việc xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ở từng vùng
- Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, từng khu vực nhất định
2 Ruộng đất là tư liệu sản xuất trực tiếp
Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau Trong công nghiệp, giao thông v.v… đất đai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệ thống đường giao thông v.v… để con người điều khiến các máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động
Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thê, theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruống đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm
Trang 43 Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng vật nuôi
Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong) Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển và diệt vọng Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương
4 Sản xuất nông nghiệp mang tính mùa vụ
Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt tiqt sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết – khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng – loại cây xanh
có vai trò cực kỳ to lớn là sinh vật có khả năng hấp thu và tàng trữ nguồn năng lượng mặt trời để biến từ chất vô cơ thành chất hữu cơ, tạo nguồn thức ăn cơ bản cho con người và vật nuôi Như vậy, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với nông dân Tạo hoá đã cung cấp nhiều yếu tố đầu vào thiết yếu cho nông nghiệp, như: ánh sáng,
ôn độ, độ ẩm, lượng mưa, không khí Lợi thế tự nhiên đã ưu ái rất lớn cho con người, nếu biết lợi dụng hợp lý có thể sản xuất ra những nông sản với chi phí thấp chất lượng Để khai thác và lợi dụng nhiều nhất tặng vật của thiên nhiên đối với nông nghiệp đòi hỏi phải thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất như thời vụ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu v.v… Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đến tình trạng căng thẳng về lao động đòi hỏi phải có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư – kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch
vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nồng nhàn
5 Nông nghiệp nước ta đang từ tình trạng lạc hậu, tiến lên xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo định hướng XHCN không qua giai đoạn phát triển
tư bản chủ nghĩa
Trang 5Đặc điểm này cho thấy xuất phát điểm của nền nông nghiệp nước ta khi chuyển lên xây dựng, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là rất thấp so với các nước trong khu vực và thế giới Đến nay nhiều nước có nền kinh tế phát triển, nông nghiệp đã đạt trình độ sản xuất hàng hoá cao, nhiều khâu công việc được thực hiện bằng máy móc, một số loại cây con chủ yếu được thực hiện cơ giới hoá tổng hợp hoặc tự động hoá Năng suất ruộng đất và năng suất lao động đạt trình độ cao, tạo ra
sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Tỷ lệ dân số và lao động nông nghiệp giảm xuống cả tương đối và tuyệt đối Đời sống người dân nông nghiệp và nông thôn được nâng cao ngày càng xích gần với thành thị
Trong khi đó, nông nghiệp nước ta với điểm xuất phát còn rất thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu kém, lao động thuần nông còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội, năng suất ruộng đất và năng suất lao động còn thấp v.v… Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, khẳng định phát triển nền nông nghiệp nhiều thành phần và hộ nông dân được xác định là đơn vị tự chủ, nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển và đạt được những thành tựu to lớn, nhất là về sản lượng lương thực Sản xuất lương thực chẳng những trang trải được nhu cầu trong nước, có dự trữ mà còn dư thừa để xuất khẩu Bên cạnh đó một số sản phẩm khác cũng phát triển khá, như cà phê, cao su, chè, hạt điều v.v… đã và đang là nguồn xuất khẩu quan trọng Nông nghiệp nước ta đang chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá Nhiều vùng của đất nước đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp tăng sản phẩm phi nông nghiệp
Để đưa nền kinh tế nông nghiệp nước ta phát triển trình độ sản xuất hàng hoá cao, cần thiết phải bổ sung và hoàn thiện chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn Khẩn trương xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho nông nghiệp và hệ thống kết cấu hạ tầng ở nông thôn phù hợp Bổ sung, hoàn thiện và đổi mới hệ thống chính sách kinh tế nông nghiệp, nhằm tiếp tục giải phóng sức sản xuất, tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển hàng hoá Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh cho nông nghiệp và nông thôn
6 Nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha trộn tính chất ôn đới, nhất là ở miền Bắc và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp: trung
du, miền núi, đồng bằng và ven biển
Đặc điểm này đem lại cho nông nghiệp nhiều thuận lợi cơ bản, đồng thời cũng
có những khó khăn rất lớn trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp
Trang 6Thời tiết, khí hậu của nước ta có những thuận lợi rất cơ bản Đó là hàng năm có lượng mưa bình quân tương đối lớn, đảm bảo nguồn nước ngọt rất phong phú cho sản xuất và đời sống, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào (cường độ, ánh sáng, nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C v.v…), tập đoàn cây trồng và vật nuôi phong phú, đa dạng Nhờ những thuận lợi cơ bản đó mà ta có thể gieo trồng và thu hoạch quanh năm, với nhiều cây trồng và vật nuôi phong phú, có giá trị kinh tế cao, như cây công nghiệp lâu năm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, điều kiện thời tiết – khí hậu nước ta cũng có nhiều khó khăn lớn, như: mưa nhiều và lượng mưa thường tập trung vào ba tháng trong năm gây lũ lụt, ngập úng Nắn nhiều thường gây nền khô hạn, có nhiều vùng thiếu cả nước cho người, vật nuôi sử dụng Khí hạy ẩm ướt, sâu bệnh, dịch bệnh dễ phát sinh và lây lan gây ra những tổn thất lớn đối với mùa màng
Trong quá trình đưa nông nghiệp nước ta lên sản xuất hàng hoá, chúng ta tìm kiếm mọi cách để phát huy những thuận lợi cơ bản nêu trên và hạn chế những khó khăn do điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên gây ra, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển nhanh chóng và vững chắc
II Thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên đối với phát triển nông nghiệp
ở Việt Nam
1 Đất đai
1.1 Thuận lợi
- Đất Việt Nam rất phong phú và đa dạng, với nhiều loại đất như đất phù sa, đất cát, đất đỏ, đất phèn,… cho phép trồng được nhiều loại cây từ cây nhiệt đới điển hình như cây cao su, điều, cà phê, đến các loại rau quả ôn đới như bắp cải, xúp lơ, xu hào, đào, mận
- Một số loại đất có hàm lượng chất dễ tiêu tương đối khá, tầng đất dày như đất
đỏ Bazan, đất phù sa
- Đất có khả năng tăng 3 vụ/năm; trồng trọt quanh năm
Tài nguyên đất của Việt Nam rất đa dạng về loại hình thổ nhưỡng, bao gồm
19 nhóm đất và 54 đơn vị đất Trong đó có 14 nhóm chính sau:
- Cồn cát và cát ven biển: 502.045 ha
- Đất mặn: 991.202 ha
- Đất phèn: 2.140.306 ha
- Đất phù sa: 2.936.413 ha
- Đất lầy và than bùn: 71.796 ha
- Đất xám bạc màu: 2.481.987 ha
- Đất đỏ và xám nâu vùng bán khô hạn: 34.234 ha
Trang 7- Đất đen: 237.602 ha
- Đất đỏ vàng: 15.815.790 ha
- Đất mùn vàng đỏ trên núi: 2.976.313 ha
- Đất mùn trên núi cao: 280.714 ha
- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: 330.814 ha
- Đất xói mòn trơ sỏi đá: 505.298 ha
- Các loại đất khác và đất chưa điều tra: 3.651.586 ha
Bảng: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên cả nước
Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010
2000-2005 2005-2010 2000-2010 Tổng diện tích
đất nông nghiệp 20.939.679 24.822.560 26.100.160 3.882.881 1.277.600 5.160.481 Đất sản xuất
nông nghiệp 8.977.500 9.415.568 10.117.893 438.068 702.325 1.140.393 Đất lâm nghiệp 11.575.027 14.677.409 15.249.025 3.102.382 571.616 3.673.998 Đất nuôi trồng
thuỷ sản 367.846 700.061 690.218 332.215 -9.843 322.372 Đất làm muối 18.904 14.075 17.562 -4.829 3.487 -1.342 Đất nông nghiệp
Nguồn: Tổng điều tra đất đai năm 2000, năm 2005 và năm 2010
Biến động sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện trên các điểm sau:
- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp cả nước có sự gia tăng tương đối, giai đoạn 2000-2010, tăng bình quân 114.000 ha/năm Sự gia tăng này có thể đến từ
việc mở rộng một phần quỹ đất chưa sử dụng, khai phá rừng, đất lâm nghiệp
- Giai đoạn 2000-2005, diện tích đất lâm nghiệp tăng nhanh, từ 11.575.027
ha lên 14.677.409 ha, bình quân hằng năm tăng trên 620.000 ha và mức tăng
trưởng này giảm nhẹ trong giai đoạn kế tiếp Đất lâm nghiệp của cả nước năm
2010 tăng 571.616 ha so với năm 2005, tính chung cho cả giai đoạn diện tích đất lâm nghiệp tăng 3.673.998 ha Nguyên nhân tăng chủ yếu do các địa phương đã
đẩy mạnh việc giao đất để trồng hoặc khoanh nuôi phục hồi rừng, cùng với đó là
do quá trình đo đạc, vẽ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp được xác định lại chính
xác hơn
- Trong 5 năm đầu (2000-2005), diện tích đất nuôi trồng thủy sản có sự tăng trưởng mạnh tăng từ 367.846 ha lên 700.061 ha, bình quân hàng năm tăng
khoảng 66.500 ha Giai đoạn 5 năm tiếp theo (2006-2010) giảm 9.843 ha Năm
Trang 82010, diện tích đất nuôi trồng thủy sản chiếm 2,64% trong tổng cơ cấu đất nông nghiệp
- Diện tích đất làm muối có sự suy giảm trong giai đoạn đầu 2000-2005 và tăng trưởng trở lại trong giai đoạn sau 2006-2010 Diện tích đất làm muối giảm 4.829 ha giai đoạn 2000-2005 và 5 năm sau đó tăng 3.487 ha Tính cả giai đoạn 2001-2010, diện tích đất làm muối giảm 1.342 ha Mặc dù trong những năm qua, sản xuất muối có những tiến bộ nhất định về năng suất và chất lượng, tuy nhiên, ngành này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước Hàng năm, đất nước còn phải nhập khẩu muối cho các nhu cầu khác nhau với giá thành cao Đây là vấn
đề mang tính nghịch lý cần phải xem xét, vì Việt Nam là một nước nhiệt đới, với 3.444 km chiều dài bờ biển
1.2 Khó khăn
- Đất ít người đông, cơ sở vật chất còn hạn chế, ruộng bị phân mảnh, manh mún sau thời kỳ hợp tác xã
- Công tác quản lý, sử dụng và cải tạo đất chưa tốt
Trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, diện tích đất trồng lúa có sự suy giảm đáng kể (trên 340.000 ha), trung bình mỗi năm giảm trên 34.000 ha Có 41/63 tỉnh giảm diện tích đất trồng lúa Nguyên nhân giảm chủ yếu do chuyển từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại đất nông nghiệp khác, như: đất trồng rau, màu hoặc trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê), trồng cây cảnh, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản và các loại đất phi nông nghiệp (công trình công cộng, phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn, hoặc đất sản xuất, kinh doanh) Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới, mưa nhiều và tập trung nên xói mòn, rửa trôi diễn ra khá mạnh trong mùa mưa, dẫn tới đất dễ bị suy thoái, cạn kiệt dinh dưỡng Theo kết qủa nghiên cứu ở bảng dưới đây cho thấy lượng đất mặt mất đi hàng năm do xói mòn là rất lớn, phụ thuộc vào độ dốc, loại đất và hệ thống canh tác
Hoang mạc đá - Hoang mạc đất khô cằn: gồm các núi đá và đất trống đồi núi trọc, thể hiện rõ nhất ở các vùng có lượng mưa thấp, đất phát triển trên các loại đá mẹ khó phong hoá, nghèo dinh dưỡng (khu vực miền Trung và Tây Nguyên) Hoang mạc cát (cát bay, cát chảy, cát trượt lở): gồm các dải cát hẹp trải dài dọc theo bờ biển, tập trung nhiều nhất ở dải ven biển miền Trung,
ĐBSCL và một phần diện tích nhỏ dọc theo ven biển các tỉnh phía Bắc như Nam Định, Nghệ An, Thanh Hóa đất có độ phì nhiêu tự nhiên thấp, phần lớn là cấp hạt cát nên khả năng giữ nước, giữ phân kém, Hoang mạc đất nhiễm mặn: tập trung chủ yếu ở ĐBSCL, các tỉnh duyên hải miền Trung như Quảng Bình, Hà Tĩnh, Ninh Thuận… đất thường có hàm lượng tổng số muối tan và độ dẫn điện (EC) cao Hoang mạc đất nhiễm phèn: phân bố tại các khu vực Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười (đất phèn), bán đảo Cà Mau (đất phèn mặn) Ở miền
Trang 9Bắc, đất phèn chủ yếu tập trung ở vùng Kiến An - Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương và Quảng Ninh Đất nhiễm phèn được đặc trưng bởi độ chua cao, nồng
độ độc tố nhôm tiềm tàng cao và thiếu lân
2 Khí hậu
Hiện trạng tài nguyên đất Việt Nam là quá trình sử dụng và chọn lọc lâu dài của con người Việt Nam có diện tích tự nhiên là 33triệu ha, xếp thứ 59 trên tổng số 200 nước trên thế giới, xếp thứ 159/200 về diện tích bình quân trên đầu người và bằng 1/6 tiêu chuẩn thế giới với ¾ đất đồi núi; đất canh tác <25%; đất trống đồi núi trọc: 28-30% Diện tích đất canh tác giảm dần theo thời gian (năm 1940: 0,2ha/khẩu; năm 2000: 0,1ha/khẩu),
Trang 10diện tích đất manh mún (vì có nhiều sông, hải đảo, núi xen lẫn đất liền) Việt Nam là quốc gia khan hiếm đất trên thế giới
2.1 Thuận lợi
- Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa làm cho nền nông nghiệp đa dạng toàn diện
- Cung cấp lượng mưa, lượng nhiệt, lượng bức xạ mặt trời dồi dào giúp cho cây sinh trưởng phát triển tốt
Nông nghiệp Việt Nam trở nên đa dạng nhờ khí hậu thể hiện ở chỗ ở từng vùng miền lại phù hợp cho từng loại hình phát triển khác nhau; cụ thể:
a Ở miền Bắc + Khí hậu chia làm 4 mùa rõ ràng: Xuân, Hạ, Thu, Đông
- Mùa hạ nắng nóng mưa nhiều thuận lợi cho trồng cây: ngô, mía, bông, đay
- Mùa đông lạnh khô và có mưa phùn nhỏ thích hợp với trồng cây ưa lạnh:
su hào, bắp cải, súp lơ…
+ Cây trồng thích hợp:
- Ở đồng bằng sông Hồng:thích hợp trồng cây lúa nước, hoa màu…
- Ở trung du miền núi phía Bắc khí hậu ôn hòa thích hợp trồng cây rau(súp
lơ, bắp cải, su hào…)
- Thích hợp chăn nuôi theo quy mô vừa và nhỏ như: bò sữa, gia cầm gia súc
b Ở miền Trung + Khí hậu phân hóa thành 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa
- Mùa khô:từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau
- Mùa mưa:từ tháng 5 đến tháng 9
+ Giống cây trồng phù hợp: cao su, ca cao, hồ tiêu……
+ Địa hình núi cao thích hợp trồng cây ôn đới và hàn đới(Đà Lạt)
c Ở miền Nam + Khí hậu cận xích đạo nóng ẩm, đặc trưng bởi 2 mùa chính: mùa khô, mùa mưa