DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1 Khả năng sinh sản của lợn phụ thuộc vào giống 7 Bảng 2 Ảnh hưởng của stress nhiệt ở con đực đến tỷ lệ thụ thai 18 Bảng 3 Số lượng và khối lượng sản phẩm chính c
Trang 1UBND TỈNH ĐIỆN BIÊN
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
UBND TỈNH ĐIỆN BIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐIỆN BIÊN
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP TỈNH
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
(Đã chỉnh sửa theo Biên Bản nghiệm thu số: 418/BBNT-HĐKHCN
Ngày 11/11/2015 của Hội đồng Khoa học công nghệ cấp tỉnh)
DỰ ÁN: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TIÊN TIẾN
ĐỂ XÂY DỰNG CHUỒNG VÀ CHĂN NUÔI LỢN THEO MÔ HÌNH
KHÉP KÍN TẠI TRẠI THÍ NGHIỆM – THỰC HÀNH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐIỆN BIÊN
Cơ quan chủ trì : Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
Chủ nhiệm dự án : ThS Nguyễn Xuân Toán - Phó Hiệu trưởng
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên Đồng chủ nhiệm : TS Chử Thị Hải – Hiệu trưởng
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên Thư ký khoa học : ThS Đoàn Thanh Quỳnh - Trưởng phòng
Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế
Điện Biên, tháng 11 năm 2015
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA CHÍNH
STT Họ và tên Chức danh
khoa học, học vị
Đơn vị công tác
1 Nguyễn Xuân Toán Thạc sĩ Phó Hiệu trưởng
2 Chử Thị Hải Tiến sĩ Hiệu trưởng
3 Ngọc Văn Thanh Thạc sĩ Phó Khoa Khoa học - Kỹ thuật
4 Đoàn Thanh Quỳnh Thạc sĩ Trưởng Phòng Khoa học công nghệ
& Hợp tác quốc tế
5 Trần Bá Uẩn Thạc sĩ Trưởng Phòng Đào tạo
6 Trần Văn Tiếp Kỹ sư Trại trưởng Trại Thí nghiệm –
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 19
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHỆ 22 2.1 Mô tả công nghệ, sơ đồ công nghệ của Dự án 22 2.2 Phân tích những vấn đề mà Dự án đã giải quyết về công nghệ 25 2.3 Các bước công việc đã thực hiện trong thời gian triển khai dự án 25
2.6 Trang thiết bị chủ yếu đảm bảo cho triển khai dự án 28
2.8 Số cán bộ KHCN và công nhân lành nghề tham gia Dự án 28 2.9 Đánh giá tác động môi trường do việc triển khai dự án 28
3.1 Mức độ đầy đủ về số lượng, khối lượng, chủng loại các sản phẩm 29
3.2 Mức độ hoàn thiện công nghệ, quy trình kỹ thuật chăn nuôi
lợn, chất lượng của sản phẩm tạo ra, quy mô sản xuất 40
3.4 Mức độ tác động đối với kinh tế, xã hội và môi trường 42 3.5 Phương án phát triển của dự án sau khi kết thúc 44
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Khả năng sinh sản của lợn phụ thuộc vào giống 7 Bảng 2 Ảnh hưởng của stress nhiệt ở con đực đến tỷ lệ thụ thai 18 Bảng 3 Số lượng và khối lượng sản phẩm chính của Dự án 29
Bảng 6 Những bệnh thường gặp trên đàn lợn nái 36
Trang 5MỞ ĐẦU
Ở nước ta có gần 69,7% lực lượng lao động nông thôn (Tổng cục Thống
kê, 2013) [10] Một bộ phận lực lượng lao động nông thôn đã góp phần quan trọng làm cho ngành chăn nuôi nước ta phát triển nhanh chóng, nhằm thực hiện mục tiêu thỏa mãn tiêu dùng thực phẩm trong nước và xuất khẩu
Mấy năm gần đây được sự quan tâm của các ngành, các cấp, nhiều nỗ lực chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi của hệ thống khuyến nông, các trường đào tạo, các trung tâm nên quy trình kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến được giới thiệu một cách có hệ thống tới người chăn nuôi và mang lại kết quả bước đầu như chuyển phương thức chăn nuôi truyền thống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vốn có và nguồn thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp sang chăn nuôi theo hướng công nghiệp Kết quả đã đóng góp khoảng 70% tổng sản phẩm tiêu thụ lượng thịt xẻ của ngành chăn nuôi cho xã hội (Cục chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2011) [4]
Những năm vừa qua, chăn nuôi lợn của tỉnh Điện Biên đã có chiều hướng gia tăng và ứng dụng kỹ thuật vào quá trình chăn nuôi đã góp phần đáng kể giải quyết nhu cầu thị lợn tại chỗ cho địa phương Song do nhiều nguyên nhân khác nhau nên mức độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vẫn ở mức độ khiêm tốn Quyết định 583/QĐ-UBND ngày 04 tháng 7 năm 2012 của UBND tỉnh Điện Biên phê duyệt Đề án phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Điện Biên đến năm 2015 đã đánh giá tình hình chăn nuôi của tỉnh được thể hiện qua những vấn đề sau:
Về con giống: Nguồn giống vật nuôi đại đa số là giống địa phương, năng
suất thấp, tập quán thả rông, giao phối tự nhiên, tình trạng cận huyết, đồng huyết
có nguy cơ dẫn tới chất lượng đàn suy giảm Tại khu vực lòng chảo Điện Biên
có một số cơ sở sản xuất giống lợn lai, còn lại đa số các giống ngoại và lai được các cơ sở kinh doanh nhập giống từ khu vực đồng bằng đưa lên để bán ra thị
trường
Đối với giống lợn: Lợn lai và lợn ngoại mới chiếm 30% tổng đàn Các giống ngoại chủ yếu hiện nay ở Điện Biên là Yorkshire, Landrace, Duroc và
Trang 6Pietrain Những giống thường sử dụng làm dòng cái là Yorkshire và Landrace, dòng đực là Yorkshire, Duroc và Pietrain để tạo các con lai nuôi thương phẩm 2 hoặc 3 hoặc 4 máu ngoại Ngoài ra còn có lợn lai 2 hoặc 3 máu ngoại với giống địa phương nuôi thích nghi với điều kiện sinh thái và phù hợp tập quán chăn
nuôi của người dân
Về phương thức chăn nuôi: Chăn nuôi hộ gia đình là phổ biến Tại khu
vực lòng chảo huyện Điện Biên, thành phố Điện Biên Phủ và các thị trấn đã có một số hộ chăn nuôi theo mô hình gia trại, trang trại quy mô nhỏ; đối với khu vực vùng cao, trâu, bò, lợn, gia cầm chăn nuôi thả rông, phụ thuộc vào nguồn thức ăn tự nhiên, không kiểm soát được dịch bệnh, thiếu đồng cỏ và thức ăn thô xanh vào mùa khô Nhiều nơi còn nhốt trâu, bò, lợn dưới gầm sàn, không đảm bảo vệ sinh môi trường Tại một số địa bàn vùng thấp, khu vực lòng chảo đã có
sự chuyển biến tích cực, đã có sự đầu tư về chuồng trại, giống mới và thức ăn công nghiệp cho chăn nuôi
Thực hiện mục tiêu Đề án phát triển sản xuất nông nghiệp đến năm 2015 được UBND tỉnh Điện Biên phê duyệt tại Quyết định 583/QĐ-UBND ngày 04 tháng 7 năm 2012, với mục tiêu và giải pháp cơ bản sau:
Mục tiêu: Tốc độ phát triển đàn gia súc (trâu, bò, lợn) bình quân 6%/năm,
trong đó: Tốc độ phát triển bình quân của đàn trâu là 3,75 %/năm, đàn bò 4,98%/năm (Sind hóa được 30% tổng đàn), đàn lợn 7,02%/năm, đàn gia cầm
13%/năm, sản lượng thịt hơi các loại: 19.096 tấn
Giải pháp: Đầu tư xây dựng Trung tâm Phát triển chăn nuôi của tỉnh trở
thành Trung tâm cải tạo, tuyển chọn, phát triển các loại giống vật nuôi nhằm cung cấp giống trâu, bò, lợn có chất lượng cao cho các địa phương trên toàn tỉnh Khuyến khích nghiên cứu, chọn lọc và nhân thuần các giống lợn bản địa
có chất lượng thịt cao để phát triển chăn nuôi lợn đặc sản; nâng cao năng suất, tỉ
lệ nạc của giống lợn địa phương thông qua việc trợ giá liều tinh lợn ngoại cho cơ
sở sản xuất tinh để thụ tinh nhân tạo Trợ giá lợn đực giống ngoại để thay thế
mở rộng quy mô đàn lợn có chất lượng
Trang 7Về tổ chức đánh giá: Trên địa bàn của tỉnh đã có một số hộ gia đình nuôi
lợn nái ngoại Song việc tổ chức nuôi theo phương pháp khép kín chưa được phổ biến và công tác đánh giá năng suất sinh sản và công tác phòng chống dịch bệnh của giống lợn này chưa có tổ chức hoặc cá nhân nào thực hiện
Mục tiêu của Dự án
Xây dựng hệ thống chuồng, lắp đặt các thiết bị và chăn nuôi lợn theo
phương pháp mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giảm thiểu
sự tác động của môi trường đến sinh trưởng và phát triển của đàn lợn, không gây ô nhiễm môi trường
Đánh giá năng suất sinh sản và tình hình những bệnh thường gặp ở đàn lợn nái Yorkshire, Landrace nuôi tại Trại Thí nghiệm - Thực hành, nhằm rút ra được những kinh nghiệm thực tế phục vụ phát triển chăn nuôi lợn nái ngoại của địa phương
Phục vụ hoạt động đào tạo, thực hành, thực tập cho học sinh, sinh viên ngành chăn nuôi – thú y và hoạt động nghiên cứu của đội ngũ giảng viên Kết quả của dự án làm cơ sở cho việc định hướng phát triển chăn nuôi lợn theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn và giúp cho người nông dân, gia trại, trang trại có được phương pháp chăn nuôi lợn ngoại theo mô hình khép kín
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, nhằm bổ sung và góp phần làm phong phú hơn cho thực tế, đồng thời góp phần đẩy mạnh công tác chăn nuôi lợn của địa phương, chúng tôi đã tiến hành đăng ký và triển khai thực hiện dự án: Ứng dụng công nghệ tiên tiến để xây dựng chuồng và chăn nuôi lợn theo mô hình khép kín tại Trại Thí nghiệm - Thực hành, Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
Trang 8Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA DỰ ÁN 1.1 Cơ sở lý luận
1 1.1 Tiêu chuẩn kỹ thuật chuồng nuôi lợn theo phương pháp khép kín
Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, chuồng trại có vai trò rất quan trọng, đó là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong chăn nuôi Càng ngày con người càng tạo những điều kiện tốt nhất cho lợn nhằm phát huy tối đa tiềm năng di truyền của chúng Các kiểu chuồng ngày càng phong phú đa dạng cho các loại lợn và cho từng vùng sinh thái Chuồng nuôi là nơi bảo vệ gia súc trước những tác động bất lợi trực tiếp từ môi trường bên ngoài, như mưa gió, nắng nóng của mùa hè và lạnh về mùa đông
Chuồng nuôi lợn khép kín: Là loại chuồng rất tiên tiến, loại chuồng này
được thiết kế nhằm có thể khống chế được điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi Tuy là chuồng kín nhưng vẫn có các cửa kính để lấy ánh sáng, các cửa ra vào cũng như cửa sổ đều được thiết kế rất khít để có thể sử dụng được hệ thống điều hòa không khí Một đầu của chuồng được lắp đặt hệ thống làm mát với các tấm giấy và hệ thống nước lưu thông, đầu kia là các quạt hút gió với công suất 750 W/giờ, với hệ thống như vậy nhiệt độ không khí luôn được duy trì khoảng 25 –
290C
Ưu điểm của hệ thống làm mát là có thể điều chỉnh được nhiệt độ, độ ẩm
và tốc độ gió trong chuồng lợn Kiểu chuồng này cũng hạn chế được sự lây lan mầm bệnh từ chuồng này sang chuồng khác Tuy nhiên, loại chuồng này sẽ rất tốn kém trong xây dựng và khi đưa vào hoạt động
1.1.2 Đặc điểm kỹ thuật của chuồng nuôi lợn theo phương pháp khép kín
Ô chuồng cho nái chờ phối và có chửa
Nái có chửa và nái chờ phối được nhốt trong các ô được ngăn cách nhau bằng các vách ngăn Các ô này thường có kích thước: chiều rộng từ 0,65 – 0,70m, chiều cao từ 1,0 – 1,3m và chiều dài từ 2,2 – 2,4m Khoảng cách giữa
Trang 9các song ngang trên vách ngăn khoảng 15cm, vừa đảm bảo cho các vách ngăn giữa các ô chuồng chắc chắn vừa không cho lợn có thể lấn sang ô khác
Nền chuồng cho loại lợn này có thể dùng các tấm đan bê tông với các khe
để thoát nước, hoặc sàn nhựa hay sàn sắt tròn Sàn tấm đan bê tông bền và rẻ tiền nên được nhiều cơ sở lựa chọn Sàn sắt có hạn chế là dễ bị oxy hóa dẫn đến mau hỏng
Máng ăn chủ yếu dùng máng ăn bằng kim loại gắn ở đầu chuồng với chiều rộng khoảng 35cm, dài 45 – 50cm Loại máng này tốt nhất làm bằng inox hoặc bằng tôn Máng có cần xoay để dễ dàng vệ sinh cũng như có thể xoay ra ngoài khi lợn ăn xong, như vậy có thể tăng được độ bền
Núm uống nước đặt cách sàn ô chuồng khoảng 45cm để lợn uống được dễ dàng
Ô chuồng cho nái đẻ
Ô chuồng nái đẻ rất quan trọng vì nó có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ nuôi sống của lợn con, sự phát triển của lợn con ở giai đoạn cai sữa Thông thường trước khi đẻ một tuần lợn nái sẽ được chuyển đến ô chuồng đẻ và lợn sẽ ở đây cho đến khi cai sữa Chuồng nái đẻ được chia làm 3 ô:
Ô dành cho lợn mẹ có chiều dài từ 2,2 – 2,4m, chiều rộng 0,65 – 0,70m và chiều cao từ 1,0 – 1,3m Thanh chắn ngang ở hai bên sườn phải cách mặt sàn khoảng 40cm để thuận lợi cho lợn con bú nhất là khi bú hàng vú trên Nếu đặt cao quá cũng không tốt vì lợn có thể thoát ra bên ngoài được Hầu hết phần ô chuồng này được thiết kế cố định
Máng ăn, núm uống nước được sắp xếp bố trí tương tự như đối với lợn nái chửa
Ô chuồng dành cho lợn con thường được chia thành hai ô ở hai bên ô lợn
mẹ Tuy nhiên hai ô này có thể có diện tích khác nhau Ô nhỏ có chiều cao khoảng 0,5m, rộng 0,4m, ô này để một núm uống cách mặt sàn 15 – 20cm tiện cho lợn con uống nước
Trong chuồng kín có thể không cần làm ô úm mà dùng tấm sưởi bằng điện hoặc bóng điện tia hồng ngoại công suất 100 đến 200W duy trì nhiệt độ 33 đến 34 0
C sau đó giảm 0,5 đến 10C/tuần cho lợn
Trang 10Trong phần ô của lợn con được đặt một máng tập ăn bằng gang hoặc máng nhựa có thể gài xuống sàn để máng không bị lợn con làm đổ
Ô chuồng cho lợn con sau cai sữa
Lợn ở giữa giai đoạn sau cai sữa nhất là cai sữa sớm thường rất mẫn cảm với sự thay đổi bên ngoài như thay đổi của thời tiết, thay đổi thức ăn Bởi vậy ô chuồng cho lợn con sau cai sữa tốt cũng góp phần làm tăng năng suất và hiệu quả chăn nuôi Lợn con ở giai đoạn này phải được sống ở nơi khô ráo, vệ sinh sạch sẽ, nhiệt độ thích hợp
Chuồng lợn con sau cai sữa có kích thước như sau: chiều dài 2,0 – 2,5m, chiều rộng từ 1,5 – 2,0m và chiều cao từ 0,80 – 0,85m Khoảng cách của các song ngăn giữa các ô chuồng từ 8 – 10cm Không nên để khoảng cách này quá rộng để tránh lợn có thể chui lọt sang các ô khác Ô chuồng cũng không nên quá rộng vì nếu rộng quá sẽ phải ghép nhiều đàn dẫn đến bất ổn định, lợn cắn nhau, ngủ ít nên sinh trưởng kém Sàn chuồng tốt nhất là sàn nhựa
Để tránh ẩm thì sàn chuồng nên đặt cách mặt đất từ 30 – 60cm (sàn nhựa) Máng ăn được sử dụng loại máng ăn tự động Núm uống nước đặt cách mặt sàn 25cm để thuận lợi cho lợn uống
1.1.3 Tổng quan tài liệu khả năng sản xuất của lợn nái giống Landrace và Yorkshire
1.1.3.1 Khái niệm sinh sản của lợn
Sinh sản là quá trình mà ở đó con đực sản sinh ra tinh trùng và con cái sản sinh ra trứng, sau đó tinh trùng và trứng được thụ tinh với nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng, hình thành hợp tử và phát triển thành phôi thai trong tử cung của con cái, cuối cùng đẻ ra một thế hệ mới Khả năng sinh sản được biểu hiện qua các chỉ tiêu như tổng số con sơ sinh sống, tỷ lệ nuôi sống, khả năng tiết sữa, số
con cai sữa…
1.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái
Yếu tố di truyền
Các giống khác nhau thì năng suất sinh sản là khác nhau do nó liên quan đến số trứng rụng trong một lần động dục, số trứng được thụ tinh, số hợp tử tạo
Trang 11thành, số con đẻ ra còn sống, số con đẻ ra chết, tỷ lệ nuôi sống, khối lượng sơ sinh, khối lượng khi cai sữa, kết quả được thể hiện thông qua nghiên cứu của Pfeifer
77,8 66,1
80,5 68,2
Số con đẻ ra trong một lứa (con) Landrace
Edel
10,7 10,8
11,0 10,3
11,0 10,5
Số con đẻ ra còn sống Landrace
Edel
10,1 10,3
10,4 9,9
10,4 10,1 Theo Jiang (1995) [14], gen là nguyên nhân làm biến đổi khối lượng buồng trứng, số lượng nang trứng, số nang trứng chưa thành thục, số lượng nang trứng chín, tỷ lệ trứng rụng và số phôi thai, ở gia súc thuộc các giống khác nhau thì có sự thành thục về tính cũng khác nhau, gia súc có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn gia súc có tầm vóc lớn như ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái…) thành thục về tính sớm hơn thường ở tháng thứ 4, thứ 5 (120 – 150 ngày tuổi so với giống lợn ngoại
Nhìn chung các giống lợn ngoại có tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra trong một lứa, số con đẻ ra còn sống trên lứa thấp hơn các giống lợn nội Nhưng bù lại, các giống lợn ngoại có khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa lớn hơn các giống nội, giá bán ra cao hơn
Thức ăn và dinh dƣỡng
Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng, năng lượng cho tất cả các hoạt động sống của cơ thể Thức ăn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Thông qua việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng con vật sẽ có điều kiện biểu hiện đầy đủ các đặc điểm di truyền vốn có của chúng, thức ăn và dinh dưỡng gồm các yếu tố sau:
Nhu cầu năng lượng
Trang 12Năng lượng là sự biến đổi của thức ăn trải qua một quá trình tiêu hoá ở bên trong cơ thể con vật Năng lượng cần thiết cho mọi cơ thể sống, cho mọi hoạt động trong cơ thể Nếu nguồn năng lượng cung cấp có sự thiếu hụt, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể con vật đặc biệt là gia súc có chửa và nuôi con như: Suy dinh dưỡng, còi cọc, sức đề kháng kém, teo hoặc chết thai… Tuy nhiên, nếu cung cấp quá thừa năng lượng trong thời gian gia súc có chửa dẫn tới hiện tượng chết phôi,
đẻ khó, lợn mẹ sau đẻ sẽ kém ăn, tỷ lệ hao hụt tăng Năng lượng thừa sẽ được dự trữ dưới dạng mỡ, lợn con sẽ bị mắc bệnh đường ruột do hàm lượng mỡ trong sữa
mẹ cao
Vì vậy, cần phải phối hợp cân đối về năng lượng nhằm cung cấp một nguồn năng lượng vừa đủ cho gia súc mang thai, nuôi con, cùng các hoạt động khác
Nhu cầu Protein
Protein là một chất hữu cơ quan trọng trong việc hình thành tế bào, phát triển của cơ thể và tạo sữa Do vậy cần phải cung cấp đầy đủ protein cho gia súc, nếu thiếu lợn nái sẽ chậm động dục, giảm số lượng con đẻ ra/nái/năm, giảm khối lượng
sơ sinh, giảm khả năng tiết sữa của lợn mẹ
Nhu cầu khoáng
Khoáng rất cần thiết với lợn nái, bởi vì lợn nái phải nuôi thai, nuôi phôi, nuôi con, đặc biệt trong giai đoạn mang thai lợn mẹ rất cần cung cấp khoáng chất (Ca, P, Fe, Zn…) để tạo xương phôi thai, tạo máu, cân bằng nội môi… Nguồn khoáng duy nhất mà phôi thai nhận được là từ cơ thể mẹ Vì vậy, việc cung cấp khoáng cho lợn mẹ là cần thiết Người ta chia ra làm hai loại khoáng: Khoáng đa lượng và khoáng vi lượng Khoáng đa lượng bao gồm: Ca, P, NaCl, chúng có tác dụng chủ yếu là tham gia vào quá trình tạo xương và cân bằng nội môi Khoáng vi lượng bao gồm: Fe, Cu, Zn, K và được sử dụng dưới dạng hợp chất: FeSO4, CuSO4, ZnSO4, KI, chúng chủ yếu tham gia vào quá trình tạo máu, cân
bằng nội môi
Nhu cầu Vitamin
Dù chỉ cần một lượng rất nhỏ, song Vitamin lại có ảnh hưởng rất lớn đến chức năng của các cơ quan trong cơ thể
Trang 13Vitamin A: nếu thiếu dẫn đến tình trạng động dục chậm, teo thai, khô niêm mạc, khô mắt, da nổi cục, liệt chân…
Vitamin D: nếu thiếu thường dẫn tới hiện tượng xốp xương, biến dạng xương, lợn con có biểu hiện còi xương do rối loạn chuyển hoá và hấp thu Ca, P
Vitamin B1: nếu thiếu sẽ dẫn tới hiện tượng kém ăn, thần kinh yếu, bại liệt tứ chi, ỉa chảy, chậm lớn
1.1.3 3 Các yếu tố ảnh hưởng khác
Yếu tố khí hậu
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, mùa vụ, nhiệt độ và chế độ chiếu sáng cũng làm ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái Đặc biệt là các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm của chuồng nuôi
Theo Lê Xuân Cương (1986) [3], ở mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức và những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu)
Theo Nguyễn Thiện (2009) [7], cho thấy những lợn cái hậu bị sinh ra vào mùa đông, mùa xuân thì tuổi động dục lần đầu bao giờ cũng sớm hơn những lợn cái hậu bị được sinh ra vào các mùa khác trong năm Ngoài ra sự thành thục về tính dục còn bị chậm lại do nhiệt độ mùa hè cao, hoặc do độ dài ngày bị giảm Nhiệt độ môi trường cao hay thấp sẽ gây trở ngại cho biểu hiện chịu đực, làm giảm mức ăn, tỷ lệ rụng trứng giảm ở những lợn cái hậu bị trong chu kỳ Ngược lại nhiệt độ môi trường quá thấp cũng ảnh hưởng tới quá trình sinh lý sinh dục
Do vậy cần bảo vệ lợn cái hậu bị tránh nhiệt độ cao của môi trường bằng cách
có mái che nắng, làm mát để đề phòng stress
Theo Nguyễn Tấn Anh và cộng sự (1995) [1], tỷ lệ thụ tinh còn phụ thuộc vào mùa vụ phối giống, nếu cho lợn phối giống vào các tháng 6-8 thì tỷ lệ thụ tinh giảm 10% so với phối giống ở tháng 11-12
Trang 14Đối với lợn nái, nhiệt độ thích hợp từ 18 – 21oC Do đó về mùa hè sức sản xuất của lợn nái thấp hơn so với các mùa khác, vì nếu nhiệt độ chuồng nuôi trên
30oC sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ chết phôi và chết thai tăng cao, thai kém phát triển do lợn mẹ ăn ít Mặt khác, nhiệt độ cao sẽ làm kéo dài thời gian đẻ, gây sát nhau, tỷ lệ con bị chết cao, lợn nái không động dục hoặc động dục chậm Còn nếu nhiệt độ quá thấp sẽ làm ảnh hưởng đến giai đoạn nuôi con, lợn con dễ
bị cảm lạnh và dẫn tới tỷ lệ chết cao
Tuổi phối giống lần đầu
Nếu phối giống sớm cơ thể mẹ chưa thành thục về thể vóc, cơ quan sinh sản chưa thật hoàn thiện Do vậy, số con đẻ ra ít, còi cọc và ảnh hưởng tới sự phát triển của lợn mẹ, nếu phối muộn sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế Thông thường người ta bỏ qua lần động dục đầu tiên và phối vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3, vì lần động dục đầu tiên số lượng trứng rụng thường ít và chưa ổn định
Tuổi đẻ lứa đầu, khối lượng con mẹ lúc phối giống và lứa đẻ có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng số con sơ sinh/lứa và khối lượng sơ sinh/lứa (với P<0,01 và P<0,001) (Tạ Thị Bích Duyên, 2003 [5])
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là thời gian từ lúc đẻ trước cho tới lứa đẻ tiếp theo và gồm: Thời gian mang thai + thời gian nuôi con + thời gian chờ phối Trong ba yếu tố đó thì thời gian mang thai là không thay đổi, hai yếu tố còn lại
có thể thay đổi Cai sữa sớm cho lợn con là biện pháp tích cực nhằm làm tăng lứa đẻ/nái/năm Nhiều nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của các giống lợn dao động không đáng kể trong khoảng 113 - 115 ngày, đây là yếu tố ít biến đổi không chịu ảnh hưởng bởi các kích thích bên ngoài cũng như kích thích của thai
Khoảng cách này dài sẽ làm giảm số lứa/nái/năm, khoảng cách ngắn
sẽ tăng số lứa/nái/năm Khoảng cách giữa hai lứa đẻ dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, thời gian cai sữa
Kỹ thuật phối giống và phương thức phối giống
Nếu phối trực tiếp thì phương thức phối giống ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất sinh sản của lợn nái Ngày nay, người ta hay sử dụng các phương thức
Trang 15phối giống sau: phối kép, phối lặp, phối nhiều lần và hỗn hợp tinh dịch cho kết quả thụ thai cao hơn phối đơn Nếu thụ tinh nhân tạo thì ngoài phương thức phối giống, kỹ thuật phối giống cũng ảnh hưởng tới kết quả thụ thai
Chất lƣợng tinh dịch
Nếu xác định được thời điểm phối giống thích hợp và phối cho lợn nái nhưng chất lượng tinh dịch không đảm bảo thì hiệu quả thụ thai không cao và ngược lại
Thời điểm phối giống
Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa Lợn nái động dục kéo dài 48 giờ, trứng rụng vào 8 – 12 giờ trước khi kết thúc chịu đực tức là 37 – 40 giờ sau khi bắt đầu chịu đực
Nguyễn Thiện (1998) [8], đã tổng kết công trình nghiên cứu xác định thời điểm rụng trứng và thụ tinh thích hợp nhất: Phối giống tại các thời điểm: 18, 24, 30,
36, và 42 giờ kể từ khi con vật bắt đầu chịu đực, tỷ lệ thụ thai lần lượt là 80%, 100%, 100%, 80% và 70% và số con đẻ ra tương ứng là: 8,20; 11,80; 10,50; 9,80;
và 7,80 con, và tác giả đã đi đến kết luận: Thời điểm phối giống thích hợp nhất vào lúc 24 - 30 giờ tính từ giờ chịu đực đầu tiên, dao động từ 15-45 giờ
Cho phối sớm quá hoặc muộn quá thì tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ
sẽ giảm, do vậy việc chọn thời điểm phối giống thích hợp là rất quan trọng
Khối lƣợng lợn nái
Theo Phùng Thị Vân và cộng sự (1999) [12], những lợn nái hậu bị giống ngoại có khối lượng cơ thể đạt 130 kg ở 9 tháng tuổi sẽ cho số con sơ sinh /ổ cao nhất và ngược lại những lợn nái có khối lượng cơ thể thấp hơn 130 kg ở 9 tháng tuổi đều có số con sơ sinh thấp hơn
Thời gian cai sữa
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của việc cai sữa sớm cho lợn con đến ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Trần Quốc Việt và cộng sự (1997) [13] đã chỉ ra rằng: cai sữa cho lợn con ở 30- 35 ngày tuổi sẽ làm tăng số lứa đẻ/nái/năm và số con cai sữa/nái/năm so với nhóm cai sữa ở 45 ngày tuổi (từ
Trang 162,45 lứa so với 2,2 lứa và 23,7 - 24,5 con so với 22 con) và rút ngắn được khoảng cách lứa đẻ (149,3 ngày – 153,8 ngày so với 164,1 ngày) Tuy nhiên cai sữa sớm không ảnh hưởng tới thời gian động dục trở lại sau cai sữa (4,85 ngày – 5,3 ngày so với 5,1 ngày)
Lê Thanh Hải (1981) [6], khi cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể đạt 2,5 lứa/nái/năm Như vậy để rút ngắn thời gian cai sữa cho lợn con thì phải tập cho lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi để đến ngày cai sữa lợn con có thể sống bằng thức
ăn được cung cấp và không cần sữa mẹ
Theo Phùng Thị Vân (2000) [11], thời gian cai sữa cho lợn con có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất chăn nuôi, như ảnh hưởng đến hao hụt của lợn mẹ
Do vậy việc cai sữa cho lợn con trong khoảng thời gian từ 3 - 4 tuần tuổi đã trở thành phổ biến ở các cơ sở chăn nuôi
Bệnh lý
Gia súc bị mắc bất cứ bệnh nào cũng ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến năng suất nuôi, số lượng hoặc chất lượng sản phẩm chăn nuôi
Tỷ lệ chết phôi và thai:
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng gây ra như thiếu trầm trọng Vitamin, khoáng
có thể gây ra chết toàn bộ phôi, có thể thấy số phôi chết còn phụ thuộc vào số trứng rụng, tuy nhiên có nhiều ý kiến khác nhau, số phôi chết tăng 1,24%, theo
số trứng rụng tăng lên, và sau 30 ngày có chửa thì tỷ lệ chết thai giảm đi và ước tính cho đến khi đẻ sẽ có khoảng 10% thai bị chết
1.1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của lợn đực giống
Mục tiêu chăn nuôi lợn đực giống nhằm để khai thác tinh dịch và phối cho lợn cái Để đánh giá sức sản xuất của lợn đực giống cần phải căn cứ vào những chỉ tiêu sau
Khả năng sản xuất tinh dịch
Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá khả năng sản xuất tinh dịch của lợn đực giống, tuy nhiên mỗi chỉ tiêu chỉ có một ý nghĩa riêng Sự hiểu biết về những chỉ tiêu này sẽ rất quan trọng để góp phần có thể nhận biết ra được đực giống có sức
Trang 17sản xuất cao, cũng như có kế hoạch khai thác và pha chế tinh dịch phù hợp nhằm đạt được tỷ lệ thụ thai cao
Khi giao phối đực giống phóng ra một dịch thể (tinh dịch) bao gồm 2 phần: phần lỏng là tinh thanh (nước tinh) và phần còn lại là tinh trùng Tinh trùng có thể quan sát được dưới kính hiển vi và có thể phân biệt được các bộ phận như đầu, cổ, thân và đuôi của tinh trùng Tinh trùng có chiều dài từ 37,3 –
62, 3 µ trong đó phần đầu khoảng 7,2 – 10,2 µ Tinh trùng có 25 % vật chất khô với 50% là protein, 13,2% lipit và 1,8 % khoáng Tinh trùng có khả năng vận động nhờ vào sự vận động của phần đuôi Bởi vậy nếu có sự bất thường của phần này sẽ cản trở việc thụ tinh Vận động của tinh trùng phụ thuộc rất lớn các điều kiện như nhiệt độ, thời gian bảo quản, độ axit của môi trường
Thành phần của tinh dịch rất phức tạp bao gồm các chất do tinh hoàn, tinh hoàn phụ và toàn bộ các tuyến sinh dục phụ tiết ra với số lượng khác nhau Do thành phần khác nhau nên người ta chia ra làm 2 loại: tinh dịch tinh hoàn phụ và tinh dịch phóng ra
Thể tích tinh dịch (V)
Sau khi khai thác tinh dịch xong ta phải tiến hành lọc phần keo nhầy trong tinh dịch và lượng còn lại chính là thể tích tinh dịch Phần thể tích tinh dịch đã lọc chiếm khoảng 75 – 90% tổng lượng tinh dịch xuất ra Cần phải loại bỏ ngay phần chất keo nhày sau khi khai thác nếu không số lượng tinh trùng sẽ bị giảm
đi rất nhanh do nó bị các chất này hấp phụ Việc lọc chất keo này rất đơn giản chỉ cần dùng vải sạch đã khử trùng gấp làm 4 – 5 lớp là lọc được
Thể tích tinh dịch thường được tính bằng ml Đối với lợn nội trưởng thành mỗi lần khai thác có thể đạt 50 – 100ml, trong khi đó lợn ngoại có số lượng thường lớn hơn rất nhiều từ 150 – 350 ml và thậm chí có thể đạt đến 500 ml Tuy nhiên lượng tinh dịch cũng phụ thuộc rất nhiều yếu tố như giống, tuổi, thức
ăn, mùa trong năm
Nồng độ tinh trùng trong tinh dịch (C)
Là một chỉ tiêu rất quan trọng trong đánh giá sức sản xuất của lợn đực giống, nồng độ tinh trùng sẽ cho phép biết được mức độ pha loãng trong thụ tinh
Trang 18nhân tạo Cũng giống như thể tích tinh dịch, nồng độ tinh trùng cũng rất khác nhau giữa các giống lợn Nồng độ tinh trùng được đo bằng triệu tinh trùng trong
1 ml tinh dịch Đối với lợn nội trưởng thành thì chỉ tiêu này nằm trong khoảng
80 – 100 triệu/ml, trong khi đó lợn ngoại thường đạt từ 150 – 200 triệu/ml Theo tiêu chuẩn nhà nước TCVN 1859/76 ban hành năm 1976 thì chất lượng tinh dịch lợn đạt yêu cầu sử dụng đối với lợn ngoại phải có nồng độ từ 80 triệu/ ml trở lên (Nguyễn thiện, 1998) [8]
Chỉ tiêu này có thể đo bằng nhiều phương pháp, nhưng phương pháp đơn giản nhất là dùng buồng đếm hồng cầu Hiện nay ở những cơ sở thụ tinh nhân tạo hiện đại người ta thường dùng máy tự động để kiểm tra và xác định nồng độ tinh dịch Tuy nhiên phương pháp dùng buồng đếm hồng cầu rất phổ thông và
có độ chính xác tương đối cao
Sức hoạt động tiến thẳng của tinh trùng (A %)
Sức hoạt động tiến thẳng của tinh trùng thường được gọi là hoạt lực tinh trùng và được ký hiệu là chữ A Sức hoạt động của tinh trùng được tính bằng tỷ
lệ phần trăm tinh trùng tiến thẳng so với tổng số tinh trùng quan sát Chỉ có những tinh trùng tiến thẳng mới có khả năng thụ thai
Thông thường tinh dịch lợn nội thì hoạt lực tinh trùng khoảng 0,7 – 0,8 còn của lợn ngoại chỉ tiêu này đạt khoảng 0,8 – 1,0 Hoạt lực tinh trùng thấp sẽ dẫn đến số tinh trùng có thể thụ thai giảm Trong thụ tinh nhân tạo mức quy định với chỉ tiêu này là 0,7 Tuy nhiên trong phối giống trực tiếp thì A thấp ở mức 0,4 – 0,5 vẫn có thể sử dụng được
Khi kiểm tra chỉ tiêu này cần để tiêu bản đã được sởi ấm khoảng 38 – 40 0
C để tăng độ chính xác Đây chính là tạo điều kiện tương tự trong vùng âm đạo
- tử cung con cái
Sức kháng của tinh trùng (R)
Sức kháng của tinh trùng thể hiện sức đề kháng của tinh trùng với dung dịch muối đẳng trương NaCl 1% Tức là lượng dung dịch NaCl cần thiết để pha loãng một đơn vị thể tích cho đến khi các tinh trùng ngừng tiến thẳng Nếu tinh
Trang 19trùng càng chịu được mức độ pha loãng càng lớn chứng tỏ sức đề kháng của tinh
trùng càng cao và như vậy tinh trùng càng tốt và ngược lại
Tính sức kháng của tinh trùng có thể dùng công thức sau;
V
R =
v
Trong đó :
V: là thể tích của dung dịch NaCl 1% đã sử dụng để pha chế
v: là thể tích tinh dịch dùng kiểm tra
Cũng tương tự như các chỉ tiêu khác, sức kháng của tinh trùng lợn nội cũng thấp hơn rất nhiều so với lợn ngoại Lợn nội chỉ tiêu này khoảng 1500 trong khi đó ở lợn ngoại đạt tới 3000 Theo TCVN 1859/76 thì đối với lợn ngoại nhập nội R ≥ 3000
Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K)
Tinh trùng kỳ hình là những tinh trùng có hình dạng khác thường so với những tinh trùng bình thường Đó là những tinh trùng bị cụt đuôi, sứt đầu những tinh trùng này không có khả năng thụ thai
Để đánh giá được chỉ tiêu này người ta phải tiến hành nhuộm màu tinh trùng bằng một số loại thuốc nhuộm như xanh metylen, giemsa,
Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình ở tinh dịch lợn thường tử 5 – 10 % Chỉ tiêu này lớn thể hiện chất lượng tinh dịch hạn chế Theo Nguyễn Thiện (1988) [8] tỷ lệ tinh trùng kỳ hình ở lợn ngoại là 4,6 %
Chỉ tiêu tổng hợp (VAC)
Để có thể đánh giá một cách tổng hợp về sức sản xuất của lợn đực cũng như quyết định được số liều tinh có thể pha được trong thụ tinh nhân tạo thì cần phải tính đến chỉ tiêu tổng hợp VAC (tổng số tinh trùng tiến thẳng trong tinh dịch) Chỉ tiêu này thường được đo bằng tỷ tinh trùng Việc tính toán chỉ tiêu này rất đơn giản sau khi đã có các chỉ tiêu về thể tích, hoạt lực và nồng độ
Trang 20Do các chỉ tiêu thể tích (V), nồng độ (C) và hoạt lực (A) của lợn nội đều thấp hơn lợn ngoại nên chỉ tiêu VAC càng khác nhau, đối với lợn nội đạt 5 – 8
tỷ, còn lợn ngoại đạt 28 – 35 tỷ mỗi lần khai thác
1.1.5 Một số nhân tố ảnh hưởng đến sức sản xuất của lợn đực giống
Có rất nhiều nhân tố làm ảnh hưởng sức sản xuất của lợn đực giống Tuy nhiên chúng ta chỉ đề cập tới những nhân tố quan trọng nhất như giống, chế độ nuôi dưỡng, tuổi và mùa vụ
Giống: Như đã đề cập ở trên giống là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới phẩm chất tinh dịch đó là thể tích và nồng độ tinh trùng Thể tích tinh dịch
lợn ngoại biến động từ 150 – 350 ml, nồng độ tinh trùng giống lợn ngoại từ 150 – 200 triệu/ml Từ đó cho ta thấy tổng số tinh trùng một lần xuất của lợn ngoại
từ 16 – 90 tỷ, lợn nội chỉ tiêu này chỉ đạt 2,5 – 10 tỷ Như vậy chỉ tiêu này ở lợn ngoại cao gấp 7 đến 10 lần so với lợn nội Nguyên nhân là do phẩm chất giống chứ không phải do khối lượng cơ thể đực giống Ở lợn nội cứ trung bình 1kg khối lượng cơ thể có thể tạo ra được 100 – 300 triệu tinh trùng, trong khi đó chỉ tiêu này ở lợn ngoại là 200 – 400 triệu (Vũ Đình Tôn, giáo trình chăn nuôi lợn
nhà xuất bản Nông Nghiệp, 2009) [9]
Ảnh hưởng của chế độ nuôi dưỡng đến tuổi thành thục về tính của lợn đực giống
Thông thường lợn đực ngoại sẽ thành thục trong giai đoạn 5 – 8 tháng tuổi, khi đó khối lượng cơ thể đạt từ 80 – 120 kg và thời gian thành thục về tính chịu ảnh hưởng của tuổi nhiều hơn là khối lượng cơ thể
Mức năng lượng có thể làm ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính của lợn đực Nếu lợn đực được nuôi với mức năng lượng 50% ; 70% ; và 100% theo tiêu chuẩn đề ra của NRC (National Rearch Council) thì tuổi thành thục của những con được nuôi với mức 100% theo tiêu chuẩn này là 203 ngày trong khi đó là
212 ngày với những con đực nuôi với mức 50% Tuổi khai thác tinh lần đầu cũng thay đổi khi cho lợn đực ăn khẩu phần có tỷ lệ protein khác nhau Nếu đực giống chỉ được ăn khẩu phần chứa 120g protein /kg thức ăn thì tuổi khai thác lần đầu là 193 ngày, trong khi đó những con đực ăn 180g hay 230g protein thô/kg
Trang 21thức ăn sẽ được khai thác lần đầu lúc 177 ngày và 182 ngày Như vậy chế độ nuôi dưỡng lợn đực giống ở thời kỳ sinh trưởng có thể vừa ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính và cả sự phát triển về tính dục
Ảnh hưởng của chế độ nuôi dưỡng đến tính năng sản xuất của đực giống
Tính năng sản xuất của đực giống được đánh giá qua 3 chỉ tiêu: Tính hăng; Khả năng sản xuất tinh; khả năng sống và thụ thai của tinh trùng
Tính hăng : Tính hăng của con đực thường được xác định là tỷ lệ số lần
nhảy thành công của con đực Hiện tại vẫn có tương đối ít các công trình nghiên cứu về tính hăng của con đực, có nghiên cứu cho rằng không có ảnh hưởng nào của chế độ nuôi dưỡng đến tính hăng của con đực (Vũ Đình Tôn, Giáo trình
Chăn nuôi lợn, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 2009) [9]
Khả năng sản xuất tinh dịch : Mức dinh dưỡng cung cấp cho lợn đực
giống có ảnh hưởng đến lượng tinh dịch sản xuất ra Kết quả thí nghiệm chỉ ra rằng khi cho lợn đực giống ăn mức 50, 70 và 100% nhu cầu theo đề nghị của NRC thì thấy có ảnh hưởng rõ rệt lượng tinh dịch sản xuất ra Nhưng nồng độ tinh dịch và tỷ lệ tinh trùng hoạt động lại không thấy có ảnh hưởng rõ rệt (Vũ
Đình Tôn, Giáo trình Chăn nuôi lợn, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 2009) [9]
Khả năng sống và thụ thai của tinh trùng
Về ảnh hưởng của các mức protein và các axit amin trong khẩu phần đến chất lượng tinh dịch hiện tại vẫn chưa có sự khác nhau rõ ràng từ một số các nghiên cứu Theo các tác giả tỷ lệ tinh trùng kỳ hình bị giảm đi khi khẩu phần lợn đực giống được bổ sung lyzin hay lyzin + methionin Trái lại có nhóm tác giả lại cho rằng khi bổ sung axit amin vào khẩu phần lợn đực giống không có tác dụng gì đến chất lượng tinh dịch (Vũ Đình Tôn, Giáo trình Chăn nuôi lợn, Nhà
xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 2009) [9]
Tuổi lợn đực giống : Lợn đực giống ở các lứa tuổi khác nhau cho sức sản
xuất tinh dịch khác nhau Ở lứa tuổi còn non (khi mới thành thục sinh dục) lượng tinh dịch xuất 1 lần cũng như mật độ tinh trùng trong tinh dịch thấp
Trang 22Lợn đực ngoại lúc 8 tháng tuổi thế tích tinh dịch là 70 – 80ml, nồng độ tinh trùng trong tinh dịch là 180 – 200 triệu/ml, tỷ lệ kỳ hình 5 – 10% Trong khi
đó ở giai đoạn trưởng thành thì thể tích tinh dịch đạt 150 – 300ml và nồng độ tinh trùng là 200 – 300 triệu/ml
Lợn đực già hoạt động sinh dục kém, mất phản xạ sinh dục và phẩm chất tinh dịch kém, tinh hoàn bị nhỏ lại, quá tình tạo tinh bị chậm trễ, con vật không muốn giao phối
Các yếu tố môi trường : Thời tiết, khí hậu và các yếu tố nhiệt độ, ánh
sáng có ảnh hưởng tới phẩm chất tinh dịch
Thông thường những tháng trong mùa nóng phẩm chất tinh dịch kém hơn những tháng khí hậu mát mẻ Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tấn Anh trên lợn đực Landrace tại Hà Nội như sau :
Số lượng tinh trùng(Tỉ/lần) 55,4 – 39,1 – 40,7 27,3 – 28,7 16,2 – 20,6 Theo Nguyễn Thiện, (2009) [7] vào vụ đông xuân nồng độ tinh trùng của lợn đực đạt 200 – 300 triệu/ml, nhưng vào mùa hè nồng độ tinh trùng chỉ đạt
150 – 200 triệu/ml
Ngoài ra môi trường nuôi dưỡng lợn đực giống còn làm ảnh hưởng đến tỷ
lệ thụ thai của con cái và tỷ lệ phôi chết, những con đực được nuôi trong điều
kiện môi trường bị stress nhiệt sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai và tăng số phôi chết
Bảng 2 Ảnh hưởng của stress nhiệt ở con đực đến tỷ lệ thụ thai
Điều kiện nuôi
Số con đực
Số con cái hậu bị
Cái hậu bị có chửa sau phối giống 30 ± 3 ngày
Trang 23Ngoài ra còn một số yếu tố khác làm ảnh hưởng đến hoạt động sinh dục của lợn đực giống, nếu lợn đực giống non được nuôi cạnh lợn cái cũng sẽ được kích thích hoạt động sinh dục hơn (Vũ Đình Tôn, giáo trình Chăn nuôi lợn Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 2009) [9]
Căn cứ Quyết định số 2489/QĐ-BNN-CN ngày 16 tháng 9 năm 2010 của
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành các định mức kỹ thuật lĩnh vực chăn nuôi;
Căn cứ Quyết định 583/QĐ-UBND ngày 04 tháng 7 năm 2012 của UBND tỉnh Điện Biên phê duyệt Đề án phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Điện Biên đến năm 2015;
Căn cứ Quyết định số 651/QĐ-UBND ngày 31 tháng 5 năm 2010 của UBND tỉnh Điện Biên về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên giai đoạn 2010-2015, định hướng đến năm 2020;
Căn cứ Quyết định số 1158/QĐ-UBND ngày 13 tháng 12 năm 2012 của UBND tỉnh Điện Biên về việc giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
và vốn đầu tư phát triển thuộc Ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý năm
2013, tỉnh Điện Biên
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Lợn nái sinh sản giống Yorkshire, Landrace với lợn đực Yorkshire và
Duroc được nuôi tại Trại Thí nghiệm - Thực hành, Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ
thuật Điện Biên
Trang 241.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Tổ chức chăn nuôi lợn nái sinh sản theo mô hình khép kín
Phạm vi về không gian: Tại Trại Thí nghiệm - Thực hành
Phạm vi về thời gian: 24 tháng (từ 30 tháng 8 năm 2013 đến 30 tháng 8 năm 2015)
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu
Điều tra trực tiếp qua sổ sách ghi chép, theo dõi
Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu như: Khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, tỷ lệ đẻ ra còn sống, tỷ lệ nuôi sống…
Xử lý số liệu thu được bằng phương pháp thống kê sinh vật học trong chăn nuôi trên máy vi tính theo chương trình Microsoft Excel
Các tham số thống kê được tính toán bao gồm: Số mẫu (n); số trung bình (x); sai số chuẩn (SE); hệ số biến động (Cv %)
Số con sơ sinh/ổ
Là số con do nái mẹ đẻ ra thực tế đếm được sau khi kết thúc đẻ kể cả số con chết
Đây là chỉ tiêu rất quan trọng, nó phản ánh khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống, đồng thời phản ánh chất lượng tinh dịch, kỹ thuật thụ tinh của kỹ thuật viên và kỹ thuật chăm sóc lợn nái chửa
Sơ sinh sống/ổ (con)
Là số lợn con đẻ ra còn sống đến 24h kể từ khi lợn nái đẻ xong con cuối cùng của từng lứa đẻ
Xác định thông qua việc đếm số lượng thực tế
Tỷ lệ sống (%)
Số con sơ sinh sống đến 24 h
Tỷ lệ sống = x 100
Số con đẻ ra sống
Khối lượng sơ sinh/con (kg)
Là khối lượng lợn con được cân ngay sau khi đẻ ra và chưa cho bú sữa đầu, thường lợn con sau khi đẻ ra được cắt rốn và lau khô rồi cân luôn
Trang 25Khối lượng sơ sinh toàn ổ phản ánh khả năng nuôi dưỡng thai của mẹ, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai Việc cân khối lượng sơ sinh lợn con là cần thiết để có kế hoạch chăm sóc cũng như chọn lọc sau này
Xác định khối lượng lợn con bằng cân điện tử, độ chính xác đến ± 0,1 kg
Khối lƣợng sơ sinh/ổ (kg)
Là khối lượng tất cả số lợn con sinh ra còn sống/ổ, tính bằng kilogam được cân ngay sau khi đẻ xong
Xác định khối lượng lợn con bằng cân điện tử, độ chính xác đến ± 0,1 kg
Số con cai sữa/ổ (con)
Là số lợn con còn sống tính đến thời điểm cai sữa
Xác định thông qua việc kiểm đếm thực tế
Khối lƣợng cai sữa/con (kg)
Là khối lượng trung bình được tính trên khối lượng toàn đàn với số lợn con còn sống đến thời điểm cai sữa của một lứa đẻ
Là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ và kỹ thuật sử dụng thức
ăn cho lợn con Khối lượng cai sữa được cân vào ngày cai sữa trước khi cho ăn
Xác định khối lượng lợn cai sữa bằng cân điện tử, độ chính xác đến ± 0,1 kg
Khối lượng lợn con toàn đàn khi cai sữa Khối lượng cai sữa/con =
Số con cai sữa
Khối lƣợng cai sữa/ổ (kg)
Là tổng khối lượng của tất cả lợn con tại thời điểm cai sữa của một lứa đẻ, tính bằng kilogam
Xác định khối lượng lợn con bằng cân điện tử, độ chính xác đến ± 0,1 kg
Tỷ lệ nuôi sống cai sữa (%)
Là tỷ lệ lợn con còn sống cho đến khi cai sữa so với số con sơ sinh để nuôi
Số con sống đến cai sữa
Tỷ lệ nuôi sống cai sữa = x 100
Số con để lại nuôi
Thời gian cai sữa (ngày)
Là số ngày được tính từ ngày đẻ đến khi ngừng cho lợn con bú sữa mẹ
Trang 26Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHỆ
2.1 Mô tả công nghệ, sơ đồ công nghệ của Dự án
2.1.1 Mô tả công nghệ: Công nghệ của dự án: Là phương pháp chăn nuôi
lợn tập trung khép kín, được áp dụng theo quy trình công nghệ của Thái Lan và
đã được áp dụng thành công tại các Công ty và các tỉnh trong cả nước như Công
ty Trách nhiệm hữu hạn chăn nuôi lợn CP, trang trại Mitraco ở Hà Tĩnh Mô hình kinh tế trang trại tại tỉnh Bắc Ninh v.v Lợn được nuôi trong các ô chuồng trong nhà kín, hệ thống gió và nước được xử lý hiện đại Đàn lợn sử dụng hệ thống máng ăn, uống tự động, lượng nước thải chăn nuôi được đưa về hệ thống Biogas sau một thời gian lắng đọng rồi mới được thải ra môi trường
2.1.2 Sơ đồ công nghệ
Chuồng nuôi lợn là kiểu “chuồng kín” có tổng diện tích 212m2, kích thước 26,5m x 8,0m được xây dựng theo 2 dãy, tường gạch quét vôi trắng, vữa xây xi măng cát Khung mái bằng thép hộp, mái lợp tôn 0,4 cm, dầm trần bằng thép hộp, trần bắn tôn
Hệ thống cửa ra vào 4 (2 cửa trước, 2 cửa sau), cửa sổ 12 (6 cửa trước, 6 cửa sau) Nền láng bê tông mác 200, trong nền có 2 rãnh dẫn thoát nước thải chạy dọc chuồng ra đường ống dẫn đến bể Biogas
Tiêu chuẩn định mức diện tích cho mỗi loại lợn như sau: (diện tích xây dựng = định mức x 1,3)
Lợn đực làm việc: Định mức 4,5 – 5,0 m2
/con Lợn nái chửa: Định mức 1,5 – 2,0 m2
/con Lợn nái nuôi con: Định mức 3,8 – 4,2 m2
/con (bao gồm cả diện tích chuồng lợn con ở 2 bên ô chuồng)
Lợn con sau cai sữa: Định mức 0,24 – 0,31 m2
/con
Trang thiết bị chuồng nuôi lợn gồm thiết bị chủ yếu sau:
17 bộ khung chuồng nái chửa mạ kẽm phi 27,21 kích thước 0,65m x 2,2m
01 bộ khung chuồng chờ phối mạ kẽm phi 27,21 kích thước 3m x 2,2m
Trang 2703 khung chuồng đực giống mạ kẽm phi 27,21 kích thước 2,4m x 2,2m
01 khung chuồng khai thác tinh mạ kẽm phi 27,21 kích thước 2,0m x 2,2m
06 khung chuồng nái đẻ mạ kẽm phi 32,27,21 kích thước 1,83m x 2,2m
Hệ thống nước uống: 80 ống nhựa PVC, 35 đoạn nối ống
54 tấm đan bê tông đúc công nghiệp kích thước 1,2m x 0,5m x 0,15m
03 quạt công nghiệp 36inch, 750W, kích thước 1,1m x 1,1m
Một số hình ảnh về hệ thống chuồng chăn nuôi lợn khép kín
Hình 2.1 Toàn cảnh bên ngoài chuồng chăn nuôi lợn
Hình 2.2 Hệ thống khung chuồng và đàn lợn nái sinh sản
Trang 28Hình 2.3 Khung chuồng cai sữa Hình 2.4 Khung chuồng nái đẻ
Hình 2.5 Khung chuồng nái chửa Hình 2.6 Khung chuồng khai thác tinh
Hình 2.7 Khung chuồng đực giống
(chi tiết về sơ đồ bố trí chuồng chăn nuôi lợn kèm theo phụ lục 01)
Trang 292.2 Phân tích những vấn đề mà Dự án đã giải quyết về công nghệ
Dự án Ứng dụng công nghệ tiên tiến để xây dựng chuồng và chăn nuôi lợn
khép kín sẽ đáp ứng được các yêu cầu công nghệ, đó là:
Xây dựng được kiểu chuồng chăn nuôi bố trí theo hình thức chu chuyển liên
hoàn khép kín để nuôi chung cả lợn nái chửa, nái nuôi con, nái chờ phối, lợn con
cai sữa và lợn đực giống
Với kiểu chuồng này giúp cho lợn ít chịu tác động ảnh hưởng các yếu tố bên
ngoài như nhiệt độ, ẩm độ, gió, tiểng ồn Tăng khả năng sinh sản cho lợn mẹ,
sinh trưởng cho lợn con và giảm tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh
Các chất thải chăn nuôi được xử lý kín bằng hệ thống bể Biogas, môi trường
chuồng trại và xung quanh được đảm bảo vệ sinh không gây ô nhiễm
Quy trình sản xuất thử nghiệm nhằm củng cố và làm chủ công nghệ tiên tiến,
gắn giải quyết có hiệu quả giữa nội dung giảng dạy lý thuyết và thực hành, cải
tiến nội dung đào tạo ngành chăn nuôi – thú y của nhà trường góp phần tạo ra sản
phẩm đào tạo có chất lượng cao
2.3 Các bước công việc đã thực hiện trong thời gian triển khai dự án
TT Các nội dung công
cụ theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật
Quý IV,
2013
Công ty cổ phần giống
và thiết bị nông nghiệp Miền Bắc
Trang 304 Đào tạo tập huấn
kỹ thuật
Tập huấn kỹ thuật cho
02 kỹ thuật viên và 02 công nhân
Quý IV,
2013
Công ty cổ phần giống
và thiết bị nông nghiệp Miền Bắc
Trong đó có từ 80 đến
100 con lợn cái hậu bị giống đạt tiêu chuẩn cấp bố mẹ và lợn đực giống hậu bị
- Tạo mô hình thực hành thực tập cho hơn
1000 lượt học sinh – sinh viên ngành chăn nuôi, thú y
Tháng 12/2013 đến 8/2015
Cán bộ và công nhân được phân công thực hiện
7 Đánh giá nghiệm
thu kết quả thực
hiện dự án
Hội đồng khoa học trường nhất trí đề nghị Hội đồng khoa học tỉnh nghiệm thu dự án
9/ 2015 Hội đồng
Khoa học nhà trường
2.4 Năng lực triển khai dự án
2.4.1 Năng lực của trường
Bằng kinh nghiệm quản lý, đội ngũ cán bộ kỹ thuật và năng lực tài chính của nhà trường kết hợp với nguồn vốn Ngân sách sự nghiệp công nghệ của tỉnh hỗ trợ Trường đã cam kết bố trí địa điểm, tạo điều kiện cơ sở vật chất, đóng góp vốn và nhân lực để thực hiện dự án theo các nội dung đã được phê duyệt, về sản
Trang 31phẩm của Dự án tổ chức thành công trước mắt sẽ cung cấp cho thị trường nội địa và hướng tới thị trường bên ngoài
Hiện trạng cơ sở vật chất: Tổng diện tích tự nhiên là: 4,61 ha, trong đó:
Đất lúa 2 vụ: 2,61 ha bao gồm mô hình sản xuất lúa giống
Đất bãi màu: 01 ha bao gồm các mô hình cây công nghiệp ngắn ngày, mô hình chuyên canh cây công nghiệp dài ngày, mô hình chuyên canh cây ăn quả Đất xây dựng: 01 ha (bao gồm nhà làm việc, phòng học, phòng thí nghiệm, nhà kho và chuồng nuôi gia súc, gia cầm với các mô hình chăn nuôi lợn sinh sản, ngan, gà sinh sản, thỏ phục vụ đào tạo có tổng diện tích 841 m2
xây dựng)
Chức năng và nhiệm vụ chính của nhà trường là:
Đào tạo cán bộ khoa học có trình độ Cao đẳng và các trình độ thấp hơn trong lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, văn hóa – xã hội phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương
Tiến hành các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, lĩnh vực quản lý và đào tạo
Chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp
và nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển kink tế - xã hội của địa phương
2.4.2 Năng lực của Công ty cổ phần giống và thiết bị nông nghiệp Miền Bắc
Sản xuất: Lợn giống, khung lồng chuồng trại xuất bán cho các trang trại chăn nuôi lợn sinh sản, lợn thịt, dụng cụ chăn nuôi
Sản xuất chế biến, kinh doanh xuất nhập khẩu nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi, thuốc sát trùng, hoá chất phục vụ chuyên ngành nông nghiệp
Kinh doanh: Trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi gia súc, gia cầm, thụ tinh nhân tạo lợn, bò và các sản phẩm liên quan đến công nghệ sinh học, xử lý môi trường, hệ thống trang thiết bị phục vụ chăn nuôi, trồng trọt
Cung ứng thuốc thú y, thuốc kích thích sinh trưởng, công nghệ sinh học
Tư vấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, viết tài liệu nghiên cứu khoa học
2.5 Địa điểm thực hiện Dự án: Trại thí nghiệm - Thực hành là cơ sở 2 của
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên nằm ở phía bắc Thành phố Điện Biên phủ, tại địa chỉ Phố 10, Phường Thanh Trường
Trang 322.6 Trang thiết bị chủ yếu đảm bảo cho triển khai dự án
Xây dựng chuồng lợn là kiểu “chuồng kín” có tổng diện tích 212m2 bên trong bố trí 02 dãy Xây dựng các công trình phục trợ: Nhà thay đồ cho cán bộ, nhân viên: 37,5m2, nâng cấp và cải tạo hệ thống điện, nước hiện có
Lắp đặt thiết bị theo tiêu chuẩn quy định gồm các loại khung chuồng chờ phối, nái chửa, nái đẻ, khung chuồng chuồng cai sữa lợn con, khung chuồng đực giống và phối giống, máng ăn, máy rửa chuồng, cân, hệ thống làm mát, hệ thống dẫn nước uống tự động và hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi…
18 nái ngoại giống Yorkshire, Landrace với 02 lợn đực Yorkshire và Duroc
2.7 Nguyên vật liệu thực hiện dự án
Nguyên vật liệu chủ yếu gồm: Thức ăn hỗn hợp mác H15, BaBi và mác 801, vác xin và thuốc phòng, chữa bệnh, điện, nước máy
2.8 Số cán bộ KHCN và công nhân lành nghề tham gia thực hiện Dự án
Số cán bộ khoa học công nghệ và công nhân lành nghề tham gia thực hiện
Dự án: 03 người
Kế hoạch tổ chức nhân lực tham gia Dự án: Cán bộ khoa học công nghệ và công nhân thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn hàng ngày từ khi nhập giống
và diễn ra trong suốt thời gian tổ chức thực hiện Dự án
Nhu cầu đào tạo phục vụ Dự án: Số lượng cán bộ, kỹ thuật viên 02 người, công nhân 02 người
2.9 Đánh giá tác động môi trường do việc triển khai dự án và giải pháp khắc phục
Tất cả các chất thải rắn của lợn trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng được thu gom đưa ra bể chứa bón cho cây trồng, phần còn lại được rửa sạch theo hệ thống rãnh thoát nước trong chuồng đến bể Biogas
Chăn nuôi công nghiệp với công nghệ tiên tiến, ứng dụng công nghệ xử lý chất thải bằng bể Biogas đảm bảo không gây ô nhiễm trong khu vực và môi trường xung quanh tạo môi trường sạch